tiểu luận tài chính quốc tế tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp thủy sản tại việt nam từ năm 2010 2017 - Pdf 65

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ XUẤT
KHẨU THUỶ SẢN..................................................................................................................3
1.1. Biến động tỷ giá hối đoái.............................................................................................3
1.2.

Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thuỷ sản..................................................5

1.2.1 Nhóm các yếu tố ảnh hưởng từ phía cung của thị trường xuất khẩu đến hoạt
động xuất khẩu thủy sản................................................................................................5
1.2.1.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước xuất khẩu thuỷ sản............5
1.2.1.2.

Khả năng sản xuất thuỷ sản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản. .6

1.2.2. Nhóm các yếu tố ảnh hưởng từ phía cầu của thị trường xuất khẩu đến hoạt
động xuất khẩu thuỷ sản................................................................................................6
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ XUẤT
KHẨU THUỶ SẢN..................................................................................................................8
2.1.

Giới thiệu chung về tình hình xuất khẩu ở Việt Nam.......................................8

2.1.1.

Xuất nhập khẩu ở Việt Nam.............................................................................8

2.1.2.

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu............................................................................10

Giải pháp đối với ngành thuỷ sản......................................................................20

3.2.1.

Cải thiện giá sản xuất thuỷ sản trong nước......................................................20

3.2.2.

Điều chỉnh các chính sách liên quan đến xuất khẩu thuỷ sản.......................21

3.2.3.

Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam. . .21

3.2.4.

Khai thác thị trường tiềm năng và xúc tiến thương mại................................22

3.3.

Kiến nghị, điều kiện thực hiện giải pháp..........................................................22

KẾT LUẬN.............................................................................................................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................1


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Tên đầy đủ


United States Dollar

EUR

Euro

JPY

Japanese Yen

CNY

Chinese Yuan

FED

Federal Reserve Banks

IMF

International Monetary Fund


LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay hoạt động thương mại quốc tế trong đó có hoạt động xuất nhập khẩu
vận động với một tốc độ chóng mặt và có vai trò huyết mạch của nền kinh tế. Để
liên tục bứt phá trên cuộc đua thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa các quốc gia sử
dụng tỷ giá hối đoái được xem là công cụ hữu hiệu nhất để tối ưu hoá mục đích.


-

Giới hạn phạm vị nghiên cứu về mặt không gian: nghiên cứu sự tác động
TGHĐ lên xuất khẩu thuỷ sản của một số doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam.

3. Mục tiêu nghiên cứu
Từ những tổng quan lí thuyết đã được học trên lớp, kết hợp với nghiên cứu thực
tế và tham khảo các bài phân tích được công bố trên các phương tiện truyền thông,
nhóm chúng em muốn đưa ra những phân tích, đánh giá những ảnh hưởng của tỉ giá
hối đoái tới hoạt động xuất nhập khẩu và đặc biệt là xuất nhập khẩu của doanh
nghiệp thủy sản Việt Nam. Từ đó, nhóm đưa ra một số giải pháp khắc phục những
ảnh hưởng tiêu cực đó.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là định tính.
5. Cấu trúc của nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục bảng, biểu, bài tiểu luận
được bố cục thành 3 chương, với nội dung như sau:
-

Chương 1: Tổng quan mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và xuất khẩu thủy sản
Chương 2: Nghiên cứu mối quan hệ tỷ giá hối đoái và xuất khẩu thủy sản ở

-

Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của một số
doanh nghiệp thủy sản ở Việt Nam

Chúng em xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong tiểu luận này là trung thực.

để quay về Mỹ tìm kiếm lợi suất đang gia tăng từ đồng USD. Ngày 16/12/2015, Fed
đã chính thức tăng 0,25 điểm phần trăm lãi suất điều hành, từ mức 0 - 0,25%/năm
lên 0,25 - 0,5%/năm, bắt đầu chu kỳ bình thường hóa chính sách tiền tệ sau 9 năm
nới lỏng. Đáng chú ý, trong tháng 8/2015, thị trường tài chính tiền tệ trải qua các cú
sốc lớn và bất ngờ, nằm ngoài dự đoán của các quốc gia, tổ chức trên toàn cầu.
Ngày 11/8/2015, Trung Quốc đột ngột phá giá tiền tệ 1,9% và áp dụng cơ chế xác
định tỷ giá tham chiếu mới đã tác động nặng nề đến tâm lý nhà đầu tư, gây lo ngại
về chiến tranh tiền tệ. Đồng tiền của các nước châu Á và các nền kinh tế mới nổi
đều đồng loạt giảm giá từ 0,5 - 3%. Chưa đầy 2 tuần sau cú sốc điều chỉnh đồng
Nhân dân tệ (CNY), thị trường tài chính thế giới lại trải qua “ngày Thứ hai đen tối”
với sự sụt giảm của chứng khoán Trung Quốc, châm ngòi cho hành động bán tháo


trên khắp các thị trường chứng khoán quốc tế, đẩy nhiều đồng tiền châu Á vào một
đợt giảm giá mạnh khác so với USD. Vì thế, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng
bị những ảnh hưởng nhất định.
Trong điều kiện hiện nay, cùng với kinh nghiệm và uy tín của NHNN, có thể
nhận định rằng, năm 2016, tỷ giá vẫn nằm trong tầm kiểm soát tốt; và việc chuyển
sang một cơ chế điều hành tỷ giá mới từ đầu năm 2016 là cần thiết do yêu cầu thực
tế đang đặt ra. Từ nội dung Quyết định số 2730/QĐ-NHNN ngày 31/12/2015, cho
thấy NHNN đã đưa tỷ giá vào hệ thống giá cả nói chung ở Việt Nam hoạt động theo
cơ chế thị trường thực sự hơn; và đặc biệt, cơ chế này cũng sẽ đưa các doanh nghiệp
trong nước vào môi trường tỷ giá thị trường bình đẳng hơn và minh bạch hơn.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới sau một giai đoạn biến động tỷ giá
vào tháng 8/2015, tỷ giá đã ổn định lại đáng kể và vào thời điểm cuối năm 2015,
VND lại lên giá đôi chút (tức là tỷ giá VND so với USD giảm), điều mà những năm
trước không hề diễn ra. Theo một số chuyên gia, một trong những nguyên nhân là
do uy tín và năng lực can thiệp ngoại hối hay kinh nghiệm chính sách của NHNN
được cải thiện hơn rất nhiều.
Vào thời điểm cuối năm 2015, dữ liệu thống kê cho thấy, với cơ chế tỷ giá

1.2.

Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thuỷ sản
Việc xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nói chung

và hoạt động xuất khẩu thuỷ sản nói riêng là rất cần thiết, bởi vì những yếu tố này
thường xuyên làm ảnh hưởng đến các kết quả cũng như tiến triển trong tương lai
của hoạt động kinh doanh đó, đặc biệt là xuất khẩu thuỷ sản.
1.2.1 Nhóm các yếu tố ảnh hưởng từ phía cung của thị trường xuất khẩu đến
hoạt động xuất khẩu thủy sản
1.2.1.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước xuất khẩu thuỷ sản
Đây là yếu tố không chỉ tác động đến hoạt động xuất khẩu ở hiện tại, mà còn
cả trong tương lai. Vì vậy, một mặt các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản phải tuân
theo và hưởng ứng nó ở hiện tại, mặt khác doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản phải có
các kế hoạch xuất khẩu trong tương lai cho phù hợp.
Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu. Đây là
một chiến lược tập trung vào việc tạo ra các sản phẩm xuất khẩu ngày càng phù hợp
hơn với nhu cầu cuả thị trường thế giới dựa trên cơ sở khai thác tốt với nhu cầu của
thị trường quốc gia. Với chiến lược này, Nhà nước có các chính sách phát triển cụ


thể cho từng giai đoạn nhằm khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức kinh tế tham gia
hoạt động xuất khẩu trong đó có doanh nghiệp ngoại thương.
Việc khuyến khích hoạt động xuất khẩu được thể hiện ở các chính sách, các
biện pháp liên quan đến việc tạo nguồn hàng cho xuất khẩu, tạo môi trường thuận
lợi cho xuất khẩu, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu.
Tuy nhiên, không phải lúc nào Nhà nước cũng khuyến khích xuất khẩu. Bởi
vì, việc tự do hoàn toàn đối với xuất khẩu nhiều khi mang lại thiệt hại rất lớn cho
quốc gia, chẳng hạn như việc xuất khẩu hàng hoá quý hiếm, các sản phẩm thuộc về
di tích văn hoá, các sản phẩm là vũ khí...Trong chiến lược phát triển xuất khẩu vai


Chính sách thương mại của quốc gia nhập khẩu thuỷ sản
Những rào cản thương mại cả kỹ thuật và phi kỹ thuật của quốc gia nhập

khẩu thuỷ sản sẽ ngăn cản sự xâm nhập của hàng hóa xuất khẩu vào thị trường quốc
gia đó. Nếu mặt hàng thuỷ sản thuộc vào nhóm bị hạn chế nhập khẩu thì sức cầu có
thể giảm do những chi phí phát sinh từ những rào cản thương mại gây nên.
-

Thói quen, tâm lý tiêu dùng của quốc gia nhập khẩu thuỷ sản
Trong trường hợp mặt hàng xuất khẩu thuộc nhóm hàng tiêu dùng, hàng thực

phẩm, cầu của quốc gia nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu có thể chịu tác động
bởi những nhân tố mang tính tâm lý của người dân nước nhập khẩu. Một số mặt
hàng thuỷ sản nếu nhập khẩu từ những thị trường này có thể luôn được ưa chuộng
ví dụ như cá hồi từ Mỹ, Nhật v.v…trong khi nhập khẩu từ những thị trường khác thì
bị coi là kém hơn như cá hồi nhập khẩu từ Trung Quốc, Nga v.v…
-

Giá cả của các mặt hàng thuỷ sản
Giá cả luôn là một yếu tố quan trọng trong việc xác định mức cầu của thị

trường đối với một loại hàng hóa. Giá cả phải chăng hoặc rẻ hơn các hàng hóa cùng
loại trong phần lớn trường hợp đều tạo ra một sức cầu đáng kể. Và tất nhiên, khi giá
cả giảm đi thì có thể thu hút thêm cầu đối với hàng hóa.
Trong các yếu tố cơ bản nêu trên, giá cả là nhân tố mà TGHĐ có thể tác
động tới. Tỷ giá hối đoái (được xác định bằng giá cả tính bằng đồng nội tệ của một
đồng ngoại tệ) tăng lên làm đồng ngoại tệ lên giá so với đồng nội tệ. Nếu giá bán
hàng xuất khẩu tính bằng ngoại tệ vẫn giữ nguyên, thu nhập của nhà xuất khẩu bằng
nội tệ sẽ tăng lên. Để đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp xuất khẩu

2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017

-50
Biểu đồ 2.1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, cán cân thương mại hàng hóa
của Việt Nam giai đoạn 2010-2017
Nguồn: Tổng cục Hải quan

Trong đó, xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(FDI) trong tháng 12 đạt 25,39 tỷ USD, giảm 2,9% so với tháng trước, qua đó đưa
kim ngạch xuất nhập khẩu của khối này năm 2017 lên 278,56 tỷ USD, tăng 23,1%,
tương ứng tăng 52,25 tỷ USD so với năm trước. Nhập khẩu đạt 11,7 tỷ USD, tăng
0,7%, so với tháng trước, qua đó đưa kim ngạch nhập khẩu của khối này năm 2017
đạt 126,37 tỷ USD, tăng 23,4%, tương ứng tăng 23,94 tỷ USD so với năm trước.


Năm 2017, Việt Nam có trên 200 đối tác thương mại khắp toàn cầu, trong đó có
28 thị trường xuất khẩu và 23 thị trường nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD.
Bảng 2.1: Kim ngạch, tỷ trọng và tốc độ tăng giảm xuất khẩu, nhập khẩu theo
châu lục và nước/khu vực thị trường chính năm 2017
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Kim
Tỷ
Kim
So với
Tỷ
So với
Thị trường
ngạch
trọn

58.229 27,6
16,4
Nhật Bản
16.841
7,9
14,8
16.592
7,9
10,1
Hàn Quốc
14.823
6,9
30,0
46.734 22,1
45,3
Châu Mỹ
52.332
24,5
10,5
15.644
7,4
7,9
Hoa Kỳ
41.608
19,4
8,2
9.203
4,4
5,8
Châu Âu

21,2
100,0
20,8
4
Nguồn: Tổng cục hải quan

Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong năm
2017 với tổng kim ngạch thương mại song phương đạt gần 93,7 tỷ USD, tăng
30,2% so với cùng kỳ năm 2016.
Hàn Quốc đã vượt qua Hoa Kỳ vươn lên trở thành đối tác thương mại hàng
hóa lớn thứ 2 của Việt Nam, chỉ sau thị trường Trung Quốc. Xuất nhập khẩu hàng
hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc đạt gần 61,6 tỷ tăng 41,3% so với cùng kỳnăm
trước. Tiếp theo là thị trường Hoa Kỳ đạt 50,8 tỷ USD, thị trường ASEAN đạt hơn
49,5 tỷ USD và thị trường EU (28 nước) đạt 45,11 tỷ USD với mức tăng lần lượt là:
7,8; 19,6% và 11,7%... Riêng với thị trường Ấn Độ có tốc độ tăng mạnh 40,5% với
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu là 7,63 tỷ USD.


2.1.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu

Điện tử, linh kiện
điện tử

Hàng dệt, may và
Giầy dép các loại

19%

33.1%



Hiện tại, ở Việt Nam có 6 vùng kinh tế thủy sản chủ yếu đó là: Vùng đồng
bằng sông Hồng, Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó vùng
đồng bằng sông Cửu Long là vùng kinh tế thủy sản trọng tâm của cả nước, luôn
chiếm trên 50% tổng sản lượng cả nước, tiếp theo vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải
miền Trung là vùng kinh tế thủy sản lớn thứ hai của cả nước, luôn chiếm tỷ trên
20% tổng sản lượng cả nước.
2.2.2. Hoạt động xuất khẩu thủy sản
9
8
7
6
5
4
3
2
1
0

1

2

3

4

5


đều tăng và mở rộng. Đây cũng là giai đoạn mà nước ta có được những thuận lợi từ
thị trường xuất khẩu, ngành nuôi tôm có bước phát triển mạnh mẽ, diện tích nuôi


tăng mạnh, đặc biệt với tôm thẻ chân trắng. Giá trị xuất khẩu tôm tăng khá, đóng
góp quan trọng vào mức tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản nói chung. Tuy nhiên,
sang năm 2015, kim ngạch xuất khẩu giảm chủ yếu là do sự biến động về giá cả trên
thị trường. Sự sụt giảm về lượng xuất khẩu của mặt hàng tôm vốn là mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam cũng góp phần giảm đi hiệu quả của xuất khẩu thủy sản
Việt Nam năm 2015.
Thủy sản Việt Nam hiện nay đã có mặt ở 167 nước và vùng lãnh thổ trong đó
3 thị trường chính là EU, Mỹ và Nhật Bản.
Trong số 45 thị trường xuất khẩu chủ yếu của nhóm hàng thủy sản Việt Nam,
thì thị trường Mỹ đứng đầu về kim ngạch, chiếm 16,9% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu thủy sản của cả nước.
Thị trường Nhật Bản đứng thứ 2 về kim ngạch chiếm 15,7%. Tiếp đến thị
trường Trung Quốc chiếm 13,1%; xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc chiếm 9,4%
trong tổng kim ngạch.

Mỹ
Nhật Bản
Trung Quốc
Hàn Quốc
Khác

Biểu đồ 2.3: Thị trường xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam giai đoạn 2010-2017
Nguồn: Hiệp hội chế biến và XKTS, Hải quan Việt Nam

Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chính gồm: tôm, cá tra, nhuyễn thể và cá
ngừ chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trong đó tôm

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan trong năm 2017, các
doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu hơn 8,3 tỷ USD thủy sản các loại, tăng 18%
so với kết quả thực hiện trong năm 2016. Với kết quả này, thủy sản là nhóm hàng
đứng thứ 6 trong số các nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam trong năm 2017.
Bên cạnh những kết quả đạt được, năm 2017, ngành Thủy sản Việt Nam cũng gặp
không ít khó khăn, trở ngại. Đó là sự cạnh tranh nguyên liệu tôm từ nước ngoài
như: Ecuador, Ấn Độ, cũng như nguồn tôm, cá tuyết, cá nheo nguyên liệu của Mỹ,


đến các rào cản kỹ thuật của các nhà nhập khẩu, việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
trong quá trình đánh bắt, khai thác...
Nguyên liệu thiếu ổn định là một hạn chế lớn của thủy sản Việt Nam trong thời gian
qua. Có thời điểm giá cá tra nguyên liệu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
tăng cao (giữa 2017) nhưng người nuôi cũng không đủ nguồn cá để cung cấp; đồng
thời, khi đối mặt với những yêu cầu khắt khe của nhà nhập khẩu, nguồn nguyên liệu
đủ tiêu chuẩn ASC, BAP, HACCP và những yêu cầu khác theo Đạo luật Farmbill
của Mỹ cũng không nhiều như thị trường mong đợi. Nhiều DN chế biến xuất khẩu
thủy sản cũng gặp khó khăn khi nguyên liệu cá ngừ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ như
nghêu, sò huyết được chứng nhận MSC lại không đủ phục vụ cho chế biến.
Bên cạnh đó, những rào cản kỹ thuật về tiêu chuẩn chất lượng, an toàn môi trường
đã gây thiệt hại không ít đến ngành chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Ngay từ
đầu năm 2017, con tôm Việt Nam gặp khó khăn chính từ thị trường Australia vì Bộ
Nông nghiệp và Tài nguyên Australia ban bố lệnh cấm nhập khẩu tôm chưa nấu
chín vào Australia. Với lệnh cấm này kéo dài trong 6 tháng đầu năm 2017 đã ảnh
hưởng không nhỏ đến kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam.
Cho đến khi lệnh cấm này được dỡ bỏ và có hiệu lực từ ngày 6/7/2017 thì việc xuất
khẩu tôm vào thị trường Australia mới khởi sắc trở lại. Cùng với đó, ngành cá tra
cũng phải đối mặt với thuế chống bán phá giá của Mỹ. Mỹ là thị trường chiếm 20%

chiếm tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất của Vĩnh Hoàn hiện nay là Mỹ (35%) và EU


(45%). Đối với thị trường Mỹ, công ty đang được áp dụng mức thuế chống phá giá
là 0%. Hiện tổng sản lượng xuất khẩu cá da trơn của công ty chiếm khoảng 31%
tổng kim ngạch xuất khẩu cá da trơn của Việt Nam vào thị trường này. Đối với thị
trường Châu Âu, công ty đang dần mở rộng thị phần xuất khẩu, đặc biệt đối với thị
trường Anh, công ty hiện chiếm 33% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Công ty cũng là một trong số ít doanh nghiệp được xuất khẩu vào thị trường Nga
(chiếm 3% cơ cấu doanh thu). Mặc dù sản lượng xuất khẩu còn thấp, đây được coi
là thị trường tiềm năng, giúp VHC đa dạng hóa thị trường cũng như tăng doanh thu,
lợi nhuận.
Công ty CP XNK Thuỷ sản Bến Tre với sản phẩm chính là nghêu, cá tra và
tôm đông lạnh. Năm 2008, công ty đã xuất khẩu đến 26 nước và lãnh thổ, trong đó
EU tiếp tục là thị trường chiếm thị phần cao chiếm thị phần cao nhất, chiếm 70,53%
giá trị xuất khẩu. Thị trường Mỹ chiếm 9,02%; và Nhật chiếm 7% (so với năm 2007
là 4%). Xuất khẩu đạt sản lượng 8.486 tấn, với 2 nhóm sản phẩm chủ lực là nghêu
(chiếm 24% về giá trị) và cá tra chiếm 72%. Công ty CP XNK Thuỷ sản Bến Tre là
nhà xuất khẩu nghêu hàng đầu của Việt Nam, có lợi thế cạnh tranh rất lớn do đây là
sản phẩm đặc thù, các doanh nghiệp niêm yết cùng ngành không tập trung phát
triển. Ngoài ra, công ty hiện đứng thứ 15 trong các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra –
cá basa và đứng thứ 36 trong danh sách 100 các doanh nghiệp xuất khẩu hàng đầu
của Việt Nam.
Công ty Cổ phần Hùng Vương là doanh nghiệp chế biến cá da trơn xuất khẩu
lớn nhất Việt Nam sau 10 năm hoạt động và cũng là doanh nghiệp duy nhất ở Việt
nam có quy trình sản xuất khép kín từ sản xuất thức ăn chăn nuôi đến nuôi trồng,
chế biến và xuất khẩu thuỷ sản.
2.3.

Nghiên cứu mối quan hệ giữa biến động tỷ giá hối đoái và xuất khẩu

Giá trị xuất khẩu thủy sản VN từ năm 2005 đến năm 2017 tăng dần qua các
năm, giá trị xuất khẩu thủy sản tăng bình quân khoảng 493 triệu USD/năm. Tuy
nhiên, xét về tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu thủy sản của VN qua các năm có
nhiều biến động và không ổn định, đặc biệt là sự biến động lớn của ba thị trường
chủ lực như châu Âu, Mỹ và Nhật.
Đồng tiền các thị trường phát triển giảm mạnh so với USD, cũng gây bất lợi kép
cho thuỷ sản Việt Nam. Cụ thể, năm 2014-2015, so với USD, đồng Euro mất giá
20%, đồng Yên Nhật mất giá 14%, khiến thuỷ sản xuất khẩu bằng USD bất lợi trên
các thị trường này. Giá xuất khẩu thấp, cộng bất lợi kép về tỷ giá và chênh lệch giá
thành, năng suất thấp khiến khả năng cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam nói chung và mặt hàng thuỷ sản nói riêng bị yếu đi đáng kể trong
năm 2014-2015.


CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP THUỶ SẢN Ở VIỆT NAM
3.1.

Giải pháp đối với tỷ giá hối đoái với mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu thuỷ

sản của Việt Nam
(i)

Lựa chọn chế độ tỷ giá

Hiện có hai quan điểm về lựa chọn chế độ tỷ giá. Quan điểm thứ nhất cho
rằng nên thực hiện chính sách TGHĐ cố định bởi vì nó sẽ tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp ổn định được chi phí sản xuất, giảm tính bất định trong các giao dịch
kinh tế quốc tế. Điều này khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thủy sản, thu hút đầu
tư nước ngoài, kiềm chế lạm phát và tạo đà tang trưởng cho nền kinh tế. Tuy nhiên,

tiệm cận và ngang giá sức mua so với rổ tiền tệ và cùng với thực tế hiện nay cho
thấy rằng Việt Nam không nên phá giá mạnh đồng nội tệ khi quy mô, cơ cấu và chất
lượng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam chưa được cải thiện.
+ Các công cụ điều hành chính sách tỷ giá trong ngắn hạn và dài hạn
Trong ngắn hạn, NHNN tiếp tục thực hiện linh hoạt các biện pháp mang tính
trực tiếp (can thiệp mua bán ngoại tệ trên thị trường, điều chỉnh tỷ giá, điều chỉnh
biên độ nếu cần ) cũng như các biện pháp mang tính hành chính.
Trong dài hạn, với xu thế mở cửa nền kinh tế và tự do hóa thương mại, đầu
tư, việc chuyển đổi sang cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn là điều cần thiết. Lúc này, các
công cụ trực tiếp mang tính hành chính của chính sách tỷ giá sẽ dần bị hạn chế, thay
vào đó là việc sử dụng các công cụ gián tiếp. Trong các năm gần đây, NHNN đã khá
thành công khi sử dụng chính sách lãi suất tác động đến tỷ giá. Cụ thể, mặt bằng lãi
suất huy động ở mức cao hơn so với lãi suất ngoại tệ đã khuyến khích người dân
bán ngoại tệ và gửi tiền đồng giúp giảm áp lực giảm giá đồng nội tệ đồng thời hỗ
trợ NHNN gia tăng dự trữ ngoại hối.
3.2.

Giải pháp đối với ngành thuỷ sản

3.2.1. Cải thiện giá sản xuất thuỷ sản trong nước
-

Cải thiện chi phí sản xuất của hoạt động khai thác, đánh bắt và nuôi trồng
thuỷ sản


Trước mắt, cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau: (i) phát triển các mô hình
nuôi trồng thủy sản với quy mô lớn, dưới dạng các hợp tác xã, hiệp hội để đàm phán
giá cả, chất lượng và ký kết hợp đồng trực tiếp với các công ty cung cấp thức ăn
thủy sản nhằm giảm bớt chi phí trung gian; (ii) khuyến khích nông dân tham gia vào


3.2.4. Khai thác thị trường tiềm năng và xúc tiến thương mại
Sau các vụ kiện chống bán phá giá tôm và cá tra ở thị trường Mỹ, các doanh
nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã chuyển hướng sang thị trường châu Âu
rất thành công. Hiện nay, sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên
150 thị trường nước ngoài. Thị trường mới đồng nghĩa với nhu cầu mới, thị hiếu
mới, các doanh nghiệp có cơ hội đa dạng hóa mặt hàng và sử dụng tối ưu nguyên
liệu chế biến. Do đó, các doanh nghiệp cần nhận thức rõ về cơ hội mở rộng thị
trường, chẳng hạn như các nước Mỹ La-tinh,Trung Đông, Châu Phi, v.v.
3.2.5. Kiến nghị, điều kiện thực hiện giải pháp
Thứ nhất, đối với chính phủ và các cơ quan hữu quan, hoàn thiện quy hoạch
vùng nuôi trồng thủy sản tập trung có tính liên ngành, liên vùng, có sự phối hợp với
quy hoạch nông nghiệp, công nghiệp và dân cư. Chính phủ cần tiếp tục rà soát lại
các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh để sửa đổi, bổ
sung các nội dung không đồng bộ, bổ sung các nội dung còn thiếu, loại bỏ các điều
kiện áp dụng ưu đãi đầu tư không còn phù hợp với hiện nay để tăng cường thu hút
vốn đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc để
hỗ trợ cho phát triển xuất khẩu thủy sản nói riêng.
Thứ hai, xây dựng nguồn nguyên liệu thủy sản xuất khẩu ổn định và bền
vững chỉ đảm bảo đủ nguyên liệu thủy sản sản xuất, chế biến xuất khẩu vào các
mùa vụ bình thường mà đáp ứng tốt nhu cầu nhập khẩu vào các mùa cao điểm của
các thị trường nhập khẩu.
Thứ ba, đối với các doanh nghiệp sản xuất XKTS, các doanh nghiệp cần phải
xây dựng chiến lược phát triển XKTS toàn diện nhằm mang lại hiệu quả xuất khẩu
cao nhất.
Thứ tư, cần có nhiều nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều mặt hàng xuất khẩu
chủ lực ở nhiều thị trường khác nhau để thấy rõ hơn tác động của TGHĐ nhằm giúp
cho các nhà hoạch định chính sách thấy được đầy đủ những tác động TGHĐ đến
xuất khẩu và cân nhắc hơn khi sử dụng chính sách tỷ giá như là một công cụ khuyến
khích xuất khẩu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status