TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠN LUẬN VĂN THẠC SĨ - Pdf 29

B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T TP.HCM
NGUYN TH LINH

TÁC NG CA T GIÁ HI OÁI LÊN
CÁN CÂN THNG MI VIT NAM
TRONG NGN HN VÀ DÀI HN
Chuyên ngành : Kinh t tài chính - Ngân hàng
Mã s : 60.31.12


2 LỜI CẢM ƠN
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu và Khoa Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên
cứu trong suốt thời gian qua.
Tôi chân thành cảm ơn các Thầy Cô Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong suốt quá trình tham gia học tập tại Trường.
Tôi chân thành cảm ơn Thầy –GS.TS. Trần Ngọc Thơ đã tận tình chỉ bảo, góp ý và
động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để
tôi hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn.

Tác giả luận văn
CHƯƠNG III 29
ƯỚC LƯỢNG TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM 29
3.1.Kiểm ñịnh nghiệm ñơn vị các biến cân bằng 29
3.3. Kiểm ñịnh ñồng liên kết theo phương pháp Johansen 31
3.4. Kiểm ñịnh mối quan hệ trong dài hạn 32
3.5. Tác ñộng của TGHĐ lên cán cân thương mại trong ngắn hạn – Mô hình hiệu chỉnh sai số
ECM 34
3.6. Những hạn chế trong kết quả nghiên cứu 36
KẾT LUẬN 38
4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Tài liệu tham khảo tiếng Việt 39
Tài liệu tham khảo tiếng Anh 40
PHỤ LỤC 42
PHỤ LỤC 1: Tóm tắt về kiểm ñịnh ADF, mô hình tự hồi quy vecto VAR, mô hình vecto hiệu
chỉnh sai số VECM và dữ liệu nghiên cứu 42
PHỤ LỤC 2: Kết quả kiểm ñịnh tính dừng ADF các biến 60
PHỤ LỤC 3: Kết quả kiểm ñịnh ñồng liên kết Johansen 70
PHỤ LỤC 4: Kết quả ước lượng mô hình ECM 72
PHỤ LỤC 5: Kết quả kiểm ñịnh ñồng liên kết của hàm cầu xuất khẩu (LnX) 74
PHỤ LỤC 6: Kết quả kiểm ñịnh ñồng liên kết của hàm cầu nhập khẩu (LnM) 75
PHỤ LỤC 7: Kết quả chạy mô hình VECM hàm cầu xuất khẩu (LnX) 77
PHỤ LỤC 8: Kết quả chạy mô hình VECM hàm cầu nhập khẩu (LnM) 79


- CPI: Chỉ số giá tiêu dùng - Consumer Price Index
- ECM: Mô hình hiệu chỉnh sai số - Error correction model
- GSO: tổng cục thống kê Việt Nam - General Statistics Office
- GDP: thu nhập quốc dân – Gross Domestic Product
- IFS: thống kê tài chính - International Financial statistics
- IMF: quỹ tiền tệ quốc tế - International Monetary Fund
- NHNN: Ngân hàng nhà nước – The state Bank of Việt Nam
- USD: Đô la Mỹ - United State Dollars
- VAR : Mô hình tự hồi quy vecto – Vecto Autoregresstion Model
- VECM: Mô hình vecto hiệu chỉnh sai số - Vector Error Correction Model
- VND: Việt Nam đồng

6 TÓM LƯỢC
Nghiên cứu này thực hiện nhằm kiểm tra sự tác động của những thay đổi của tỷ
giá hối đoái lên cán cân thương mại của Việt Nam trong ngắn và dài hạn giai đoạn
2000 – 2011. Trong bài nghiên cứu này các yếu tố sau được coi là yếu tố chính tác
động lên cán cân thương mại: tỷ giá hối đoái thực, thu nhập trong nước và thu nhập từ
các đối tác thương mại chính. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu thực
nghiệm bằng cách sử dụng lý thuyết đồng liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số-ECM
để ước lượng các biến trong mô hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến nghiên cứu
đều có mối tương quan đồng liên kết. Trong ngắn hạn, ngay sau khi có cú sốc tỷ giá
làm cho cán cân thương mại xấu đi, thu nhập trong nước và nước ngoài không có tác
động rõ rệt lên cán cân thương mại. Tuy nhiên trong dài hạn thì cả tỷ giá hối đoái và
thu nhập quốc dân đều có ảnh hưởng lên cán cân thương mại, điều này phù hợp với
điều kiện Marshall-Lerner.
quyết được vấn đề thâm hụt thương mại. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu lý thuyết và
thực nghiệm, câu hỏi đặt ra là liệu thay đổi của tỷ giá ngoại tệ có phải là một chính
sách tốt để cải thiện cán cân thương mại và khả năng cạnh tranh quốc tế của một quốc
gia trong giai đoạn mở cửa này? Vẫn còn nhiều bất đồng ý kiến liên quan tới hiệu quả
của việc giảm giá tiền tệ. Do đó, việc đánh giá mối quan hệ và tác động của tỷ giá hối
đoái và cán cân thương mại bằng các phương pháp kinh tế sử dụng chuỗi thời gian có
thể cung cấp cái nhìn mới về vấn đề này. Theo nghiên cứu của Phạm Thị Tuyết Trinh
(2012) Đại học Ngân hàng thì sau sự mất giá của tỷ giá thực, cán cân thương mại ban
đầu sẽ đi vào suy thoái, được cải thiện sau 4 quý và cân bằng mới sẽ được thiết lập sau
12 quý. Trong đề tài nghiên cứu khoa học của Dương Văn Kháng (2009) cũng đưa ra
bằng chứng cho thấy: khi tỷ giá thực tăng lên (đồng nội tệ mất giá), hàng hoá xuất khẩu
trở nên rẻ hơn so với người tiêu dùng nước ngoài. Tuy nhiên, xuất khẩu không tăng lên
ngay được vì hoạt động xuất khẩu thường được thực hiện theo hợp đồng kỳ hạn. Còn
kim ngạch nhập khẩu thì tăng lên do giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng. Do vậy cán cân
8 thương mại Việt Nam có xu hướng giảm xuống cho đến khi tỷ giá thực sự tác động đến
xuất khẩu làm cải thiện cán cân thương mại. Điều này phù hợp với “đường cong tuyến
J”. Irina Tochitskaya cũng đưa ra được kết luận rằng sự mất giá của đồng nội tệ có tác
động tích cực trong ngắn hạn và dài hạn lên cán cân thương mại (CCTM) của Belarus;
ngay khi có sự thay đổi của tỷ giá làm cho CCTM xấu đi do sự bất cân xứng giữa
những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu; tuy nhiên trong dài hạn thì lại có tác
động tích cực lên CCTM của Belarus. Vì vậy, có thể xem xét chính sách dựa trên sự
giảm giá của đồng nội tệ là giải pháp hợp lý để cân bằng CCTM của Belarus.
Bài viết này kế thừa các phương pháp nghiên cứu trên để tiếp tục nghiên cứu
“Tác ñộng của tỷ giá hối ñoái lên cán cân thương mại của Việt Nam trong ngắn hạn
và dài hạn giai ñoạn 2000 – 2011”, đánh giá những tác động của tỷ giá thực lên hoạt
động xuất nhập khẩu của Việt Nam, liệu sự tăng giảm giá đồng nội tệ có giúp cải thiện
được cán cân thương mại hay không? có giải quyết được vấn đề thâm hụt thương mại

đồng nghĩa với sự gia tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế.
Tỷ giá thực song phương (RER) là tỷ giá doanh nghĩa đã được điều chỉnh theo
mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước, nó là chỉ số thể hiện sức mua của đồng nội tệ
so với đồng ngoại tệ. Vì thế có thể xem, tỷ giá thực song phương là thước đo sức cạnh
tranh trong mậu dịch quốc tế của một quốc gia so với quốc gia khác.
Tỷ giá thực song phương chỉ cho chúng ta biết sự lên xuống giá của đồng nội tệ
so với một đồng ngoại tệ. Còn tỷ giá thực đa phương hay tỷ giá thực hiệu lực (REER)
được tính toán nhằm định giá trị thực của đồng nội tệ so với một loại ngoại tệ khác, tuy
nhiên nó lại liên quan tới tỷ trọng thương mại và chỉ số lạm phát của Việt Nam so với
nhiều quốc gia khác. Tỷ giá thực hiệu lực cung cấp những thông tin quan trọng về sức
cạnh tranh hàng hóa của một nền kinh tế.
10 1.1.2. Cán cân thương mại
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh
toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu
của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức
chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng. Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0,
thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán
cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở
trạng thái cân bằng.
* Những nhân tố tác ñộng ñến cán cân thương mại
- Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân (GDP): Thu nhập thực tế (đã điều chỉnh theo
lạm phát) tăng làm gia tăng mức tiêu thụ hàng hóa. Một sự gia tăng trong chi tiêu hầu
như phản ánh một mức cầu gia tăng đối với hàng hóa nước ngoài. Vì vậy, GDP tăng đã
làm nhập khẩu có xu hướng tăng.
- Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng nhanh hơn. Sự
gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (MPZ).
MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu. Ngoài ra, nhập

động này. Kết quả là cán cân thương mại, được đo bằng hiệu số giữa kim ngạch xuất
khẩu và nhập khẩu sẽ suy giảm. Tuy nhiên, qua thời gian, lượng nhập khẩu sẽ giảm do
giá cả nhập khẩu tăng. Đồng thời, giá cả hàng hoá xuất khẩu tính bằng ngoại tệ sẽ
giảm, làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế, dẫn đến lượng xuất khẩu tăng.
Như vậy, theo thời gian (trong dài hạn), cán cân thương mại sẽ chuyển biến theo chiều
hướng tích cực (thặng dư). Biểu diễn hiện tượng này trên đồ thị có thể thấy giống hình
chữ J.
* Lý thuyết ñường cong J
Đường cong J là một đường mô tả hiện tượng tài khoản vãng lai của một quốc
gia sụt giảm ngay sau khi quốc gia này phá giá tiền tệ của mình và phải một thời gian
sau tài khoản vãng lai mới bắt đầu được cải thiện. Quá trình này nếu biểu diễn bằng đồ
thị sẽ cho một hình giống chữ cái J.
Theo kết quả nghiên cứu của Krugman (1991), người đã tìm ra hiệu ứng đường
cong J khi phân tích cuộc phá giá đô la Mỹ trong thời gian 1985 –1987, ban đầu thì cán
cân vãng lai xấu đi, sau đó khoảng hai năm cán cân vãng lai đã được cải thiện.
12
Hình 1.1: Hiệu ứng ñường cong J


t (
-
)

13 + Tỷ trọng hàng nhập khẩu trong giá thành hàng sản xuất trong nước.
+ Mức độ linh hoạt của tiền lương.
+ Tâm lý người tiêu dùng và thương hiệu quốc gia của hàng hóa trong nước (cầu hàng
hóa trong ngắn hạn có độ co giãn thấp hơn dài hạn).
* Điều kiện Marshall – Lerner
Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng, để cho việc phá giá tiền tệ có tác động tích
cực tới cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co giãn theo giá cả của
xuất khẩu và độ co giãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1. Điều kiện này đặt
theo tên của hai nhà học giả kinh tế đã phát hiện ra nó, đó là Alfred Marshall và Abba
Lerner.
Phá giá dẫn tới giảm giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ, do đó nhu cầu
đối với hàng xuất nhẩu tăng lên. Đồng thời giá hàng nhập khẩu định danh bằng nội tệ
trở nên cao hơn, làm giảm nhu cầu đối với hàng nhập khẩu.
Hiệu quả ròng của phá giá đối với cán cân thanh toán tùy thuộc vào các độ co
giãn theo giá. Nếu hàng xuất khẩu co giãn theo giá, thì tỷ lệ tăng lượng cầu về hàng
hóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá; do đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng. Tương tự, nếu hàng
nhập khẩu co giãn theo giá, thì chi cho nhập khẩu hàng hóa sẽ giảm. Cả hai điều này
đều góp phần cải thiện cán cân thanh toán.
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, hàng hóa thường không co dãn theo giá cả
trong ngắn hạn, bởi vì thói quen tiêu dùng của người ta không thể thay đổi dễ dàng. Do
đó, điều kiện Marshall-Lerner không được đáp ứng, dẫn tới việc phá giá tiền tệ chỉ làm
cho cán cân thanh toán trong ngắn hạn xấu đi. Trong dài hạn, khi người tiêu dùng đã
điều chỉnh thói quen tiêu dùng của mình theo giá mới, cán cân thanh toán mới được cải

giảm giá tiền tệ cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn, thì các phản ứng trong
ngắn hạn có thể là khác nhau. Hơn nữa, trong ngắn hạn sự giảm giá làm cho CCTM
xấu đi và chỉ cải thiện sau khi qua một vài giai đoạn. Nói chung, phản ứng trong ngắn
hạn của CCTM với việc giảm giá tiền tệ không theo bất kỳ mô hình cụ thể nào. Kết quả
là tùy thuộc từng quốc gia khác nhau.
Irina Tochitskaya (2007) đưa ra một nghiên cứu thực nghiệm tại Belarus bằng
cách sử dụng mô hình của Rose and Yellen (1989), Bahmani-Oskooee (2001) nghiên
cứu ảnh hưởng của sự thay đổi của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại Belarus
15 trong ngắn hạn và dài hạn. Tác giả sử dụng dữ liệu theo quý từ năm 1995 tới 2004 và
dữ liệu thương mại của Belarus với 10 nước là đối tác thương mại chính. Nghiên cứu
bắt đầu bằng cách kiểm định tính dừng của các biến, sau đó sử dụng phương pháp đồng
liên kết Johansen. Tác giả mô hình hóa các tác động ngắn hạn sử dụng phương trình
hồi quy OLS và sử dụng kỹ thuật đồng liên kết để ước lượng theo điều kiện Marshall-
Lerner để xác định sự giảm giá ảnh hưởng lên cán cân thương mại trong dài hạn như
thế nào. Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng sự mất giá đã ảnh hưởng lên CCTM trong
ngắn hạn. Ảnh hưởng ngay của sự giảm giá có thể được giải thích bởi sự tồn tại của độ
trễ. Đầu tiên, đó là độ trễ của các nhà nhập khẩu để nhận ra rằng giá cả tương đối đã
thay đổi do thông tin không hoàn hảo. Thứ hai, có độ trễ đối với các doanh nghiệp và
người tiêu dùng để đặt hàng nhập khẩu mới. Thứ ba, có độ trễ trong sản xuất và giao
dịch. Đồng thời cũng do sự bất cân xứng giữa những thay đổi trong xuất khẩu và nhập
khẩu. Tác giả cũng phân tích ảnh hưởng của sự thay đổi của REER lên cán cân thương
mại theo phương pháp tiếp cận VAR cho thấy kết quả là cú sốc tỷ giá làm cho cán cân
thương mại cải thiện sau 2 quý, ngay sau đó sự ảnh hưởng tiêu cực kéo dài trong quý
3,4, phù hợp với kết quả thu được từ mô hình ARDL. Tuy nhiên, tác động tiêu cực lên
CCTM là rất nhỏ. Trong dài hạn tác giả ước lượng điều kiện Marshall- Lerner và thu
được kết quả khá tích cực và cho thấy sự giảm giá đồng tiền có thể cải thiện CCTM
trong dài hạn và có ảnh hưởng đáng kể lên xuất khẩu của Belarus. Cụ thể đó là khi phá

và ngắn hạn của tỷ giá hối đoái thực lên cán cân thương mại song phương của
Malaysia với Mỹ, Nhật Bản và Singapore bằng cách sử dụng các dữ liệu hàng tháng
trong thời gian 1976-2004. Hơn nữa, nghiên cứu này xem xét các tác động của việc
thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái cố định tại Malaysia vào năm 1994 và cuộc khủng
hoảng tài chính châu Á (1997-1998) cũng như thực hiện các tỷ giá hối đoái cố định ở
Malaysia sau cuộc khủng hoảng trong cán cân thương mại song phương. Mô hình hàm
số đẩy được ước tính để điều tra sự linh hoạt của cán cân thương mại song phương
trước cú sốc về tỷ giá thực. Nghiên cứu này cho thấy rằng có một mối quan hệ dài hạn
giữa các cán cân thương mại song phương, tỷ giá thực tế, thu nhập trong nước và thu
nhập của nước ngoài. Mô hình hàm số đẩy tổng quát cho thấy rằng hiện tượng đường
cong J được tìm thấy trong ngắn hạn, đặc biệt cho toàn bộ chu kỳ lấy mẫu. Trong dài
17 hạn, sự giảm giá hay mất giá của tỷ giá hối đoái sẽ cải thiện cán cân thương mại song
phương. Vì vậy, điều kiện Marshall-Lerner nắm giữ trong trường hợp này.
Wilson (1999: 14) kiểm tra cán cân thương mại song phương của Malaysia với
Mỹ và Nhật Bản và công bố rằng tỷ giá hối đoái thực không có tác động đáng kể cán
cân thương mại thực và không tìm thấy bằng chứng của hiện tượng đường cong J. Hơn
nữa, nghiên cứu cũng cho thấy không có bằng chứng rằng giá sản xuất của hàng xuất
khẩu của Malaysia ra nước ngoài chứ không phải là đồng tiền trong nước. Điều này sẽ
tạo ra một sự gia tăng trong giá trị đồng tiền trong nước của xuất khẩu giống như là
mất giá tiền tệ. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng quý trong giai đoạn 1970-1996.
Nghiên cứu sử dụng mô hình thực nghiệm của Rose và Yellen (1989) có nguồn gốc từ
mô hình hai quốc gia thay thế không hoàn hảo. Trong một bài nghiên cứu khác, Wilson
(2001: 408-409) đã kiểm tra mối quan hệ giữa cán cân thương mại song phương thực
đối với hàng hóa trao đổi và tỷ giá hối đoái thực của Singapore, Hàn Quốc và
Malaysia, tương ứng với Mỹ và Nhật Bản. Nghiên cứu sử dụng cùng một mô hình thực
nghiệm và mẫu cùng kỳ như trước. Tuy nhiên, nghiên cứu này sử dụng phương pháp
ước lượng khác. Kết quả cho thấy rằng tỷ giá hối đoái thực không có tác động đáng kể

trong thời kỳ 1995 – 2004, tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa đồng Việt Nam với các
đồng tiền của các bạn hàng chủ yếu thể hiện xu hướng tăng, đồng nghĩa với việc đồng
Việt Nam mất giá. Tuy nhiên, dựa trên kết quả tính toán được, tỷ giá hối đoái thực tế
đã bị giảm tới hơn 20%. Trong giai đoạn 1992-1997, việc duy trì tỷ giá hối đoái danh
nghĩa gần như cố định trong điều kiện lạm phát đã được kiềm chế song vẫn cao hơn
lạm phát của Mỹ (nước có đồng tiền chiếm tỷ trọng chủ yếu trong rổ tiền tệ để xác định
tỷ giá của Việt Nam) và các nước có quan hệ thương mại chủ yếu của Việt Nam, đồng
thời đồng USD có xu hướng tăng giá từ năm 1995 đã làm cho VNĐ có xu hướng ngày
càng bị đánh giá cao hơn thực tế. Điều này đã tạo ra và tích lũy những nhân tố gây mất
ổn định và kìm hãm sự phát triển kinh tế. Kết quả nghiên cứu cũng đã khẳng định được
sự tồn tại của quan hệ giữa hai biến số vĩ mô này trong ngắn hạn và dài hạn. Trong
ngắn hạn, sự tác động của tỷ giá có tính chất trễ, và trong dài hạn hai biến số này tiến
tới một quan hệ cân bằng (đồng liên kết), nghĩa là có tác động tích cực tới CCTM và cứ
1% mất giá TGHĐ thực làm cho CCTM cải thiện 0.7%
19 Như vậy, mỗi điều kiện kinh tế khác nhau sẽ cho ra kết quả nghiên cứu thực
nghiệm khác nhau. Nhưng có một điểm chung nhất là việc tăng tỷ giá HĐ hay là làm
giảm giá đồng nội tệ phần nào cải thiện CCTM trong dài hạn, còn trong ngắn hạn thì
tác động tiêu cực lên CCTM. Tuy nhiên vẫn còn nhiều yếu tố khác tác động lên CCTM
nên việc CCTM có thực sự được cải thiện hay không còn phụ thuộc vào các yếu tố đó.
theo thời gian, cán cân thương mại sẽ chuyển biến theo nhiều hướng tích cực (thặng
dư).
Trong thương mại quốc tế thì tỷ giá thực đa phương (REER) thường được xem
như một thước đo hữu hiệu cho khả năng cạnh tranh của một quốc gia đối với thế giới
chứ ko phải đối với một quốc gia riêng lẻ. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy của
Mohsen Bahmani – Oskooee và Tatchawan Kantipong (2001) để đánh giá tác động của
tỷ giá thực đa phương lên cán cân thương mại như sau:
Ln(EXM)
t
= α
0
+
α
αα
α
1
Ln(GDPvn)
t
+
α
αα
α
2
Ln(GDPw)
t
+
α
αα
α
3

3
là các hệ số hồi quy.
ε : sai số ngẫu nhiên
Tất cả các biến trong mô hình được lấy logarithm. Theo Khan and Hossain,
2010, tính hấp dẫn của mô hình log tuyến tính là hệ số độ dốc đo được độ co giãn của
các biến phụ thuộc lên các biến độc lập. Khái niệm lý thuyết cho thấy xuất khẩu và
nhập khẩu tăng là thu nhập thực tế của các đối tác thương mại và thu nhập trong nước
tăng lên tương ứng, và ngược lại. Trong trường hợp đó, chúng ta có thể mong đợi α
1
<0
và α
2
> 0. Tuy nhiên, nhập khẩu có thể giảm do tăng thu nhập nếu thu nhập thực tế tăng
lên do sự gia tăng trong sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu, và trong trường hợp
đó, chúng tôi mong chờ α
1
> 0 và α
2
<0. Các tác động của GDP lên EXM là mơ hồ bởi
vì sự gia tăng sản lượng trong nước làm tăng nhập khẩu nhưng cũng có thể đẩy mạnh
xuất khẩu, và ảnh hưởng thực sự lên CCTM hoặc có thể là một sự cải tiến hoặc xấu đi.
Nói chung, nếu sự giảm giá hay phá giá tiền tệ thực diễn ra, điều này gây ra tỷ giá hối
đoái thực hiệu lực tăng, xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm như một hệ quả và cải thiện
cán cân thương mại.
Mô hình nghiên cứu trên sẽ được chạy trên phần mềm Eview để phân tích.
2.2. Dữ liệu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng dữ liệu hàng quý, từ quý 1 năm 2000 đến
quý 2 năm 2011. Nguồn dữ liệu và cách xử lý số liệu ban đầu như sau:
* Năm cơ sở: Việc lựa chọn năm cở sở rất quan trọng vì tương ứng với mỗi
mốc thời gian khác nhau sẽ cho ra kết quả tính tỷ giá thực khác nhau. Nghiên cứu sử

Và đồng tiền của hai quốc gia Hongkong và Hàn Quốc là đại diện cho các quốc
giá phát triển châu Á do có kim ngạch xuất nhập khẩu tương đối lớn.
* GDPvn và GDPw : GDPvn là chỉ số GDP của Việt Nam ; GDPw là GDP
trung bình của các đối tác thương mại chính, được tính bằng cách dựa trên chỉ số GDP
của các nước này và tỷ trọng thương mại của nước đó với Việt Nam.

23 Chỉ số GDPw được tính bởi công thức sau :
n

GDPw
t
=

Σ
GDP
j
t
* w
j
t
.
j=1

* Giá trị kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu: Số liệu được lấy từ Tổng cục
thống kê, Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) và ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) từ quý 1
năm 2000 tới quý 4 năm 2011 của 10 nước, dữ liệu được thiết kế theo quý để phục vụ
công việc nghiên cứu và phân tích. Có tất cả 48 quý và giá trị kim ngạch xuất nhập

Tỷ trọng thương mại của đối tác thứ n:
I
j
t
+ E
j
t

W
t
j
=



௝ୀଵ
(I
j
t
+ E
j
t
)

* Chỉ số CPI: Số liệu CPI của các nước trong rổ tiền tệ được thu thập trên cơ sở
CPI của quý này so với cùng kỳ năm trước. Được quy về kỳ gốc là Quý I năm 2000.
24 Chỉ số CPI của từng quốc gia được điều chỉnh về năm gốc: chọn kỳ gốc là quý 1

0
= x100
E
0

với e
t
0
là chỉ số tỷ giá danh nghĩa điều chỉnh thời điểm t
E
t
là tỷ giá danh nghĩa thời điểm t
E
0
là tỷ giá danh nghĩa thời kỳ gốc
* Tỷ giá thực ña phương (tỷ giá thực hiệu lực – REER). Tỷ giá hối đoái danh
nghĩa để tính tỷ giá thực được lấy từ ngân hàng nhà nước. REER được tính với 10 đối
tác thương mại chính được lựa chọn ở trên.
Chỉ số tỷ giá thực đa phương được tính theo công thức sau:
n
CPI
i
j

REER =
Σ
e
i
j
.w


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status