Tiểu luận:TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRUNG QUỐC ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI MỸ doc - Pdf 11


1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP


ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
TRUNG QUỐC ĐẾN CÁN CÂN
THƯƠNG MẠI MỸ

GVHD: NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO

Thành viên nhóm:
1. Lê Thị Mỹ Trang – TC01

Ảnh hưởng của NDT lên thâm hụt ngoại thương của Mỹ………………….17
4.1.Đo lường trực tiếp qua REER Mỹ………………………………………17
4,2. Đo lường gián tiếp qua PT1…………………………………………….18
4.3. Đo lường trực tiếp qua REER Trung Quốc…………………………….20
4. 4. Đo lường trực tiếp qua REER song phương Mỹ - Trung……………….20
5. Phản ứng của Mỹ đối với chính sách tỷ giá của Trung Quốc…………… 24
Kết luận………………………………………………………………………… 25
Phụ lục…………………………………………………………………………….26 3
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
Trung Quốc là một nước có nền kinh tế mới nổi, tốc độ tăng trưởng GDP rất
cao và ngày càng chiếm một vị thế quan trọng trên trường quốc tế. Bất kì một động
thái nào của Trung Quốc cũng có ảnh hưởng đến kinh tế thế giới. Việc định giá thấp
đồng nhân dân tệ đã trở thành một vấn đề căng thẳng với nhiều đối tác thương mại,
đặc biệt là Hoa Kỳ. Một số nhà phân tích cho rằng Trung Quốc đã cố tình thao túng
tiền tệ để đạt được lợi thế thương mại một cách không công bằng với các đối tác
thương mại khác. Họ cũng tranh luận rằng việc phá giá đồng tiền của Trung Quốc là
nhân tố chính gây nên thâm hụt thương mại lớn của Mỹ với Trung Quốc và làm mất
hàng ngàn công ăn việc làm trên toàn nước Mỹ, đặc biệt là trong sản xuất. Vào
tháng 2/2010 Tổng thống Obama tuyên bố rằng sự phá giá đồng tiền Trung Quốc đã
đặt các công ty của Mỹ vào “ bất lợi cạnh tranh lớn”, và ông ta đã cam kết sẽ đặt
vấn đề chính sách tiền tệ Trung Quốc lên ưu tiên hàng đầu. Tại một cuộc họp báo
vào tháng 10/2011, tổng thống Obama phát biểu rằng Trung Quốc cần thay đổi
chính sách tiền tệ của mình theo hệ thống thị trường, với nước Mỹ và các nước khác
như vậy là quá đủ rồi. Nhiều dự luật về chính sách tiền tệ Trung Quốc đã được giới
thiệu trong Quốc hộ 112, có dự luật 1619 được Thượng viện thông qua vào
11/10/2011. Dự luật sẽ áp dụng một số các biện pháp đối với các nước có tiền tệ
được coi là “sai lệch cơ bản”.

Bài nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn tổng quan về các vấn đề kinh tế
xung quanh cuộc tranh luận hiện nay về chính sách tiền tệ của Trung Quốc. Nó xác
định chi phí và lợi ích kinh tế mà chính sách này đem lại cho cả Trung Quốc và Hoa
Kỳ, và những tác động có thể nếu Trung Quốc cho phép đồng tiền của mình nâng
giá cao hoặc thả nổi tự do. 5
1. Mối quan hệ của chính sách tỷ giá hối đoái với cán cân thương mại
Tỷ giá hối đoái là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh
hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị
trường quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của
hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên đắt hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên rẻ
hơn. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho nhập khẩu và thuận lợi
cho xuất khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng tăng. Ngược lại, khi tỷ giá đồng
nội tệ giảm xuống, nhập khẩu sẽ có lợi thế trong khi xuất khẩu gặp bất lợi và xuất
khẩu ròng giảm xuống.
Giả thiết cơ bản cho mô hình là một nước sẽ sản xuất một hàng hoá được tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu đồng thời nhập khẩu hàng hoá khác từ phần còn lại
của thế giới, khi đó cân bằng thương mại (xuất khẩu ròng) NX được xác định như
sau:

Trong đó:
 NX : cán cân thương mại

đối của xuất khẩu so với nhập khẩu, đem lại sự bành trướng trong dài hạn của xuất
khẩu và một sự cắt giảm nhập khẩu, sẽ cải thiện được cán cân thương mại. Đường
cong J chỉ rõ thâm hụt ban đầu trong cán cân thanh toán, sau đó là một sự phục hồi.
Nó biểu diễn khả năng chi trả, lúc đầu đi xuống đột ngột, sau đó tăng lên có hình

7
chữ J. Hiện tượng nói trên được gọi là hiện tượng đường cong J và hiệu quả của
việc phá giá được gọi là hiệu ứng đường cong J.
2. Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc từ năm 2005 tới nay
Năm 1994, chính phủ Trung Quốc thống nhất hai hệ thống tỷ giá hối đoái với
tỷ lệ ban đầu là 8,70 RMB/$, cuối cùng được phép tăng lên 8,28 vào năm 1997 và
sau đó đã được giữ tương đối ổn định cho đến tháng 7/2005. Từ năm 1994 đến
tháng 7/2005, Trung Quốc duy trì một chính sách neo giá nhân dân tệ với đồng đô
la Mỹ tại một tỷ giá khoảng 8,28 RMB/$. Sự neo giá xuất hiện chủ yếu nhằm thúc
đẩy một môi trường tương đối ổn định cho thương mại và đầu tư nước ngoài tại
Trung Quốc (như một chính sách ngăn ngừa những biến động lớn trong tỷ giá hối
đoái) - một chính sách đã được nhiều quốc gia phát triển sử dụng trong giai đoạn
đầu phát triển.
2005: Trung Quốc cải cách việc neo tỷ giá
Chính phủ Trung Quốc thay đổi chính sách tiền tệ vào 21/7/2005, thông báo
rằng tỷ giá NDT sẽ được điều chỉnh, dựa trên cung và cầu thị trường và các tham
khảo để đặt sự dịch chuyển tỷ giá NDT trong một khung cố định, và tỷ giá hối đoái
của Mỹ đối với NDT sẽ được điều chỉnh nâng giá 2.1% từ 8.28 xuống còn 8.11.
Không giống tỷ giá hối đoái thả nổi thực sự, đồng NDT được phép dao động tăng
0,3% (sau đó là 0,5%).
Sau tháng 7/2005, Trung Quốc cho phép NDT tăng giá ổn định nhưng vẫn
rất chậm. Từ 21/7/2005 đến 21/7/2008, tỷ giá từ 8.11 xuống còn 6.83, NDT được
nâng giá 18,7%. Tình hình tại thời điểm này có thể dược mô tả như là “sự thả nổi có
quản lí” – sự điều tiết thị trường quyết định sự thay đổi tỷ giá NDT, nhưng chính
phủ lại chậm nâng giá NDT thông quá sự can thiệp của thị trường.

3.1 Tác động tích cực
3.1.1. Trung Quốc trở thành chủ nợ của thế giới
Điểm đặc biệt khiến cho Trung Quốc khác hẳn các nước khác trong giai
đoạn phát triển, là Trung Quốc phát triển mà không cần vay nợ, không những thế lại
còn thành chủ nợ của cả thế giới. Đó là do nước này tiêu dùng ít so với tiết kiệm, và
luôn xuất siêu.
Khả năng xuất siêu của họ dựa trên nhân công rẻ mạt (khiến giá thành rẻ),
tiêu dùng ít (kéo theo nhập khẩu hàng tiêu dùng ít, chủ yếu nhập đồ thô để chế biết

10
rồi xuất lại), và các thủ đoạn chiếm lĩnh thị trường (hứa cho vay, chào giá rẻ hơn đối
thủ, mua chuộc những người có quyền quyết định ở nước ngoài, v.v).
Trong những năm gần đây, thặng dư thương mại của Trung Quốc nằm ở mức
200-300 tỷ USD/năm. Cộng các khoản tiền thặng dư này lại qua nhiều năm, Trung
Quốc đã có được dự trữ ngoại tệ ở mức khổng lồ 2,4 nghìn tỷ USD vào đầu năm
2010 (gấp 24 lần GDP của Việt Nam), chủ yếu dưới dạng tiền cho các nước khác
vay, trong đó khoảng 70% (khoảng 1,7 nghìn tỷ USD) là cho Mỹ vay, trong đó
chính phủ liên bang của Mỹ vay gần 800 tỷ. Với “khoản tiền thừa” khổng lồ này,
Trung Quốc ở vào vị thế mạnh, “rủng rỉnh” săn lùng các cơ hội đầu tư ở các nơi, và
mua chuộc các nước bằng các lời hứa cho vay để đổi lấy các hợp đồng lớn và các
nhượng bộ về thương mại khác, ví dụ như quyền khai thác các khoáng sản.
Đặc biệt, khi mà khủng hoảng tài chính xảy ra năm 2008, lại là cơ hội để
Trung Quốc mua được nhiều tài sản lớn trên thế giới với giá rẻ, và nhiều chính phủ
gặp khó khăn về tài chính đã phải “ngửa tay” nhận “giúp đỡ” của Trung Quốc, với
cái giá phải trả là để cho Trung Quốc xâm chiếm thị trường hoặc khai thác tài
nguyên của họ.
3.1.2. GDP tăng trưởng
-GDP đạt 31,4 nghìn tỷ nhân dân tệ, tương đương với khoảng 4,52 tỷ USD
.Tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc năm 2009 đạt 9,6%.
-Quý 4/2009, GDP của Trung Quốc tăng 10,7% so với cùng kỳ năm ngoái,

157,5 tỷ USD, mức thấp nhất trong 5 tháng và ghi nhận mức tăng trưởng cùng kỳ
thấp nhất từ tháng 12/2009.

12
Theo thống kê của hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2011 của
Trung Quốc đạt hơn 3642 tỷ USD, tăng trên 22% so với năm trước; trong đó xuất
khẩu tăng 20,3%, nhập khẩu tăng 24,9%. Xuất siêu thương mại 155,14 tỷ USD,
giảm liên tục ba năm, đã từ chiếm 3,1% GDP năm 2010 giảm xuống còn 2%.
3.1.4. Thặng dư cán cân thương mại
- Năm 2011, thặng dư thương mại Trung Quốc đạt 155,14 tỷ USD, giảm
14,5% so với năm 2010.
-Tính chung cả năm 2010, Trung Quốc đạt mức thặng dư thương mại 183,1
tỷ USD, giảm 7% so với mức 196,1 tỷ USD trong năm 2009.
- Trong năm 2009, mức xuất siêu của Trung Quốc đã giảm 34% so với mức
đỉnh gần 300 tỷ USD đạt được vào năm 2008.Đây là mức thấp nhất trong 3 năm,
giảm mạnh so với mức thặng dư đỉnh 298,1 tỷ USD đạt được năm 2008.
3.1.5 Một số lợi ích khác
- Thúc đẩy hợp đồng thương mại của Trung Quốc bằng cách tăng mức độ
nhập khẩu có thể được mua bởi chính hoạt động xuất khẩu của nó.
- Tăng hiệu quả kinh tế (và do đó tăng trưởng kinh tế), phân phối lại các
nguồn lực từ lĩnh vực không hiệu quả (và thường được trợ cấp) của nền kinh tế
sang lĩnh vực hiệu quả hơn và cạnh tranh.
- Mức giá thấp hơn đối với hàng hoá và các dịch vụ nhập khẩu và nền kinh tế
trong nước gần hơn với canh tranh toàn cầu, do đó làm giảm giá cho người tiêu
dùng và cải thiện mức sống của Trung Quốc.
- Giúp làm giảm bớt sự chênh lệch lớn của phát triển kinh tế giữa các khu
vực ven biển của Trung Quốc (cũng như sự chênh lệch thu nhập ngày càng tăng trên
khắp Trung Quốc) đã được thúc đẩy một phần của chiến lược tăng trưởng xuất khẩu
của Trung Quốc và được xem bởi nhiều nhà phân tích đặt ra rủi ro tiềm tàng cho sự
ổn định.

trì tỷ giá mục tiêu. Mở rộng cung tiền góp phần vào chính sách nợ bởi các ngân
hàng, đã góp phần làm thừa công suất trong một số lĩnh vực, chẳng hạn như thép, và
bong bóng tài sản đầu cơ, chẳng hạn như trong bất động sản.Trong quá khứ, chính
phủ Trung Quốc đã cố gắng sử dụng kiểm soát hành chính, với kết quả hạn chế, hạn

14
chế vay vốn ngân hàng để lĩnh vực thừa công suất tồn tại. Trong thực tế, việc phân
bổ tín dụng của Trung Quốc chủ yếu dựa trên chính sách tài chính phi thị trường
chứ không phải do thị trường tự điều tiết nên không hiệu quả.
4. Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc lên cán cân
thương mại của Mỹ
Hình 1 cho thấy thặng dư tài khoản vãng lai của Trung Quốc tính bằng
%GDP (ca), sự chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc so với tốc
độ của thế giới (gc – gw), và (ở phía tay phải) chỉ số tỉ giá hiệu lực thực (REER) với
mốc cơ bản (năm gốc) là 100 vào năm 2005
1
.

Biến tỷ giá hối đoái có độ trễ
(REERL) và bằng mức trung bình của hai năm trước đó (ví dụ REERL năm 2010 là
trung bình của hai năm 2008 và 2009). Độ trễ phản ánh thời gian mà tín hiệu tỷ giá
hối đoái mất để được hiểu không phải chỉ là một biến động tạm thời, cũng như thời
gian để tác động đến các quyết định sản xuất và dòng thương mại. Tháng 2 năm
2001 đồng NDT tương đối mạnh (chỉ số REER của IMF khoảng 111, NDT tăng
giá) có liên quan đến thặng dư tài khoản vãng lai trung bình 2,8% GDP vào năm
2003. Sau đó một thời kỳ suy yếu của đồng NDT “cưỡi đồng đô la xuống” (rode
the dollar down) vào tháng 5 năm 2002 và tháng 6 năm 2005 (chỉ số trung bình
khoảng 101), làm cho thặng dư tăng vọt lên 11% GDP vào 2007. Sự sụt giảm sau
đó trong thặng dư Trung Quốc còn 5,8% GDP trong năm 2009 và 2010 trùng với độ
trễ của giai đoạn NDT mạnh (sự nâng giá NDT so với USD vào tháng 8 năm 2005

Quốc tương ứng với tỷ giá hối đoái thực và sự khác biệt tốc độ tăng trưởng. Sử
dụng dữ liệu từ hình 1, mối quan hệ này có thể được tính như sau:
(1) ca = 46.7 – 0.416 REERL – 0.155 (gc – gw) + 0.785 T;
(5.9) (–6.1) (–0.6) (5.6)
R
2
hiệu chỉnh = 0.89
Trong đó ca là thặng dư tài khoản vãng lai tính bằng %GDP, REERL là tỷ
giá thực hiệu lực có độ trễ, gc là tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc, gw là tốc độ

16
tăng trưởng của thế giới, T là biến xu hướng thời gian (có giá trị từ 1 đến 11 tương
ứng từ năm 2000 đến 2010), và trong ngoặc đơn là giá trị kiểm định t.
Các hệ số về tỷ giá và thời gian rất có ý nghĩa về mặt thống kê. Hệ số của tỷ
giá thực hiệu lực REER có nghĩa là khi NDT tăng giá 1% thì tài khoản vãng lai
giảm 0,45% GDP tương đương 25 tỷ đô năm 2010
3
. Sự ảnh hưởng này lớn hơn tính
toán tương tự ra kết quả 0,3% (tương đương 17 tỷ đô) của Cline (2008) trong mô
hình tỷ giá cân bằng đa phương.( multilateral equilibrium exchange rate model)
Độ co giãn của giá xuất khẩu trong kết quả này là tương đối cao. Như lập
luận của Cline (2005 và 2008), những thay đổi trong tài khoản vãng lai có quan hệ
với GDP là kết quả của những thay đổi xuất khẩu dẫn đến điều chỉnh tiền tệ, bởi vì
khối lượng nhập khẩu thay đổi có xu hướng được trung hòa bởi những thay đổi
trong giá trị nội tệ của ngoại tệ
4
. Tháng 8 năm 2006, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
Trung Quốc khoảng 35%GDP (IMF 2010a), hệ số -0,45%GDP trong tài khoản vãng
lai với mỗi 1% tăng giá nội tệ có ý nghĩa rằng độ co giãn xuất khẩu theo giá là -1,29
(= -0,45/0.35) (1% tăng giá nội tệ làm giảm ca 0,45%GDP và giảm xuất khẩu

0,8% GDP mỗi năm. Nhìn chung kết hợp tỷ giá và hệ số xu hướng thời gian có ngụ
ý rằng cần có một sự nâng giá với tốc độ khoảng 1,7% mỗi năm để giữ cho thặng
dư tài khoản vãng lai không tăng thêm
7
(giữ nguyên tỉ lệ so với GDP ). Phát hiện
này phù hợp với những gì Goldstein và Lardy (2009,pp. 12,24) quan sát được là có
một sự chênh lệch tốc độ tăng trưởng sản lượng mỗi năm khoảng 3% giữa Trung
Quốc và các bạn hàng thương mại; và phù hợp với phát hiện của Mussa
(2008,p.285) “quỹ đạo cân bằng dài hạn của tỷ giá hối đoái thực Trung Quốc có
một độ nghiêng hướng lên trung bình khoảng 2% mỗi năm”. Sự nới rộng điều kiện
nổi bật chẳng hạn như quan điểm của Balassa-Samuelson, theo đó có một sự tăng
trường kỳ trong tỷ giá thực hiệu lực REER của nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đó
chủ yếu là hệ quả của tăng trưởng sản lượng nhanh trong hàng hóa ngoại thương
hơn là những hàng hóa phi ngoại thương.
Bằng chứng ở đây hỗ trợ cho quan điểm tỷ giá thực hiệu lực REER ảnh
hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai trong dự kiến. Những câu chuyện đặc biệt
trong sách vở không áp dụng được với Trung Quốc (ví dụ vì sự phụ thuộc xuất khẩu
lên đầu vào nhập khẩu làm vô hiệu tác động của tỷ giá, hoặc bởi vì các công ty đa
quốc gia bỏ qua tỷ giá hối đoái trong quyết định tìm nguồn cung ứng) bị bác bỏ bởi
các kết quả ở đây (và những nghiên cứu khác gần đây như Ahmed 2009)
Ảnh hưởng của NDT lên thâm hụt ngoại thương của Mỹ
1. Đo lường trực tiếp qua REER Mỹ 6
Năm 2008, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ là 36,6%GDP và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ là 28,4% (IMF
2010a). Với độ co giãn thu nhập là 1 cho cả xuất và nhập khẩu thì khi tốc độ tăng trưởng nước ngoài giảm
0,5% và tăng trưởng trong nước tăng 0,5% (tức là tăng chênh lệch thêm 1%) sẽ giảm xuất khẩu 0,183%GDP
và tăng nhập khẩu 0,142%GDP, tổng sụt giảm trong thặng dư thương mại là 0,325%GDP.
7

hình của Cline (2008).
Những người hoài nghi sẽ lập luận rằng các bằng chứng không hỗ trợ cho mô
hình tính toán như thế vì sự mất cân bằng song phương Mỹ - Trung Quốc đã không
cải thiện từ 2005 đến 2008 dù đồng NDT tăng giá. Đúng là sự mất cân bằng song
phương đã lớn hơn chứ không thu hẹp lại trong khoảng thời gian này, từ thâm hụt

8
Tỷ lệ của xuất và nhập khẩu song phương Mỹ-Trung chia cho tổng xuất và nhập khẩu của Mỹ năm 2006.

19
203 tỷ đô la năm 2005 tăng lên 268 tỷ đô là năm 2008 (BEA 2010). Tuy nhiên, giải
thích như thế sẽ bỏ qua hai yếu tố quan trọng : độ trễ thời gian để tín hiệu tỷ giá hối
đoái ảnh hưởng đến kết quả, và bất cứ xu hướng bất lợi nào theo thời gian trong cán
cân song phương cũng có thể xảy ra nếu không có sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái
(tức là chưa có tăng giá 1,74% NDT mỗi năm nào để bù cho 0,785%GDP thặng dư
của Trung Quốc mỗi năm).
Hình 02 cán cân thương mại Mỹ - Trung tính bằng %GDP Mỹ và tỷ giá
thực hiệu lực có độ trễ của đồng NDT

Hình 2 cho thấy quỹ đạo của cán cân thương mại song phương của Mỹ với
Trung Quốc (tính bằng %GDP Mỹ) so với tỷ giá thực hiệu lực có độ trễ của đồng
NDT (đa phương) gọi là REERL
9
. REER có độ trễ là trung bình của hai năm trước
đó. Thêm nữa, hình còn chỉ ra tỷ giá thực hiệu lực có độ trễ REERL tương ứng của
NDT so với đô la Mỹ (RB*L), giảm phát giá tiêu dùng ở cả hai nước. Có sự sụt

9
Dữ liệu thương mại Mỹ-Trung lấy từ BEA (2010)


Tương tự như ở trên, chỉ số tỷ giá trung bình giai đoạn 1998-2007 là 107,7, 1% REER tăng lên tương
đương 1,077 đơn vị, và vì thế cải thiện cán cân thương mại của Mỹ 1,077 x 0,0343 = 0,037.

21
Nếu sử dụng REERL song phương, kết quả tốt nhất là sự thay đổi so với năm
trước. Kiểm định này có:
(3) dB = –0.127 + 0.0282 dRB*L percent + 0.0452 dGDIF;
(–3.7) (3.5) (2.1)
R2 hiệu chỉnh = 0.62
Trong đó dB là sự thay đổi so với năm trước đó trong cán cân song phương
(tính bằng %GDP Mỹ), dRB*L là phần trăm thay đổi trong REERL song phương,
và dGDIF là sự thay đổi so với năm trước của biến sự khác biệt tốc độ tăng trưởng.
Lần này hệ số tính được cho thấy rằng 10% thay đổi trong REERL song phương
dẫn đến một sự thay đổi 0,282%GDP tương đương 41 tỷ đô la trong cán cân thương
mại song phương. Sự khác biệt tốc độ tăng trưởng 1% (lại một lần nữa) cải thiện
cán cân thương mại song phương của Mỹ 0,0452%GDP tương đương 6,6 tỷ đô la.
Những kiểm định trong phương trình (2) và (3) đã cho ra kết quả sự ảnh
hưởng của nâng giá NDT lên cán cân song phương của Mỹ với Trung Quốc mạnh
hơn so với những gì thu được bằng việc sử dụng hệ số ảnh hưởng REER Mỹ của
Cline (2008) hay sử dụng tỷ trọng ảnh hưởng của Mỹ lên Trung Quốc trong phương
trình (1). Với 10% nâng giá NDT thì độ biến thiên của 4 cách tính này là 22 tỷ đô
(sử dụng REER Mỹ), 38 tỷ đô (phương trình 1), 54 tỷ đô (phương trình 2), hay 41
tỷ đô (phương trình 3). Cần phải đánh giá đúng độ trễ của tỷ giá hối đoái cũng như
xu hướng theo thời gian trong việc xác định những hiệu ứng này trong các phương
trình (1) (2) (3).
Xu hướng bất lợi theo thời gian ở phương trình (2) và xu hướng bất lợi theo
thời gian ở phương trình (3) thì khá phù hợp với kết quả của phương trình (1),
nhưng vẫn lớn hơn những gì ta mong đợi. Vì vậy, xu hướng tăng thặng dư tài khoản
vãng lai của Trung Quốc khoảng 0,8%GDP mỗi năm kết hợp với tỷ trọng 0,15 của
Mỹ trong thương mại Trung Quốc sẽ cho phép ta dự đoán một xu hướng bất lợi

Thặng dư cán cân thương mại Mỹ nhờ sự nâng giá cảm ứng của các đồng
tiền vệ tinh có thể tính được bằng 2 cách thay thế: từ quan điểm của ảnh hưởng lên
REER Mỹ, và từ quan điểm của tỷ trọng Mỹ trong thương mại các nước ảnh hưởng
lên những thay đổi trong REER của nước đó. Malaysia, Singapore và Đài Loan có
tỷ trọng trong thương mại Mỹ lần lượt là 1,5% , 1,8% và 2,2%. Nâng giá tương ứng
3 đồng tiền này 10%, 10% và 2,5% sẽ dẫn đến sự giảm giá 0,385% của đồng đô la
Mỹ. Sử dụng hệ số ảnh hưởng cán cân vãng lai của Mỹ, kết quả là sụt giảm thâm
hụt Mỹ 0,062%GDP ( (1,5x0,1 + 1,8x0,1 + 0,025x 2,2 )x0,16 = 0,062%) tương
đương 9 tỷ đô la. (quan điểm REER Mỹ)
Đối với hướng tiếp cận dựa trên tỷ trọng của Mỹ trong thương mại các nước,
thặng dư của Mỹ sẽ là 0,8 tỷ đối với Singapore, 1,1 tỷ đối với Malaysia và không có
gì từ Đài Loan
11
. Vì vậy sự kết hợp hiệu ứng tiền tệ vệ tinh sẽ giảm bớt thâm hụt
của Mỹ khoảng 2 đến 9 tỷ đô la.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận sẽ có một sự tăng mạnh trong NDT hay không khi
Trung Quốc trở lại chính sách tiền tệ linh hoạt hơn gần đây, nếu việc đó xảy ra thì
sẽ dẫn đến sự tăng giá tiền tệ của Malaysia, Singapore, và có thể một phần nhỏ hơn
ở Đài Loan. Như chúng ta có thể thấy ở hình 3, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu
đang ở giai đoạn tồi tệ vào quý 3 năm 2008, những đối tác khu vực này đã tách rời

11
Dựa trên các hệ số ảnh hưởng tài khoản vãng lai của Malaysia, Singapore và Đài Loan, kết hợp với tỷ
trọng của Mỹ trong thương mại của các nước đó (Cline 2008). Tính toán của chúng ta là:ΔTB
US
= - ∑
ΔR
i
γ
i

đoái giữa đồng Nhân dân tệ và đồng đô-la Mỹ. Ông cho rằng Trung Quốc hiện đang
gây ra thêm các vấn đề đối với nền kinh tế thế giới và tán thành các biện pháp cứng
rắn đối với quốc gia này.
Theo Thời báo New York, ông Paul Krugman đã phản đối chính sách ghìm
giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc. Ông cho rằng nó sẽ ảnh hưởng đáng kể đến
sự phát triển kinh tế toàn cầu và cần có những hành động trước vấn đề này.
Vậy trước việc chính phủ Trung Quốc ghìm giá đồng Nhân dân tệ, sự phản
đối của Mỹ mạnh mẽ đến mức độ nào?
Theo ông Ben Simpfendorfer, trưởng nhóm chuyên gia kinh tế Trung Quốc
tại Ngân hàng Hoàng gia Scotland, đây thật sự là một vấn đề nghiêm trọng. Nếu
Trung Quốc muốn tăng giá trị tiền tệ thì có thể tiến hành chính sách ổn định tỉ giá
hối đoái với đồng tiền của các quốc gia như Ấn Độ và Việt Nam thay vì Mỹ.
Những ý kiến tranh luận do ông Krugman và một số chuyên gia khác đưa ra
cho rằng việc Trung Quốc duy trì tỷ giá đồng Nhân dân tệ/USD ở mức 6,83 nhân
dân tệ/USD từ tháng 10/2008 là nhằm hỗ trợ xuất khẩu vì nó sẽ giúp cho các mặt

25
hàng xuất khẩu của Trung Quốc có giá rẻ hơn và nhờ đó, Trung Quốc sẽ có lợi thế
cạnh tranh cao hơn.
Các nhà phê bình cũng chỉ trích việc Bắc Kinh tiến hành bán ra một khối
lượng khổng lồ đồng Nhân dân tệ để giúp cho đồng tiền này giảm giá và thu về
được một lượng ngoại tệ trị giá khoảng 2.4 tỉ đô la Mỹ.Các nhà phân tích cho rằng
đô-la Mỹ chiếm khoảng hai phần ba trong tổng số ngoại tệ này.
Tuy nhiên, theo ông Ben Simpfendorfer, các nhà hoạch định chính sách
Trung Quốc không có nhiều lựa chọn khác ngoài biện pháp tích trữ đô-la Mỹ. Ông
cho biết: “Rất khó để có thể đa dạng hóa các hình thức lưu trữ một lượng tiền tệ lớn
như vậy. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, các nước Châu Âu đang rất lo ngại về
vấn đề khủng hoảng nợ của Hy Lạp cộng với việc tỷ lệ thanh toán công nợ ở các
nước đang phát triển quá cao cho thấy nền kinh tế của các nước đang phát triển rất
nhỏ bé và không bền vững. Chính vì vậy, Trung Quốc đã quyết định dự trữ tiền tệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status