TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ QTKD
BÀI TIỂU LUẬN
THỰC TRẠNG LÃI SUẤT TÁC ĐỘNG
ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY.
Nhóm thực hiện : Nhóm 2
Thành viên thực hiện :
Phạm Thị Diệu Ánh.
Nguyễn Thị Ngọc Bích.
Cao Tiến Dũng.
Nông Thị Hân.
Nguyễn Ngọc Hoa.
Vũ Thị Hường.
Đoàn Kim Ngân.
Nguyễn Thị Mai Phương.
Quyền Thị Lan Phương.
Lê Thị Hồng Vân.
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Nguyễn
Thị Yến.
năm 2013
1
CHƯƠNG 1 : LÃI SUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NƯỚC TA
GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY
1.1. Một số nét cơ bản về cơ chế điều hành lãi suất
Trong cơ chế điều hành lãi suất, Ngân hàng nhà nước có thể sử dụng các biện pháp mang tính
hành chính như quy định trực tiếp các mức lãi suất huy động và cho vay, quy định lãi suất
trần-sàn, quy định mức chênh lệch lãi suất, quy định lãi suất cơ bản cộng biên độ khống chế
hoặc các công cụ mang tính kinh tế tác động đến cung–cầu vốn trên thị trường tiền tệ để định
hướng lãi suất thị trường biến động phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ.
Từ những năm cuối thập kỉ 80–đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, Việt Nam đã bắt đầu “cuộc thử
để lại những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế. Xét trên khía cạnh tài chính, giai đoạn này hệ
thống tài chính không phát triển do chưa nhìn nhận được vai trò của chính sách lãi suất theo
tín hiệu thị trường dẫn đến nền kinh tế đã trì trệ lại càng trì trệ hơn. Nhận thấy tình hình trên,
Đại hội Đảng VI tháng 12-1986 quyết định đổi mới nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị
trường, trong đó đổi mới quản lý đối với hoạt động Ngân hàng.
Nhìn chung, hoạt động của Ngân hàng vẫn nằm trong sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước về
cung cấp tín dụng cho tổ chức kinh tế Quốc doanh và hợp tác xã. Tuy nhiên, với nhiệm vụ cấp
phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản thuộc Ngân sách cho vay với các dự án, cho vay với mức
lãi suất do Nhà nước quản lý chặt chẽ đã có tác động tới việc nâng cao trách nhiệm cho các
ngành trong việc sử dụng nguồn vốn có hiệu quả.
Cũng trong giai đoạn này, lạm phát rất cao. Đỉnh điểm là năm 1986, chỉ số lạm phát lên tới
774,7%, sản xuất đình trệ nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng, đời sống nhân dân hết
sức khó khăn. Việc tăng lãi suất không đáng kể với mức lạm phát quá cao lúc bấy giờ. Thời kỳ
lãi suất thực âm kéo dài tự 1986 đến 1989, có thể nói trước 1989 do chưa áp dụng triệt để
chính sách lãi suất theo cơ chế thị trường, cùng với mức lạm phát phi mã khiến cho lãi suất
thực tế ở mức âm.
Trước tình hình trên, đến năm 1988, cùng với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế, hệ thống
Ngân hàng Việt Nam bắt đầu chuyển đổi từ hệ thống Ngân hàng 1 cấp sang hệ thống Ngân
hàng 2 cấp bao gồm có 4 Ngân hàng quốc doanh. Lãi suất tiền gửi và cho vay của các Ngân
hàng do Ngân hàng nhà nước quy định, mức lãi suất được áp dụng khác nhau tùy theo đối
tượng. Bên cạnh đó, Chính phủ áp dụng chính sách lãi suất mới nâng dần mức lãi suất lên theo
3
kịp chỉ số lạm phát, đối phó với tình hình lạm phát cao lúc bấy giờ. Tuy nhiên, mức lãi suất
huy động thực tế vẫn âm, thể hiện năm 1982, lãi suất huy động là 1,5%/năm kỳ hạn 3 tháng
với mức lạm phát 7,95%/năm dẫn đến lãi suất thực âm 5,45%/năm.
1.2.2.Đánh giá những tác động của chính sách lãi suất đến nền kinh tế
Trong giai đoạn đầu đổi mới, nền kinh tế nhìn chung đang trong giai đoạn khủng hoảng, sản
xuất còn trì trệ, đời sống nhân dân còn khó khăn.
Xét trên khía cạnh chính sách tiền tệ nói chung và chính sách lãi suất nói chung cũng có những
bước đổi mới lớn. Nhìn chung, trong giai đoạn này, Chính phủ duy trì chính sách lãi suất cố
lãi suất thị trường tiền tệ quốc tế và cung - cầu vốn ngoại tệ trong nước.
Từ thág 6/1992 đến cuối năm 1993, NHNN đã 5 lần điều chỉnh giảm lãi suất cho phù
hợp với chỉ số lạm phát và hiệu quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Lãi suất cho vay tối
đa bằng ngoại tệ được điều chỉnh tăng từ 6,5%/năm lên 7,5%/năm, phù hợp với lãi suất trên
thị trường quốc tế. Kết quả là vốn huy động hàng năm tăng hơn 20%, tín dụng đối với nền
kinh tế tăng gần 50%.
Trong 2 năm 1994 - 1995, cơ chế lãi suất tiếp tục được điều chỉnh theo hướng thích
ứng với cơ chế thị trường, phù hợp với quan hệ cung - cầu vốn, đồng thời hạn chế sự can thiệp
trực tiếp của NHNN vào hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. NHNN chỉ khống chế
mức lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế. Các mức lãi suất tiền
gửi và cho vay cụ thể do tổ chức tín dụng ấn định. Cho phép các tổ chức tín dụng điều chỉnh
lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế lên gần sát với mức lãi suất tiền gửi dân cư. Tăng lãi
suất cho vay trung và dài hạn lên 1,7%/tháng. Lãi suất ngoại tệ được điều chỉnh 3 lần từ
7,5%/năm lên 9,5%/năm phù hợp với sự biến động của lãi suất thị trường quốc tế.
Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay của các tổ chức tín dụng được thể hiện ở bảng
sau:
Diễn biến lãi suất cho vay và tiền gửi bình quân các năm
Đơn vị: %/ tháng
Thời điểm 1986-
1990
1991 1992 1993 1994 1995
5
Lãi xuất
Cho vay bình quân tháng 4,3 2,5 2,5 1,8 1,6 1,7
Tiền gửi bình quân tháng 6,0 2,9 1,9 1,4 1,3 1,4
Chênh lệch -1,7 -0,4 0,6 0,4 0,3 0,3
Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế, NHNN.
1.3.2. Đánh giá những tác động của chính sách lãi suất tới nền kinh tế
a) Như vậy, điểm nổi bật của cơ chế điều hành lãi suất tín dụng thời kỳ 1992 - 1995 so
với thời kỳ trước 1992 có thể được nhìn nhận dưới các mặt sau:
Điều này không phù hợp với cơ chế thị trường.
• Lãi suất đồng Việt Nam và ngoại tệ còn khoảng cách chênh lệch khá lớn. Điều
này gây bất lợi đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vì họ phải vay đồng Việt
Nam với mức lãi suất cao trong khi lãi suất tiền gửi ngoại tệ thấp, xuất hiện tình
trạng vay vốn ngoại tệ lòng vòng giữa các doanh nghiệp, NHTM với nhau để
hưởng chênh lệch lãi suất, đẩy cầu ngoại tệ tăng cao.
• Bên cạnh cơ chế khung lãi suất là cơ chế cho vay theo lãi suất thoả thuận bằng
nguồn vốn huy động kỳ phiếu, trái phiếu của NHTM. Do vậy, nhiều tổ chức tín
dụng, nhất là các NHTMCP cho vay bằng các nguồn vốn khác cũng áp dụng cơ
chế lãi suất thoả thuận, do đó đẩy mặt bằng lãi suất lên cao vượt quá khung lãi
suất cho vay quy định của NHNN
1.4.Chính sách lãi suất giai đoạn từ 1996 đến 2000
1.4.1 Thực trạng chính sách lãi suất thời kỳ này
Trong giai đoạn này, Ngân Hàng Nhà Nước đã đưa ra nhiều quyết định quan trọng về
lãi suất, nhằm từng bước tự do hóa lãi suất theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn
đóng vai trò rất quan trọng. Chính sách lãi suất trần và chính sách lãi suất sàn từng bước được
đổi mới để thích ứng với sự phát triển kinh tế.
Năm 1996, chính sách lãi suất có sự thay đổi lớn, mức lãi suất đã được hạ xuống còn
2,1% - 1,75% tháng, kèm theo quy định mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền
gửi tối đa không vượt quá 0,35%.
7
Năm 1997-1998, Ngân Hàng Nhà Nước đã không siết chặt kiểm soát lãi suất mà lại có
vẻ nới lỏng chính sách lãi suất, trần lãi suất được nâng lên, các Ngân hàng Thương mại có thể
tăng lãi suất tiền gửi để huy động vốn và quy định giới hạn chênh lệch kais suất cho vay và lãi
suất tiền gửi ở mức 0,35%/tháng. Giảm lãi suất cho vay bình quân tối thiểu là 0,35%/tháng để
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn mở rộng sản xuất, tạo nguồn thu cho ngân sách
nhà nước.
Thực hiện chủ trương của Quốc hội, theo chỉ đạo của chính phủ ngày 28/12/1997
Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước đã ký quyết định số 381/QĐ-NH1 về việc điều chỉnh lãi
suất tín dụng với nội dung bắt đầu được thực hiện từ ngày 1/1/1998, theo đó quy định trần lãi
trưởng kinh tế cao, tạo việc làm và kiềm chế lạm phát ở mức thấp.
Cho đến tháng 1 năm 2000 Ngân hàng Nhà nước có thêm hai lần điều chỉnh lãi suất đó
là:
- Quyết định số 179/QĐ-NH ban hành ngày 28/5/1999 hạ trần lãi suất xuống 1%/tháng,
trung dài hạn là 1,1%/tháng.
- Quyết đinh số 39/QĐ-NH ban hành ngày 17/1/2000 tăng trần lãi suất cho vay ngắn hạn
lên 1,2%/tháng, trung và dài hạn là 1,25%/tháng.
Cùng với Quyết định trên, Ngân hàng Nhà nước còn quy định các mức lãi suất ưu đãi cho
vay phục vụ người nghèo (0,8%/tháng) cho vay với các tổ chức kinh tế và dân cư thuộc vùng
núi cao 0,5-0,6%/tháng, cho vay học sinh, sinh viên 0,7%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 150%
mức lãi suất trần cho vay cùng loại. Quy định ;ái suất tiền gửi tối đa của các tổ chức kinh tế tại
các tổ chức tín dụng không thời hạn là 1,5%/năm, kỳ hạn 6 tháng là 4%/năm, kỳ hạn trên 6
tháng là 3,5%/năm.
Mặt khác do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, nền kinh tế
tăng trưởng thấp. Nhưng về chính sách lãi suất chưa áp dụng hoàn toàn theo cơ chế thị trường
nên lãi suất VNĐ vẫn cao hơn nhiều so với tỷ lệ lạm phát. Năm 2000 do có thiểu phát nên lãi
suất đã được điều chỉnh giảm chút ít, nhưng xem xét lãi suất thực dương thì lại không phải
giảm mà tăng lên. Tỷ lệ lãi suất dương chia cho tỷ lệ lạm phát năm 1996 là 120%, năm 1997 là
175%, năm 1998 là 11,6%, năm 1999 là 5350% và năm 2000 thì quá cao trên 6000%. Điều
này lý giải vì sao giai đoạn này thiểu phát.
1.4.2 Đánh giá những tác động của chính sách lãi suất tới nền kinh tế
a. Những mặt tích cực
- Đảm bảo sự phù hợp, ổn định giữa lãi suất huy động và chỉ số lạm phát giữa lãi suất dầu ra
với lãi suất huy động do đó, lãi suất thực dương đảm bảo lợi ích cho người gửi tiền.
9
- Trần lãi suất cho vay tối đa liên tục được điều chỉnh giảm kết hợp với từng bước nới lỏng
các điều kiện vay vốn (cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, công chứng ) nhằm tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp giảm chi phái kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh, hiệu quả kinh tế và nền kinh
tes tăng trưởng cao. Đồng thời, lãi suất phù hợp hơn với chỉ suất lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Chính sách lãi suất kết hợp với nhiều biện pháp nhanh tăng nhanh khối lượng vốn huy động
buộc đã tăng thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không kỳ hạn tới dưới 12 tháng. Lãi
suất tái cấp vốn cũng tăng gấp 2 lần trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6-2008. Mức
lãi suất chiết khấu so với cuối năm 2007 tăng thêm 8,5%, ở mức 13%/năm kể từ ngày 10-6-
2008.
Thời điểm này, Ngân hàng nhà nước điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 14%/năm. Với quy chế
điều hành là cho phép tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% lãi
suất cơ bản, trần lãi suất cho vay lên tới 21%/năm. Đặc điểm đáng chú ý trong giai đoạn các
Ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản này là lãi suất huy động ngắn hạn bằng, thậm chí cao
hơn lãi suất huy động dài hạn. Năm 2008 chứng kiến sự biến động mạnh của lãi suất với sự
điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và uyển chuyển của Ngân hàng nông nghiệp. Nghiệp vụ
thị trường mở được thực hiện theo cả hai hướng mở rộng và thắt chặt tiền tệ đã không tạo tác
động đáng kể nào tới lãi suất. Trong tuần thứ ba của tháng 2-2008, Ngân hàng nhà nước bổ
sung 33000 tỷ đồng vào lưu thông nhưng các Ngân hàng thương mại vẫn tiếp tục tăng lãi suất
huy động tiền gửi. Tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn- Hà Nội (SHB), lãi suất huy
động điều chỉnh 3 lần chỉ trong vòng 10 ngày và tăng lên 12,5%/năm với kỳ hạn 1 tháng.
Thông báo phát hành 20300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc được đưa ra vào giữa tháng 2-2008 và
thực hiện một tháng sau đó. Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất đang đi lên, rất khó xác định
ảnh hưởng của nghiệp vụ này tới lãi suất. Trong tháng 6-2008, lãi suất huy động của các
Ngân hàng thương mại tiến gần tới trần lãi suất cho vay. Ngày 30-6-2008, Ngân hàng Kiên
Long áp dụng lãi suất huy động tiền đồng cao kỷ lục là 20%/năm cho khách hàng gửi tiền kỳ
hạn 12 tháng. Hiệu lực không thật rõ ràng của các nghiệp vụ thị trường mở vào kỳ hạn lạm
phát gia tăng là tín hiệu sự tồn tại bẫy thanh khoản trong hệ thống tín dụng tại thời điểm đó.
Nếu đúng vậy, điều chỉnh tăng dần các công cụ lãi suất là giải pháp hợp lý và sớm mang lại
kết quả bình ổn thị trường tiền tệ. Cuối tháng 6-2008, 2 tỷ đồng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2
năm với lãi suất 11%/năm đã được huy động thành công. Mặc dù khối lượng không lớn
nhưng dấu hiệu này gợi mở khả năng tiếp tục duy trì các chính sách tiền tệ - tài chính vĩ mô.
Lưu ý rằng, chỉ hai tuần trước đó, phiên đấu thầu hai loại trái phiếu chính phủ ngày 13-6-
2008 có kỳ hạn 2 năm và 3 năm đã không thu hút được bất kỳ thành viên nào tham gia. Trên
11
thị trường, có tổ chức tài chính sẵn sàng chuyển nhượng lượng trái phiếu đang sở hữu với
*Tích cực:
- Đáp ứng tốt nhu cầu vốn sản xuất cho doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp không phải vay với mức lãi suất vượt trần, tức là các doanh nghiệp
không bị các ngân hàng ép khi đi vay tiền.
- Trong thời kỳ cả nước có 6000 doanh nghiệp nhà nước hơn 1000 doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, 230000 doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH hầu hết
các doanh nghiệp này được vốn ngân hàng hỗ trợ 80-90 % trong sản xuất kinh doanh cải tiến
và đổi mới công nghệ.
* Hạn chế:
- Việc giảm lãi suất là điều kiện cần nhưng không đủ để tạo vốn cho doanh nghiệp.
- Lãi suất còn cao, khó khăn trong thủ tục vay NH. Cho dù lãi suất cho vay đã giảm
khá mạnh song các DN vẫn không dám vay tiền vì tỷ lệ lãi suất cho vay ngân hàng vào khoảng
10%-11% năm.
- Nhiều DN làm ăn không có hiệu quả do trang thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu
nhưng muốn cơ cấu vốn lớn, bắt buộc phải đi vay, với số vốn lớn DN phải trả lãi lớn trong khi
lợi nhuận thu được lại chưa ổn định do vậy lãi suất giảm DN vẫn không dám vay.
- Các NH cạnh tranh dẫn đến tăng mức lãi suất tiền gửi các DN cắt giảm tất cả những
khoản đầu tư không đưa lại lợi nhuận cao bằng gửi tiếp vào NH.
- Việc vay vốn trung và dài hạn của các DN không thuận lợi vì các NH cho vay dễ gặp
rủi ro từ việc huy động vốn NH cho vay trung và dài hạn trong khi mức chênh lệch giưã lãi
suất cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bị xoá bỏ
*NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất theo hướng giảm cơ cấu trần và mức khống chế. Các
nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá cho NHTM cũng được đưa vào sử dụng
để bổ sung them công cụ điều chỉnh lãi suất. Lãi suất tái chiết khấu được quy định ở mức
0.05%/tháng so với lãi suất tái cấp vốn. Từ tháng 7/2000, nghiệp vụ thị trường mở được hình
thành qua nhiều phiên giao dịch. (Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trung
ương mua vào hoặc bán ra những giấy tờ có giá của chính phủ trên thị trường). Thông qua
hoạt động mua bán giấy tờ có giá, ngân hàng trung ương tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả
13
dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp
Chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh cho rằng, thời điểm này có thể tính toán bỏ được trần lãi
suất. Bởi lẽ, trần lãi suất hiện nay chỉ áp dụng cho các kỳ hạn huy động vốn dưới 6 tháng, còn
trên 6 tháng lãi suất huy động đã được để các ngân hàng thương mại tự quyết định theo cung
cầu trường.
Tuy nhiên, khi bỏ trần lãi suất có thể cũng có một số điểm cân nhắc như: khi bỏ trần lãi suất sẽ
có tác động như thế nào đến huy động vốn của các ngân hàng thương mại, tác động như thế
nào đến hoạt động cạnh tranh giữa các ngân hàng, liệu có ảnh hưởng đến tiến trình cơ cấu lại
hệ thống ngân hàng khi đánh giá được những điểm này thì có thể tính đến việc bỏ trần lãi
suất huy động.
1.5.2 Cơ chế lãi suất thỏa thuận.
1.5.2.1 Cơ chế điều hành lãi suất :
a) Định nghĩa :
- Lãi suất thỏa thuận có thể hiểu là lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách
hàng. Là lãi suất được thỏa thuận giữa người đi vay và cho vay nhưng không trái với các quy
định của pháp luật hiện hành.
- Là việc NHTW để các NHTM tự thỏa thuận lãi suất huy động và lãi suất cho vay với khách
hàng.
b) Nguyên nhân chuyển sang cơ chế lãi suất thỏa thuận :
- Việc khống chế lãi suất trần cho vay như thời gian qua là 1 biện pháp can thiệp hành chính
không phù hợp với nền kinh tế thị trường, làm hạn chế sự chủ động và linh hoạt của các
NHTM trong vấn đề huy động vốn và cho vay.
- Việc khống chế lãi suất trần cho vay là đánh đồng lãi suất của các loại hình tín dụng, làm cho
các ngân hàng rấ khó đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ.
- Để kiểm soát sự biến động bất thường của lãi suất trên thị trường tiền tệ, NHNN đã có các
công cụ để kiểm soát như: lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cập vốn, nghiệp vụ thị trường
mở
15
- Vấn đề phát sinh bộc lộ chỉ ít ngày sau khi mức trần lãi suất huy động được công bố NH khó
lòng hút vốn khi trong đời sống còn nhiều kênh đầu tư hấp dẫn, sinh lời lớn hơn như chứng
khoán, bất động sản
lãi suất cơ bản
23/01/09 Thông tư
01/2009/TT-NHNN
Được thỏa thuận nhưng
khống chế không vượt quá
150% lãi suất cơ bản
Được thỏa thuận
nhưng khống chế
không vượt quá 150%
lãi suất cơ bản. Riêng
đối với cho vay phục
16
vụ đời sống và cho
vay thông qua phát
hành thẻ tín dụng thì
được thỏa thuận lãi
suất
26/02/10 Thông tư
07/2010/TT-NHNN
Được thỏa thuận nhưng
khống chế không vượt quá
150% lãi suất cơ bản
Được thỏa thuận
nhưng đối với cho
vay ngắn hạn phục vụ
SXKD thì vẫn bị
khống chế không
vượt quá 150% lãi
suất cơ bản
14/04/10 Thông tư
• Áp lức cạnh tranh để thu hút nguồn thanh khoản gia tăng, có thể do dự báo rằng khả
năng NHNN can thiệp sâu để bù thanh khoản cho hệ thống sẽ giảm đi đáng kể theo
những động thái chính sách tiền tệ cuối quý I/2010
• Mức giảm chênh lệch do xu hướng đồng thuận giảm lãi suất cho vay xuống mức 15%
(từ mức cao 17-18%) và xu hướng tăng lãi suất mới chớm xuất hiện này cho thấy
NHTM còn phải giải quyết bài toán tương phản giữa tăng thanh khoản và suy giảm lợi
nhận từ hoạt động tín dụng.
Đối chiếu khảo sát ý kiến người dân về lựa chọn kênh đầu tư trong năm 2009 và 2010
cũng phản ánh sự thay đổi có thể giải thích hiện tượng thu hút vốn ngân hàng khó thời
gian vừa qua và dẫn tới tình trạng sức ép tăng lãi suất tiền gửi cao hơn, ít nhất là về xu
hướng giảm tiền gửi ngân hàng. Sự sẵn sàng cho đẩu tư chứng khoán cũng cao hơn,
cùng xu hướng với đầu tư bất động sản. Riêng nhóm sản xuất kinh doanh không có
nhiều cải thiện về xu hướng, nếu điều chuyển đầu tư khác và bảo hiểm (thường có liên
quan tới sản xuất kinh doanh) vào nhóm này của điều tra. Để đảm bảo hấp dẫn, mức
huy động lãi suất của các ngân hàng phải rơi vào khoàng trên 11,5%/năm trở lên với
lãi suất kì hạn 3 tháng. Để có thêm chi tiết, có thể xét lãi suất tiết kiệm kì hạn 3 tháng
theo công bố của Vietcombank ngày 13/3 là 10,49% (VND) và 3,2% (USD). Ở mức kì
vọng lạm phát thấp lãi suất VND 3 tháng phải đạt 11,79% và ở mức cao nhất ( của
phép tính giả định tại đây ): 12.78%. Rõ ràng không thấy sức hấp dẫn với lãi suất tiền
đồng của ngân hàng,vì ở dưới các cận này, tình trạng đô la hóa sẽ gia tăng vì lợi ích
người gửi tiền.
• Việc NHNN cho phép áp dụng lãi suất thỏa thuận cho các khoản vay trung hạn và
dài hạn, nhiều chuyên gia nhận định một mặt bằng lãi suất cho vay thỏa thuận mới
sẽ được xác định. Tuy nhiên trong thới điểm hiện nay các NHTM vẫn dè dặt trong
việc thực hiện điều chỉnh mức lãi suất cho vay.
Bằng phép tính cơ học và cúng theo như nhiều ý kiến, với lãi suất đầu vào
10.5%/năm cộng thêm khoảng 3-4%/năm chi phí kinh doanh, lãi suất cho vay mới
không thể thấp hơn mức 13,5-14,5%/năm.
1.5.2.2 Tác động của cơ chế lãi suất thỏa thuận
18
1.5.3. Lãi suất cơ bản
19
1.5.3.1. Chính sách lãi suất cơ bản của NHNN trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay:
a) Chính sách lãi suất cơ bản trong giai đoạn từ năm 2000 – 2007 :
- Sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi nhưng chưa
bền vững.
+ Năm 2001,tốc độ tăng trưởng cao : 6,75%
+ Từ 2002 – 2004 tăng trưởng trên 7%
+ Năm 2005 và 2006, tăng trưởng trên 8,2%
- Lạm phát phức tạp : Sau thời kỳ giảm lạm phát 1999 – 2001 và đi vào ổn định từ 2002 –
2003 thì đến 2005 – 2006, lạm phát bất ngờ tăng mạnh xấp xỉ 10%. Năm 2006,giảm xuống là
trên 7%.
- Trong giai đoạn 2003 – 2004. Mục tiêu CSTT lúc này là nới lỏng thận trọng để vừa đảm bảo
ổn định giá trị đồng tiền, vừa kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thực hiện chủ trương
chính sách kích cầu của Chính Phủ ổn định hệ thống ngân hàng.
- Trong giai đoạn 2004 – 2007, lạm phát quay trở lại thì nguồn vốn ngoại tệ vào nhiều, trên thị
trường ngân hàng bắt đầu xuất hiện dấu hiệu dư thừa vốn khả dụng của cả VNĐ và ngoại tệ ->
NHNN áp dụng thắt chặt thận trọng.
* Giai đoạn từ 2000 – 2005
- Từ tháng 8/2000 đến 5/2002 : NHNN áp dụng lãi suất cơ bản theo kỳ hàng tháng . Do đó,
mức trần lãi suất cho vay tối đa của NHTM cũng thay đổi tương ứng theo từng tháng.
- Ngày 30/5/2000, lãi suất cơ bản lần đầu được công bố ở mức 7,2% năm. Trên cơ sở đó các
ngân hàng không được tính lãi suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản cộng biên độ 0,3%/tháng
đối với vốn ngắn hạn và 0,5%/tháng đối với vốn trung và dài hạn.
Cụ thể : Trong 4 tháng cuối năm 2000,NHNN đã áp dụng lãi suất cơ bản 0,75%/tháng, thì
đến 2001, để kích cầu chống giảm lạm phát NHNN điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản đối với
cho vay giảm từ 0,75%/tháng xuống 0,6%/tháng vào giữa năm.
Trong 2000 – 2001,cạnh tranh giữa các ngân hàng đã dẫn tới tăng lãi suất huy động
vốn,nhưng lãi suất cho vay vẫn không tăng và nằm vào trong biên độ lãi suất cơ bản -> làm
giảm đi chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn.Cho nên 1/6/2002, thống đốc
lãi suất chủ đạo trong việc thực thi CSTT. Tuy nhiên vì theo nguyên tắc lãi suất thỏa thuận thì
các tổ chức tín dụng đã căn cứ vào nhu cầu huy động vốn và khả năng cho vay mà quyết định
LS HVD của NHTM cổ phần đã tăng lãi suất.
Do đó trong năm 2005, NHNN đã đưa ra giải pháp trọng tâm nhằm kiểm soát tăng
thưởng tín dụng để mức tăng trưởng tín dụng cả năm không vượt quá 25%. Để điều chỉnh
CSTT linh hoạt, thận trọng bám sát diễn biến thị trường tiền tệ NHNN đã 2 lần hiệu cỉnh
LSCB từ 7,5% tháng 1/2005 lên 7,8% tháng 2/2005 và đến 8,25% tháng 12/2005.
21
- Việc tăng lãi suất cho thấy tín hiệu tăng lãi suất trên thị trường tiền tệ. Mặc dù, LS HDV và
LSCV của NHTM vẫn liên tục biến động. Cụ thể là: Tổng huy động năm 2005 chỉ tăng 22,8%
so với năm trước. Trong khi dư nợ cho vay tăng 24,6% -> làm cho thị trường tiền tệ thường
xuyên tăng trưởng nóng.
- Việc tăng lãi suất giữa các NHTM là do tốc độ tăng trưởng tín dụng trong thời gian qua quá
thấp, đi kèm với tốc độ lạm phát còn cao và cũng do động thái tăng LSCB của NHNN (đặc
biệt là sau khi FED nâng lãi suất cơ bản của USD lên 4,5%, lại cùng lúc người dân rút và vay
tiền tiêu trong dịp tết mạnh nhất vào tháng cuối năm 2005. Dẫn đến các ngân hàng phải chạy
đua nâng LS HDV tiền gửi để cân đối lãi suất vay.
Như vậy biểu lãi suất của các NHTM Việt Nam đã phản ứng nhanh nhạy với động thái
tăng LSCB của FED hơn là của NHNN Việt Nam.
Trước cuộc chạy đua lãi suất nóng khởi nguồn từ các NHTM cổ phần đến cuộc chạy đua
lãi suất của NHTM quốc doanh (12/2005) thì chính sách LSCB dường như tỏ ra kém nhạy
bén.
Cụ thể là: mức lãi 7,8%/năm vẫn được giữ nguyên từ đầu năm. Đến tận tháng 11/2005
thấp rất xa so với LSCV cao nhất của NHTM và cũng không có tác động chi phối lãi suất thị
trường.
* Giai đoạn 2006 – 2007:
- Từ 1/1/2006, NHNN quy định mức LSCV trong các hợp đồng tín dụng không vượt quá
150% so với mức LSCB của 11/2005 (tức là khoảng 12,375%)
- Quy định đã gây ra khó khăn không nhỏ cho hoạt động tín dụng của các NHTM. Mà hiện
mỗi ngân hàng đều có hàng chục sản phẩm tín dụng khác nhau với các kỳ hạn ngắn, trung và
Điều này chứng tỏ: LSCB của NHNN chưa hiệu quả. Đồng thời, với quy định lãi suất cho vay
không vượt quá 150% LSCB, nếu giữ được nguyên mức LSCB thì rất nhiều hợp đồng tín
dụng sẽ có nguy cơ vi phạm quy định pháp luật về mức cho vay tối đa.
b) Đánh giá chính sách LSCB trong giai đoạn 2000 – 2007.
* Giai đoạn 2000 – 2003: LSCB đạt hiệu quả.
- Việc thay đổi cơ chế trần lãi suất bằng mức LSCB cộng với biên độ -> tính linh hoạt, hiệu
quả trong việc điều chỉnh lãi suất thị trường cho phù hợp với mục tiêu CSTT và điều kiện kinh
tế tiền tệ của NHTM trong nước.
23
- LSCB do NHNN quy định -> hoạt động tín dụng của các NHTM sẽ trực tiếp liên quan đến
lạm phát. Cho nên trong giai đoạn này tình trạng lạm phát được kiểm soát, tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao.
* Giai đoạn 2004 – 2007: LSCB chưa hiệu quả.
- Tuy được điều chỉnh nhưng tác động không tích cực -> tốc độ tăng trưởng tín dụng trong nền
kinh tế: Tăng trưởng tín dụng năm 2007 đạt trên 50% > hạn mức là 30% NHNN quy định,
tăng gần 37,8% so với cuối năm 2006. Trong khi đó tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,5% mức
cao nhất từ 1997 – 2007.
Như vậy trong giai đoạn này LSCB tỏ ra kém hiệu quả trong việc kiềm chế lạm phát,
mức lạm phát liên tục tăng qua các năm (đỉnh cao là năm 2007 lạm phát ở mức 2 con số:
12,63%)
BẢNG 3.2: Tình trạng lạm phát so với tăng trưởng từ 1998 – 2007.
Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Lạm
phát
7,8 4,2 -1,6 -0,4 4 4,3 7,8 8,4 8,2 12,63
Tăng
trưởng
5,8 4,8 6,8 6,9 7,1 7,3 7,8 8,4 8,2 8,5
Cơ chế LSCB về bản chất không khác gì so với trần lãi suất áp dụng trước đây. Do đó, nếu
2008 chỉ còn 19,89%/năm. Tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng huy
động vốn (Tín dụng trong quý 1 là 10,8% còn tăng trưởng huy động vốn quý 1 là 5,48%)
Cuối năm 2008 :
- Tỷ lệ lạm phát so với cùng kỳ 2007 vẫn cao nhưng đã từng bước được kiểm soát. Khủng
hoảng tài chính thế giới -> Việt Nam lại rơi vào khó khăn : Tăng trưởng GDP chỉ đạt 6,23% so
với kế hoạch là 6,5% - 6,7% nền kinh tế có dấu hiệu thiếu vốn.
- NHNN đã nới lỏng CSTT và lãi suất : LSCB liên tục điều chỉnh giảm trong 3 tháng cuối năm
2008. Các NHTM được bán tín phiếu bắt buộc trước hạn và tiếp tục thực hiện CSTT “Thắt
chặt nhưng linh hoạt” -> vừa kiềm chế lạm phát,ổn định kinh tế vĩ mô,vừa thúc đẩy sản xuất.
Cụ thể là :
-Giảm LSCB từ 14% ( 1/10/2008) xuống 8,5%/năm (22/12/2008), tạo điều kiện để các ngân
hàng giảm LSCV đầu ra hỗ trợ DN vay vốn. Việc giảm lãi suất cũng xuất phát từ nhu cầu
thực tế của NHTM trong kế hoạch thúc đẩy tăng trưởng tín dụng.
25