Tiểu luận Tác động của di dân tới đói nghèo - Pdf 12

Tiểu luận
Tác động của di dân tới
đói nghèo
1
MỤC LỤC
Tiểu luận 1
Tác động của di dân tới đói nghèo 1
MỤC LỤC 2
II. NỘI DUNG 3
2.1. Một số khái niệm liên quan: 3
2.2. Đói nghèo và nguyên nhân di dân: 5
2.3. Tác động của di dân trong xóa đói giảm nghèo ở nơi đi 8
a. Tiền gửi về: 8
b. Vai trò của /ền gửi về 9
2.4. Tác động của di dân tới đói nghèo ở nơi đến 13
III. KẾT LUẬN 18
I. GIỚI THIỆU CHUNG
Di cư là một hiện tượng xã hội phổ biến và tất yếu của bất cứ một xã hội nào
trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong vòng 20 năm trở lại đây, Việt
Nam đã và đang chứng kiến sự gia tăng theo cấp số nhân của dòng người di cư trong
nước và quốc tế. Dòng di cư phổ biến ở Việt Nam đó là di cư nông thôn – thành thị khi
mà người dân đổ về thành phố lớn tìm kiếm việc làm gia tăng thu nhập cho gia đình.
Đồng thời nó cũng để lại nhiều tác động đáng kể với khu vực thành thị. Hơn thế nữa,
những nhà nghiên cứu đã chỉ ra giữa di cư, đói nghèo và phát triển luôn có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau. Di cư vừa là động cơ thúc đẩy lại vừa là kết quả của sự phát triển
kinh tế xã hội của một quốc gia. Di cư gắn liền với những yếu tố mang tính cốt lõi của
xã hội như: xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, sức khỏe… Chính điều này đã chỉ ra
các tác động cơ bản tới nơi đi và nơi đến. Tuy nhiên những đóng góp của di cư đối với
Việt Nam còn chưa đồng đều. Những đóng góp tích cực của di cư đã được nhà nước
nhìn
nhận

của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát
triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương.
Hay theo tổ chức Y tế Thế Giới: Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống
một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu
chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và
theo thời gian. Một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu
nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia.
Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận
nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015. Hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 -
2015 như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.
Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống;
3
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng
đến 520.000 đồng/người/tháng;
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến
650.000 đồng/người/tháng.
 Qua những khái niệm trên ta có thể thấy được nghèo là sự thiếu thốn cả về
vật chất và phi vật chất, tình trạng thiếu thốn về nhiều phương diện như: thu nhập
thiếu do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản hàng ngày của cuộc
sống, thiếu tài sản để tiêu dùng lúc bất trắc xảy ra và dễ bị tổn thương trước những mất
mát. Định nghĩa của tổ chức y tế TG đã chỉ ra một cách khái quát những đặc điểm tiêu
biểu để làm căn cứ xác định nghèo. Đồng thời định nghĩa trên cũng nêu ra những chỉ
báo quan trọng trong việc xác định các mức độ nghèo, thuận lợi cho công tác phân tích
đánh giá mức sống của các hộ gia đình theo từng khu vực nông thôn – thành thị.
b. Xóa đói giảm nghèo:
Xóa đói giảm nghèo là kết quả của việc thực hiện tổng thể các biện, pháp
chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện
nghèo đói nhằm tạo điều kiện để họ tăng thu nhập, đáp ứng được những nhu cầu tối

rằng có tới 90% người lao động di chuyển vào thành phố tìm việc làm là do những khó
khăn về kinh tế ở quê nhà (Hoàng Văn Chức, 2004). Phân tích kết quả điều tra 1300
người di cư của Bộ Lao Động và Thương Binh Xã Hội cho thấy đại bộ phân dân nhập
cư vào Hà Nội thông qua con đường di dân tự do mà động lực chủ yếu là sức ép về
kinh tế. Khoảng 90% dân di cư tạm thời ở Hà Nội báo cáo rằng họ vào thành phố chỉ
là để tìm kiếm việc làm để cải thiện thu nhập hộ gia đình. Trong khi đó, có đến hơn
một nửa số những người nhập cư vào Hà Nội với mục đích định cư lâu dài không phải
vì lý do khó khăn kinh tế của gia đình. Ngoài ra những nguyên nhân khác như hôn
nhân, đoàn tụ gia đình, học tập và sức hút của đô thị chỉ chiếm một tỷ lệ thấp so với
nguyên nhân đói nghèo (kinh tế). Chỉ có một bộ phận rất nhỏ dân nhập cư, khoảng 5%
số người được hỏi, di chuyển vào thành phố Hà Nội qua con đường tuyển dụng lao
động chính thức. (Trung Tâm Dân Số & Nguồn Lao Động, 2007). Hay như trong một
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Diễm (2005): “Đi làm ăn xa – phương thức tăng
thu nhập gia đình” là một minh chứng tiêu biểu cho việc người di cư từ nông thôn ra
đô thị chủ yếu vì cuộc sống gia đình còn nhiều khó khăn, hoạt động sản xuất còn thấp,
chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nhưng lại bị chi phối bởi điều kiện khí hậu khắc
nghiệt, hoạt động nông nghiệp chưa được tiếp cận nhiều với máy móc kỹ thuật hiện
đại, tận dụng sức người lớn trong khi hiệu quả sản xuất không cao, cộng thêm bệnh
dịch làm thu nhập bấp bênh, yếu tố việc làm không đáp ứng được nhu cầu của phần
đông dân cư. Những khó khăn xung quanh đời sống mưu sinh đã là động cơ thúc đẩy
họ tìm phương án cho thu nhập cũng như cải thiện đời sống của họ. Quan sát biểu đồ
thu được từ cuộc điều tra ý kiến của các hộ gia đình có người đi di cư cho ta thấy:
Hình 1. Lý do di cư (ĐVT: %)
5
Nguồn: IOM - 2008
Rõ ràng đa phần người dân đi di cư là vì lý do kinh tế do họ không hài lòng về
thu nhập, điều kiện sống (37%) cũng như công việc ở quê nhà và hy vọng có nhiều cơ
hội việc làm tốt hơn ở thành phố (23.3%). Số liệu ở biểu đồ trên chỉ ra nguyên nhân
không có đất ở (18.2%) được xếp sau 2 nguyên nhân trên. Kết hợp các lý do kể trên
cho thấy nguyên nhân nghèo đói (thiếu thốn về mặt thu nhập, kinh tê, việc làm) giải


thành phố chứ không trở
lại
quê
hương
,

khi
khoảng cách về cơ hội và điều
k
iện
sống
giữa các khu vực thành thị và nông thôn ngày càng gia
tăng
.
Các lý do di cư khác
chiếm tỷ lệ không đáng
kể,
bao gồm các vấn đề
g
ia
đình
(hôn nhân, đoàn tụ gia
đình, sống với người thân) chiếm
3,5%.
Một số
ít
người (gần
3%)
di cư do bị thu hút

thôn, người già và trẻ em sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Di cư sẽ trở thành một
trong những phương thức giúp người dân đương đầu và thích nghi với những thay đổi
này bằng cách di chuyển tạm thời hoặc di chuyển lâu dài tới địa điểm khác nhằm đảm
bảo sự an toàn và ổn định cuộc sống. Đã có nhiều bằng chứng cho thấy người dân
buộc phải di cư trong nước do những điều kiện thay đổi về môi trường, khí hậu khiến
cuộc sống họ nghèo đói. Chẳng hạn nghiên cứu ở khu ven biển miền Trung phía Bắc
Việt Nam cho thấy cuộc sống và thu nhập của người dân bị ảnh hưởng bởi những thay
đổi về đất đai, điều kiện khí hậu, nguồn nước, nhiều người dân đã buộc phải di cư
trong nước và coi đây là một phương thức thay thế cho việc mất thu nhập. Ngoài ra
phân tích trong điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004 và 2006 cho thấy có một mối
quan hệ giữa thiên tai, đói nghèo, những thay đổi đột biến trong sản xuất (các cú sốc
trong sản xuất) với các xu thế di cư mùa vụ, di dân tự do trong nước. Vì vậy, mặc dù
7
xã hội luôn thay đổi và trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau nhưng nguyên
nhân kinh tế vẫn là nguyên nhân cốt lõi thúc đẩy người dân đi di cư.
2.3. Tác động của di dân trong xóa đói giảm nghèo ở nơi đi
Tác động của di cư có thể được xem xét ở các cấp độ khác nhau, từ cấp độ bản
thân người di cư, gia đình họ, bạn bè cùng trang lứa, cộng đồng nơi đi/nơi đến cho đến
các cấp độ cao hơn như quốc gia hay quốc tế. Trong giới hạn phạm vi của chủ đề,
chúng tôi chỉ tập trung xem xét tác động của di cư tới khu vực nông thôn – đô thị, đặc
biệt trong mối liên hệ giữa di cư và đói nghèo.
a. Tiền gửi về:
Tiền gửi là một phần thu nhập của người di cư kiếm được tại nơi đến, gửi về
nhà, hầu hết là các khu vực nông thôn và nghèo hơn. Vì thế tiền gửi là một trong
những tác động trực tiếp tích cực của sự dịch chuyển lao động trong nước. Do thường
xuyên cần tiền mặt để trả cho những dịch vụ kinh tế và xã hội khác nhau của gia đình,
tiền gửi về nhà (từ người di cư) tạo nên một nguồn tài chính quan trọng để trang trải
những chi phí đó.
Ước tính số tiền gửi từ người di cư trong nước và kiều bào nước ngoài (di dân
quốc tế) ở Việt Nam năm 2007 là 5,5 tỷ USD với lượng tiền gửi của người di cư trong

chuyển từ những nơi có nhiều cơ hội việc làm tới các vùng nông thôn với ít cơ hội việc
làm. Nó góp phần vào việc phân chia lại của cải trên phạm vi cả nước và đóng góp
vào việc xóa đói giảm nghèo cho những khu vực kém phát triển hơn ở Việt Nam.
9
Bảng 1-Tỷ lệ đóng góp của tiền gửi về vào tổng thu nhập của các loại hộ gia đình
Loại hộ Bất kể tỉ
lệ nào
Ít nhất
10%
Ít nhất
25%
Ít nhất
50%
Ít nhất
75%
100%
Nghèo 20.4 33.0 39.8 51.6 69.8 86.1
TB 20.2 20.4 20.1 18.1 5.1 7.5
TB – khá 19.8 16.4 12.4 10.0 9.7 6.3
Khá 20.3 16.9 15.5 11.5 7.4 0.0
Giàu 19.3 13.2 12.2 8.9 7.9 0.0
Tổng số 100 100 100 100 100 100
Nguồn: Di cư lao động và phát triển ở Việt Nam 2006 (ILO)
Tiền gửi về có ảnh hưởng lớn đến thu nhập của hộ gia đình và rất cần thiết trong việc
trang trải nợ nần, chi phí học hành cho con cái, sức khỏe và các khoản chi khác. Dựa
vào kết quả nghiên cứu của viện nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) về tác động kinh
tế - xã hội của di cư nông thôn – thành thị ở Việt Nam đã thống kê được mục đích sử
dụng tiền gửi về nhà của người đi di cư như sau:
Hình 2. Mục đích sử dụng tiền gửi của các hộ gia đình có người di cư ở nông thôn
Nguồn:(Lê Bạch Dương- Nguyễn Thanh Liêm, Từ nông thôn ra thành phố)

đó vào những việc khác như sửa chữa/xây
mới
nhà cửa, mua sắm các đồ dùng có giá
trị ,
nhằm làm tăng địa vị của gia
đình

họ
trong cộng đồng vì tiền nhận được hàng
năm là không đủ để nhiều hộ
c
ó
thể làm như
vậy.
Ngoài ra, rất ít hộ gia đình sử
dụng tiền cho các mục đích xã hội, như đóng góp vào các hoạt động cộng đồng hay
giúp đỡ người
thân/họ

hàng
.
Sự chuyển dịch lao động thông qua di cư là một tiềm
năng quan trọng góp phần làm giảm sức ép lao động – việc làm ở nông thôn, tạo
nguồn thu nhập, góp phần ổn định xã hội.
Theo số liệu điều tra Mức sống dân cư Việt Nam năm 1998, trên 23% hộ gia
đình nhận được tiền gửi về, số tiền này chiếm 38% chi tiêu của hộ gia đình.
Một nghiên cứu Viện Xã Hội Học (IOS, 1998) tiền gửi về của người di cư
chiếm khoảng 60-70% tổng thu nhập bằng tiền của các nông hộ.
Những khoản chi thường xuyên nhất là tiêu pha hàng ngày, trả nợ, học hành,
chăm sóc sức khỏe và kiến thiết nhà cửa.

du lịch
18.656 17.670
Nguồn: Tác động kinh tế - xã hội của di cư ở Việt Nam, 2008, ISDS
So sánh chi tiêu trung bình theo đầu người giữa các nhóm hộ
g
ia
đình.
11
Như ta
thấ
y
,
trong ngân sách chi tiêu hàng tháng của hộ
g
ia
đình
,
hộ nhận
được tiền gửi về thường
tiêu
nhiều hơn hộ không nhận trong hầu hết tất cả các
loại chi
tiêu
.
Dòng tiền gửi của người dân di cư trong nước cho thấy quyết định di cư không
chỉ dựa vào các mục đích và các nhu cầu chưa được đáp ứng của cá nhân người di cư
mà các quyết định này có thể bị tác động bởi các chiến lược của hộ gia đình muốn
nâng cao tối đa thu nhập hoặc giảm thiểu rủi ro bằng cách phân tán các nguồn thu
nhập.
Như vậy, các số liệu trên cho thấy tiền gửi về chủ yếu được dùng cho nhu cầu

nhập, nâng cao mức sống, tạo vốn kiến thiết cho kinh tế hộ gia đình nông thôn hiện
nay. Bên cạnh những lợi ích về mặt kinh tế, người lao động nông thôn từ thành phố trở
về còn mang theo những tri thức và nhận thức mới gắn liền với nhịp sống văn minh
của thành phố. Khách quan mà nói di cư đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Di cư
mùa vụ đến các thành phố lớn thực sự là việc cung cấp một nguồn lao động dồi dào
trái lại là biện pháp tăng thu nhập và nâng cao mức sống, tạo sự khởi sắc cho khu vực
nông thôn, góp phần vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo. Chính vì thế khi nghiên cứu
tác động di cư tới khu vực nông thôn thì cần đặc biệt lưu ý tới nhiều khía cạnh khác
nhau trong đời sống cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng để chỉ ra tính 2 mặt của vấn đề
này.
2.4. Tác động của di dân tới đói nghèo ở nơi đến
Cùng với sự biến đổi nhanh chóng của xã hội, người ta thấy mối liên hệ nông
thôn – đô thị đã trở nên thường xuyên hơn và đặc biệt dòng chảy của những người di
dân tự do từ khu vực nông thôn vào đô thị tìm kiếm việc làm đã tăng lên nhanh chóng.
Không chỉ vậy, di cư lao động nông thôn – đô thị dưới nhiều hình thức khác nhau giờ
đây đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược sinh tồn của nhiều hộ gia đình
nông dân.
Di dân làm cho thành phố tập trung nhiều người nghèo hơn, nhưng nó cũng là
nơi biểu hiện niềm hy vọng của người dân muốn thoát khỏi đói nghèo. Ảnh hưởng tích
cực của di dân đó là một phần trong số những người di cư lên thành thị sẽ có cơ hội tốt
hơn nơi thành thị, do thu nhập cao hơn, nhiều việc làm hơn, phục vụ tốt hơn, nhiều cơ
hội giáo dục. Tất nhiên, di dân cũng đặt ra những thách thứclớn. Người dân quê đến
thành phố thường có cuộc sống nghèo nàn. Họ ở những nơi ô nhiễm và nguy hiểm. Dù
rằng đa số người nghèo ở nước ta là nông dân, người nghèo thành thị chỉ chiếm
khoảng 15%, nhưng nghèo khổ đô thị đang trở thành một hiện tượng đặc biệt phức tạp.
Hơn 60% dân di cư ở độ tuổi 15 - 29 thiếu việc làm đang đổ về thành phố, khu công
nghiệp. Họ không nhà ở, hộ khẩu… Nhìn chung, dân di cư gặp khó khăn chủ yếu về
nhà ở, tìm việc làm. Dù biết trước là sẽ gặp khó khăn, song hầu hết dân di cư đều
quyết tâm tìm cuộc sống mới ở nơi di chuyển đến. Vấn đề sẽ bức thiết hơn khi quá
trình đô thị hoá được đẩy mạnh với mức gia tăng dân số cao trong vòng 20 năm tới:

mùa vụ đã ngay từ đầu đứng bên lề của đời sống đô thị với thu nhập thấp và đời sống
bấp bênh. Họ rất dễ bị tổn thương do không có khả năng tìm được việc làm tốt hơn,
không có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ đảm bảo đời sống như giáo dục cho con em,
chăm sóc y tế và an ninh trật tự của chính quyền nơi cư trú. Như vậy nhìn từ khía cạnh
này, ta thấy có một mối liên hệ chặt chẽ giữa di dân tự do và đói nghèo ở đô thị.
14
Mặt khác, sự gia tăng nhanh chóng của những người nhập cư gây thêm áp lực
đối với các cơ sở hạ tầng của đô thị. Những năm trở lại đây, Hà Nội tuy đã được Nhà
nước chú ý đầu tư về cơ sở hạ tầng, về điều kiện nhà ở nhưng vẫn thiếu và không đồng
bộ. Thực tế quỹ nhà ở, công trình công cộng mới xây dựng mặc dù tăng nhanh nhưng
không đáp ứng được nhu cầu đô thị hóa (trường học, chăm sóc sức khỏe, cấp thoát
nước, điện sinh hoạt và vệ sinh môi trường đô thị). Các vấn đề này càng trở nên trầm
trọng hơn khi thêm vào đó khối lượng lớn người di cư ngoại tỉnh tới Hà Nội.
Hình 4. Tỷ lệ và số lượng người di cư đến Hà Nội qua các năm
(Nguồn: Số liệu thống kê dân số Hà Nội qua các năm.)
Từ bảng số liệu ta có thể thấy, quy mô và tốc độ của lượng người di dân vào Hà
Nội qua các năm ngày càng tăng, chẳng hạn năm 2001 tỷ lệ người di cư vào Hà Nội là
người là 0.59% thì đến năm 2007 là 1.36% và con số đó đã là 1.55% vào năm 2010.
Như vậy, xu thế chung trong những năm tới là số lượng người lao động ngoại tỉnh vào
Hà Nội vẫn tăng lên một cách nhanh chóng. Hiện tượng này, nếu không có sự quản lý,
điều tiết sẽ gây ra những vấn đề phức tạp trong đời sống kinh tế xã hội cho thủ đô
trong những năm tới.
Nổi bật ở một số khía cạnh như nhà ở và môi trường ở, nước sinh hoạt và hệ
thống cấp thoát nước trong khu vực nội thành. Theo báo cáo thực trạng tình hình dân
cư và những biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý dân cư trên địa bàn Thành
phố Hà Nội ngày 17/12/2009 của UBND thành phố, số người các tỉnh về lao động tự
do ở Hà Nội là 79.639 người (không kể số sinh viên tạm trú thuê nhà trọ, người sống
15
lang thang tại địa bàn công cộng). Điều tra cho thấy, 51,5% số người di cư tạm thời
đang phải thuê nhà để ở, số còn lại cũng phải cư trú dưới các hình thức tạm bợ tại nơi

ninh trật tự rất nhức nhối ở thủ đô mà chúng ta đã và đang nỗ lực giải quyết.
Ví dụ như gầm cầu Long Biên, bãi rác Thành Công, bến xe Gia Lâm và các nhà
trọ dưới mức tồi tàn rải rác ở khắp các thành phố là nơi người lao động phổ thông
16
thường thuê trọ như một thế giới riêng của những người lao động ngoại tỉnh và dân
nghèo đô thị (Giá trọ một ngày từ ba đến năm nghìn đồng). Không kể tình trạng ô
nhiễm nặng từ rác thải và nước tù đọng, không có hệ thống cung cấp nước sạch, dịch
bệnh lây nhiễm tràn lan. Đây cũng là nơi trú ngụ của nhiều băng nhóm tội phạm có
hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội, mại dâm… Mấy năm gần đây, số lượng các nhà
hàng, khách sạn, các tụ điểm mát xa, vũ trường… ngày càng tăng lên địa bàn thành
phố, thu hút một số lượng lớn người di cư các tỉnh khác tới làm việc. Hiện nay, Hà Nội
có 5496 tiếp viên phục vụ trong các nhà hàng nhưng có tới 3809 người là lao động di
cư (61,1%), trong đó, 84,1% số tiếp viên bắt đầu đến thành phố từ năm 2004. Nhiều
tiếp viên ngoại tỉnh (27,5%) sống ngay tại các cơ sở làm việc, gây khó khăn cho vấn
đề quản lý các tệ nạn xã hội. Hiện tượng tiếp viên nhà hàng kèm theo các hoạt động
mãi dâm là phổ biến trên địa bàn thành phố. Có 16,2% tiếp viên làm trong các nhà
hàng đã có biểu hiện mãi dâm. Số gái mại dâm hầu hết chỉ học cấp II trở xuống, có
hoàn cảnh gia đình khó khăn, muốn ra thành phố để thay đổi cuộc sống. Đây cũng là
vấn đề đặt ra cho các cấp quản lý trật tự xã hội trong thành phố.
Với đặc diểm thành phần dân cư và loại hình nghề nghiệp phức tạp cho nên khó
khăn lớn nhất đối với thành phố là quản lý người nhập cư. Nhất là những đối tượng
sống tự do, không khai báo hộ khẩu thường trú. Một số đối tượng phạm pháp ở các
tỉnh, lợi dụng cơ hội này, đến trà trộn vào những người lao động, tăng thêm sự phức
tạp của an ninh trật tự trong thành phố. Có một số ít những người di cư lao động đến
qua tiếp xúc với lối sống đô thị cũng mắc vào các tệ nạn cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp,
… làm tăng tính chất phức tạp cho việc quản lý dân cư trên địa bàn thành phố. Những
diễn biến phức tạp của tình hình an ninh trật tự nói chung có ảnh hưởng trực tiếp tới
công tác quản lý người lao động tự do ngoại tỉnh.
Bên cạnh đó những người sống ở đây không được hưởng những lợi ích về mặt
phúc lợi xã hội: không mua bảo hiểm y tế, không được đến những trung tâm khám

thân. Điều cần nói là, mặc dù chưa có một con số thống kê nào về lượng tiền và lưu
18
lượng hàng luân chuyển do cư dân thành phố gửi về nông thôn, di cư nông thôn – đô
thị đang góp phần đáng kể vào việc cải thiện thu nhập, nâng cao mức sống, tạo vốn
kiến thiết cho việc phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn hiện nay đóng góp vào
công tác xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn. Đồng thời, việc di chuyển tới đô thị
làm việc để tạo nguồn vốn đầu tư cho sản xuất, để học hỏi và tiếp nhận những kiến
thức cần thiết nhằm tạo ra sự phát triển toàn diện cho bản thân và con, em mình ở
nông thôn, di dân nông thôn - đô thị trong tương lai vẫn tiếp tục diễn ra và có xu
hướng gia tăng.
Khu vực đô thị với nhu cầu lao động đa dạng và phong phú, vô hình chung đã
tạo việc làm và thu hút được sức lao động từ nông thôn, qua đó làm tăng thu nhập, cải
thiện cuộc sống. Di cư nông thôn – đô thị đang góp phần tích cực vào sự nghiệp xóa
đói giảm nghèo ở nông thôn hiện nay. Di cư nông thôn – đô thị không dẫn đến nông
thôn hóa thành thị, càng không hẳn là sự dịch chuyển nghèo đói ra thành phố. Mặc dù
lao động nhập cư có mức sống thấp hơn so với người dân thành phố, gặp nhiều khó
khăn về vấn đề nhà ở, họ chưa được tiếp cận với các điều kiện giáo dục, sức khỏe,
giải trí… Đối với các trung tâm đô thị, di dân tự do gây trở ngại cho công tác quản lý
hành chính, tăng thêm sức ép đối với hệ thống cơ sở hạ tầng vốn xuống cấp.
Vì vậy, bằng những chính sách ổn định, cụ thể cần tạo điều kiện để người lao
động nhập cư ổn định cuộc sống, bình đẳng và được hưởng đầy đủ quyền lợi và nghĩa
vụ của người công dân, khuyến khích mặt tích cực của lao động nhập cư đồng thời có
những giải pháp ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của di cư có thể tạo ra tại địa
bàn đô thị vốn đang phải đương đầu với nhiều vấn đề bức xúc về các tệ nạn xã hội,
môi trường, sự quá tải cơ sở hạ hầng… nhằm phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh
tế, công bằng và ổn định của thành phố cũng như ở nông thôn.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status