LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay hoạt động thương mại quốc tế trong đó có hoạt động xuất nhập khẩu
vận động với một tốc độ chóng mặt và có vai trò huyết mạch của nền kinh tế. Để
liên tục bứt phá trên cuộc đua thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa các quốc gia sử
dụng tỷ giá hối đoái được xem là công cụ hữu hiệu nhất để tối ưu hoá mục đích.
Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là một trong những biến số kinh tế vĩ mô hết sức
nhạy cảm, biến động từng ngày, từng giờ và chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố.
Tỷ giá ngày hôm nay rất có thể sẽ hoàn toàn khác ngày hôm qua, sự lên giá, xuống
giá đột ngột của những đồng tiền luôn là bài toán mới mẻ, đầy hóc búa cho các nhà
quản lý cũng như các nhà đầu tư.
Ngành thủy sản chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam. Giai đoạn 2010 – 2017, kinh tế thủy sản đã đóng góp bình
quân khoảng 4% - 5% GDP cả nước. Xuất khẩu thủy sản đã mang về một lượng lớn
ngoại tệ cho quốc gia, góp phần mở rộng quan hệ thương mại quốc tế và tăng
trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên là một quốc gia đang phát triển và
là quốc gia chấp nhận giá xuất khẩu như Việt Nam, mọi sự biến động của TGHĐ và
các yếu tố khác ảnh hưởng lớn đến giá trị xuất khẩu hàng hoá nói chung và giá trị xuất
khẩu thủy sản nói riêng. Việc nghiên cứu tập trung xem xét và đo lường tác động của
TGHĐ đến kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường nước ngoài là cần
thiết để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm tăng trưởng xuất khẩu thủy sản
VN đảm bảo tính ổn định và bền vững. Chính vì vậy, nhóm chúng em đã chọn đề tài
“Tác động của tỉ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp thủy
sản tại Việt Nam năm 2010 – 2017” làm đề tài tiểu luận.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tác động của TGHĐ đến xuất khẩu của một số doanh
-
nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam.
Giới hạn phạm vị nghiên cứu về mặt thời gian: phân tích và đưa ra đánh giá
về thực trạng hoạt động xuất khẩu của một số doanh nghiệp thủy sản ở Việt
doanh nghiệp thủy sản ở Việt Nam
Do hạn chế về thời gian và hiểu biết nên bài tiểu luận này còn nhiều thiếu sót.
Chúng em mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của cô.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI VÀ XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
1.1. Biến động tỷ giá hối đoái
Một tỷ giá hối đoái dựa trên thị trường sẽ thay đổi bất cứ khi nào các giá trị
của một trong hai tiền tệ thành phần thay đổi. Một đồng tiền sẽ có xu hướng trở nên
có giá trị hơn bất cứ khi nào nhu cầu cho nó lớn hơn cung cấp có sẵn. Nó sẽ trở nên
ít có giá trị bất cứ khi nào nhu cầu thấp hơn cung cấp có sẵn (điều này không có
nghĩa là người ta không còn muốn tiền, nó chỉ có nghĩa là họ muốn nắm giữ của cải
của họ trong một số hình thức khác, có thể là một đồng tiền khác).
Trong bối cảnh nền kinh tế đầy biến động như hiện nay, TGHĐ giữa đồng
tiền các quốc gia lên xuống đội ngột. Sự giảm giá của đồng đô la Mỹ (USD) và các
đồng tiền chủ chốt khác như JYP của Nhật Bản, EUR của châu Âu cho thấy sức
tăng trưởng của các quốc gia vấn thiếu sự ổn định.
Năm 2015 chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong bối cảnh kinh tế tài chính
tiền tệ toàn cầu kéo theo hàng loạt các động thái chống đỡ về tiền tệ, tỷ giá của ngân
hàng trung ương (NHTW) nhiều nước. Sự ngược chiều trong điều hành chính sách
tiền tệ của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) và các NHTW khác với sức mạnh phục
hồi nghiêng về phía Mỹ trong khi châu Âu, Nhật Bản và các nền kinh tế mới nổi
tiếp tục loay hoay tìm ra lối thoát tạo làn sóng rút vốn khỏi các thị trường mới nổi
để quay về Mỹ tìm kiếm lợi suất đang gia tăng từ đồng USD. Ngày 16/12/2015, Fed
đã chính thức tăng 0,25 điểm phần trăm lãi suất điều hành, từ mức 0 - 0,25%/năm
lên 0,25 - 0,5%/năm, bắt đầu chu kỳ bình thường hóa chính sách tiền tệ sau 9 năm
Rõ ràng và thực tế gần đây cho thấy, với cơ chế tỷ giá cũ, giá trị VND chịu sự tác
động rất lớn bởi sự lên giá của USD khi Fed tăng lãi suất và biến động của CNY –
một đối tác thương mại lớn của Việt Nam (năm 2015, Việt Nam thâm hụt thương
mại khoảng 3,4 tỷ USD với Trung Quốc).
Thực tế cho thấy, ngay tại thời điểm Fed tăng lãi suất từ 0% lên 0,25% (ngày
16/12/2015), tỷ giá VND so với các đồng tiền khác vẫn được NHNN nỗ lực giữ ở
mức ổn định bằng các giải pháp kinh tế kết hợp với một vài biện pháp cần thiết
khác như tăng cường truyền thông chính sách với liều lượng và các giải thích hợp
lý. NHNN đã kịp thời có Quyết định 2589/QĐ-NHNN ngày 17/12/2015, giá trị hiệu
lực từ 18/12/2015 quy định mức lãi suất huy động tối đa đối với ngoại tệ của các tổ
chức tín dụng là 0% (áp dụng cho cả khách hàng tổ chức và khách hàng cá nhân).
Theo lý thuyết, điều này có nghĩa là NHNN muốn giảm sự hấp dẫn đối với ngoại tệ
nhằm hạn chế tình trạng đô la hóa, đầu cơ ngoại tệ ở Việt Nam góp phần bảo vệ hay
ổn định hóa đối với VND…
Nếu quan sát một số động thái liên quan đến chính sách của NHNN về lãi
suất, về tín dụng (tương quan giữa nội tệ và ngoại tệ), về quản lý trạng thái ngoại tệ
và quản lý vàng… cho thấy, NHNN đã và đang kiên định với chủ trương chống đô
la hóa nền kinh tế; bao gồm cả chủ trương hạn chế việc các ngân hàng thương mại
(NHTM) chấp nhận rủi ro quá mức.
Cũng đã có quan điểm cho rằng, thời gian qua, VND lên giá đã hạn chế sức
cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, có thể nhận thấy,
nhận định này chưa thực sự thuyết phục, vì từ năm 2011 đến nay, xuất khẩu thuỷ
sản của Việt Nam vẫn tăng đáng kể; ngoài ra, vấn đề cơ cấu xuất khẩu các mặt hàng
có hàm lượng công nghệ thấp hiện nay là giải thích thỏa đáng hơn cho sức cạnh
tranh thấp của hàng hóa Việt Nam hơn là nguyên nhân của tỷ giá.
1.2.
Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thuỷ sản
nhất là với mặt hàng thuỷ sản. Đường bờ biển trải dài là một trong những nhân tố
quan trọng làm cơ sở cho quốc gia xây dựng tiềm lực xuất khẩu thuỷ sản mạnh. Vị
trí địa lý thuận lợi là điều kiện cho phép một quốc gia tranh thủ thúc đẩy xuất khẩu.
1.2.1.2. Khả năng sản xuất thuỷ sản của các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản
Khả năng này đảm bảo nguồn hàng cho doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản.
Điều này quyết định khả năng cạnh tranh của các mặt hàng thuỷ sản khi doanh
nghiệp đưa ra chào bán trên thị trường quốc tế.
Hiện nay, ở nước ta năng lực sản xuất hàng xuất khẩu còn thấp kém, mặt
hàng xuất khẩu còn đơn sơ, chất lượng chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đây là một khó
khăn cho các doanh nghiệp ngoại thương khi tham gia vào hoạt động xuất khẩu.
1.2.2. Nhóm các yếu tố ảnh hưởng từ phía cầu của thị trường xuất khẩu đến
hoạt động xuất khẩu thuỷ sản.
Đây là các yếu tố nằm ngoài phạm vi kiểm soát của quốc gia, có ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ sản.
Có thể kể đến các yếu tố sau:
-
Tình hình kinh tế của quốc gia nhập khẩu thuỷ sản
Khi nền kinh tế của quốc gia nhập khẩu thuỷ sản đang nằm trong chu kỳ tăng
trưởng, nhu cầu nhập khẩu thuỷ sản phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng sẽ không
ngừng tăng lên, làm gia tăng sức cầu đối với hàng hóa nói chung và hàng hóa nhập
khẩu thuỷ sản nói riêng. Ngược lại, tình trạng suy giảm sức cầu sẽ xảy ra khi nền
kinh tế ở vào thời kỳ suy thoái.
-
Chính sách thương mại của quốc gia nhập khẩu thuỷ sản
Những rào cản thương mại cả kỹ thuật và phi kỹ thuật của quốc gia nhập
khẩu thuỷ sản sẽ ngăn cản sự xâm nhập của hàng hóa xuất khẩu vào thị trường quốc
xuất khẩu thuỷ sản tính bằng ngoại tệ tăng lên, làm giảm cầu của hàng xuất khẩu,
dẫn đến giảm khối lượng hàng xuất khẩu thuỷ sản.
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ CỦA TỶ GIÁ
HỐI ĐOÁI VÀ XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
2.1.
Giới thiệu chung về tình hình xuất khẩu ở Việt Nam
2.1.1. Xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
cả nước trong tháng 12/2017 đạt 39,54 tỷ USD, tăng 0,4% so với tháng trước. Trong
đó, xuất khẩu đạt 19,65 tỷ USD, giảm 1,7% và nhập khẩu đạt 19,89 tỷ USD, tăng
2,5% so với tháng trước.
Đơn vị tính: tỷ USD
250
200
150
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Cán cân thương mại
100
50
0
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017
g
(Triệu
(%)
(%)
(%)
USD)
(%)
USD)
172.83
Châu Á
119.950
52,3
31,3
81,9
22,3
1
ASEAN
21.510
10,1
23,9
28.021 13,3
16,4
Trung Quốc
35.463
16,6
61,5
58.229 27,6
16,4
Nhật Bản
16.841
17,9
1,2
1,9
10,5
8,2
13,7
12,7
-2,1
20,0
Tổng
214.019
100,0
21,2
15.644
9.203
14.917
12.098
4.017
3.694
211.10
4
7,4
4,4
Điện tử, linh kiện
điện tử
33.1%
Nông
thủy sản
12.1%
Hàng dệt, may và
Giầy dép các loại
19%
Máy móc, thiết bị,
6%
dụng cụ, phụ tùng
Giai đoạn 2011-2015 chứng kiến sự thay đổi vị trí mặt hàng xuất khẩu lớn.
Năm 2011-2012 mặt hàng dệt may giữ vị trí số một với tỷ trọng kim ngạch chiếm
trên 13%, nhưng từ năm 2013 đến nay mặt hàng này đó tụt xuống vị trí thứ 2, thay
vào đó là điện thoại và linh kiện với tỷ trọng kim ngạch chiếm trên 16%. Tiếp theo
là các mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện, giày dép. Mặt hàng dầu thô xếp vị trí
thứ 2 giai đoạn 2006 - 2010, hiện nay đó tụt xuống vị trí thứ 7 theo định hướng hạn
chế xuất khẩu khoáng sản thô. Trong số 25 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu năm2014,
cú 5 mặt hàng thuộc nhóm nông sản là gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu chiếm
tỷ trọng 7,6%. Riêng thủy sản chỉ chiếm 5,1% tổng kim ngạch xuất khẩu (các con
số này đều thấp hơn giai đoạn 2006-2010 tương ứng là 10% và 7,4%).
2.2.
1
2
3
4
5
6
7
8
25
20
15
10
5
0
-5
-10
-15
-20
Kim ngạch XNK (tỷ USD)
Tăng trưởng so với năm trước (%)
Mỹ
Nhật Bản
Trung Quốc
Hàn Quốc
Khác
Biểu đồ 2.3: Thị trường xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam giai đoạn 2010-2017
Nguồn: Hiệp hội chế biến và XKTS, Hải quan Việt Nam
Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chính gồm: tôm, cá tra, nhuyễn thể và cá
ngừ chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trong đó tôm
là mặt hàng chủ lực góp phần mang lại con số 5 tỷ USD của thủy sản Việt Nam năm
2010. Năm 2012 là một năm khó khăn đối với ngành tôm Việt Nam. Cả nuôi trồng,
sản xuất lẫn xuất khẩu đều đối diện với nhiều thách thức. Người nuôi thì lao đao với
dịch bệnh xảy ra tại nhiều vùng nuôi ngay từ đầu năm khiến nguồn tôm nguyên liệu
giảm, giá cả lên xuống thất thường. Còn doanh nghiệp thì đối mặt với thiếu vốn,
thiếu nguyên liệu, hoạt động sản xuất cầm chừng, thậm chí còn đối diện với nguy
cơ phá sản, v.v. Không chỉ gặp khó trên thị trường nội địa, xuất khẩu tôm nước ta
còn phải hứng chịu những cơn sóng dữ trên thị trường quốc tế, điển hình là rào cản
Ethoxyquin tại thị trường Nhật Bản. Mặt hàng cá tra: mặc dù, giá trị xuất khẩu mặt
hàng cá tra xếp thứ 2 sau tôm nhưng đây chỉ có thể gọi là xuất khẩu ổn định và cầm
chừng. Doanh nghiệp xuất khẩu cá tra gặp rất nhiều khó khăn về cả thị trường tiêu
thụ và nguyên liệu trong nước.
2017
2016
2015
Khác
Cá ngừ
thủy sản cũng gặp khó khăn khi nguyên liệu cá ngừ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ như
nghêu, sò huyết được chứng nhận MSC lại không đủ phục vụ cho chế biến.
Bên cạnh đó, những rào cản kỹ thuật về tiêu chuẩn chất lượng, an toàn môi trường
đã gây thiệt hại không ít đến ngành chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Ngay từ
đầu năm 2017, con tôm Việt Nam gặp khó khăn chính từ thị trường Australia vì Bộ
Nông nghiệp và Tài nguyên Australia ban bố lệnh cấm nhập khẩu tôm chưa nấu
chín vào Australia. Với lệnh cấm này kéo dài trong 6 tháng đầu năm 2017 đã ảnh
hưởng không nhỏ đến kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam.
Cho đến khi lệnh cấm này được dỡ bỏ và có hiệu lực từ ngày 6/7/2017 thì việc xuất
khẩu tôm vào thị trường Australia mới khởi sắc trở lại. Cùng với đó, ngành cá tra
cũng phải đối mặt với thuế chống bán phá giá của Mỹ. Mỹ là thị trường chiếm 20%
giá trị xuất khẩu của cá tra Việt Nam, nhưng cũng là nơi có khả năng sản xuất cá da
trơn tương tự như cá tra là cá nheo và cá tuyết.
2.2.3. Các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản
Sự thay đổi về thị trường tiêu thụ cũng như những khó khăn nội tại của từng
nhóm sản phẩm tôm, cá tra, cá ngừ... đã khiến cho thị phần xuất khẩu của các doanh
nghiệp thuỷ sản cũng thay đổi.
Đơn vị tính: Triệu USD
Biểu đồ 2.5 : TOP 15 Doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Minh Phú - Hậu Giang, thành viên của Tập đoàn Minh Phú ghi dấu ấn khi
ngoạn mục vượt Minh Phú (mẹ) và Thuỷ sản Vĩnh Hoàn để chiếm ngôi vương, Sản
phẩm xuất khẩu chính của MPC là tôm. MPC luôn là doanh nghiệp dẫn đầu về kim
ngạch xuất khẩu tôm trong thời gian qua. Thị trường xuất khẩu chính của MPC là
Mỹ, Nhật Bản. Doanh số từ thị trường Mỹ luôn chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu
của công ty. Đây là những thị trường đầy tiềm năng để MPC mở rộng và phát triển.
sản phẩm đặc thù, các doanh nghiệp niêm yết cùng ngành không tập trung phát
triển. Ngoài ra, công ty hiện đứng thứ 15 trong các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra –
cá basa và đứng thứ 36 trong danh sách 100 các doanh nghiệp xuất khẩu hàng đầu
của Việt Nam.
Công ty Cổ phần Hùng Vương là doanh nghiệp chế biến cá da trơn xuất khẩu
lớn nhất Việt Nam sau 10 năm hoạt động và cũng là doanh nghiệp duy nhất ở Việt
nam có quy trình sản xuất khép kín từ sản xuất thức ăn chăn nuôi đến nuôi trồng,
chế biến và xuất khẩu thuỷ sản.
2.3.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa biến động tỷ giá hối đoái và xuất khẩu
thuỷ sản
Đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là dệt may, thủy sản và cà phê trong
giai đoạn 2010-2017 cũng có những sự biến động không giống nhau dưới tác động
của TGHĐ. Kim ngạch xuất khẩu dệt may và thủy sản có xu hướng biến động cùng
chiều với TGHĐ danh nghĩa VND/USD. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
hàng dệt may lớn hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng thủy sản. Kim ngạch xuất
khẩu thuỷ sản có xu hướng gia tăng rừ rệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO và cùng
giảm vào năm 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, VND giảm
giá thực có lợi trong việc kích thích xuất khẩu thuỷ sản.
Đơn vị tính: Nghìn VND
Biểu đồ 2.6: Tỷ giá danh nghĩa VND/USD giai đoạn 2010-nay
Nguồn:
Kết quả điều hành TGHĐ VND/USD tương đối ổn định trong giai đoạn
2010-2017 và có ảnh hưởng tích cực đối với mặt hàng thuỷ sản, kim ngạch xuất
sản của Việt Nam
(i)
Lựa chọn chế độ tỷ giá
Hiện có hai quan điểm về lựa chọn chế độ tỷ giá. Quan điểm thứ nhất cho
rằng nên thực hiện chính sách TGHĐ cố định bởi vì nó sẽ tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp ổn định được chi phí sản xuất, giảm tính bất định trong các giao dịch
kinh tế quốc tế. Điều này khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thủy sản, thu hút đầu
tư nước ngoài, kiềm chế lạm phát và tạo đà tang trưởng cho nền kinh tế. Tuy nhiên,
quan điểm ngược lại cho rằng, cần thả nổi tỷ giá do chế độ này luôn gắn với quan
hệ cung cầu và thích hợp với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay.
Từ thực tiễn có thể thấy chế độ tỷ giá được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
lựa chọn trong điều hành là “cố định có điều chỉnh” gắn với một khoảng chênh lệch
nhất định với đồng tiền mà VND gắn vào, đó là USD, còn khoảng chênh lệch này
lớn hay nhỏ được xác định theo từng thời kỳ nhất định.
Tuy nhiên cơ chế tỷ giá ổn định trong thời gian qua không giúp ích nhiều
trong việc gia tăng năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản trên thị trường quốc
tế. Trong thời gian tới, Việt Nam nên chuyển từ chế độ tỷ giá cố định có điều
chỉnh sang lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết nhưng cần tăng dần mức độ
thả nổi và thúc đẩy sự phát triển của thị trường ngoại hối. Chế độ tỷ giá thả nổi có
điều tiết này phù hợp với tiến trình đổi mới của nước ta hiện nay. Chế độ tỷ giá thả
nổi có điều tiết này cho phép Việt Nam thực hiện được một chính sách tiền tệ độc
lập, sát với thực tế thị trường, nhưng đồng thời cũng phát huy được vai trò quản lý
và điều tiết linh hoạt của Nhà nước để đạt được mục tiêu, yêu cầu phát triển kinh tế
nói chung và thúc đẩy xuất khẩu nói riêng.
(ii)
3.2.1. Cải thiện giá sản xuất thuỷ sản trong nước
-
Cải thiện chi phí sản xuất của hoạt động khai thác, đánh bắt và nuôi trồng
thuỷ sản
Trước mắt, cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau: (i) phát triển các mô hình
nuôi trồng thủy sản với quy mô lớn, dưới dạng các hợp tác xã, hiệp hội để đàm phán
giá cả, chất lượng và ký kết hợp đồng trực tiếp với các công ty cung cấp thức ăn
thủy sản nhằm giảm bớt chi phí trung gian; (ii) khuyến khích nông dân tham gia vào
các chuỗi sản xuất trong ngành thủy sản để giảm chi phí và đảm bảo lợi ích cho các
bên tham gia vào chuỗi.
-
Tăng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản:
Do hiện tượng thiên tai, dịch bệnh và tính không hiệu quả trong sản xuất
thủy sản nên thiếu nguồn nguyên liệu thủy sản phục vụ sản xuất trong nước nên các
doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu tranh nhau mua nguyên liệu thủy sản đầu vào nên
giá nguyên liệu thủy sản được đẩy lên cao so với giá thực tế. Do đó, tăng cường sản
lượng khai thác, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản để giảm lượng cầu nguyên liệu
thủy sản đầu vào phục vụ sản xuất xuất khẩu, giảm hiện tượng cạnh tranh không
lành mạnh và đồng thời làm giảm giá sản xuất nguyên liệu thủy sản.
3.2.2. Điều chỉnh các chính sách liên quan đến xuất khẩu thuỷ sản
Tiến hành rà soát các chính sách liên quan đến xuất khẩu để có hướng điều
chỉnh trên cơ sở nghiên cứu và tham vấn của các doanh nghiệp xuất khẩu như: Các
chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư liên quan đến khu chế xuất, khu công
nghiệp và khu công nghệ cao, gồm chính sách thuế, xuất nhập khẩu, hải quan, đất
đai; Chính sách ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực sử dụng công nghệ cao như Luật Đầu
vững chỉ đảm bảo đủ nguyên liệu thủy sản sản xuất, chế biến xuất khẩu vào các
mùa vụ bình thường mà đáp ứng tốt nhu cầu nhập khẩu vào các mùa cao điểm của
các thị trường nhập khẩu.
Thứ ba, đối với các doanh nghiệp sản xuất XKTS, các doanh nghiệp cần phải
xây dựng chiến lược phát triển XKTS toàn diện nhằm mang lại hiệu quả xuất khẩu
cao nhất.
Thứ tư, cần có nhiều nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều mặt hàng xuất khẩu
chủ lực ở nhiều thị trường khác nhau để thấy rõ hơn tác động của TGHĐ nhằm giúp
cho các nhà hoạch định chính sách thấy được đầy đủ những tác động TGHĐ đến
xuất khẩu và cân nhắc hơn khi sử dụng chính sách tỷ giá như là một công cụ khuyến
khích xuất khẩu.
KẾT LUẬN
Thuỷ sản là một trong mười mặt hàng xuất khẩu chủ lực, hàng năm đã đóng
góp một lượng ngoại tệ lớn cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam. Tác
động của chính sách TGHĐ của Việt Nam đến xuất khẩu thuỷ sản đã có những tiến
bộ quan trọng kể từ khi Việt Nam đẩy mạnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế. Vai
trò và tác động của tỷ giá lên xuất khẩu hàng hoá nói chung và xuất khẩu thuỷ sản
nói riêng trong những năm qua đối với sự phát triển kinh tế nói chung và xuất khẩu
nói riêng là không thể phủ nhận. Tiểu luận đã thực hiện được các mục tiêu và nhiệm
vụ nghiên cứu đặt ra sau đây:
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về TGHĐ hướng tới mục tiêu xuất khẩu
thuỷ sản, trong đó luận giải rõ ràng về tính cấp thiết, tổng quan nghiên cứu về sự tác
động của TGHĐ đến xuất khẩu thuỷ sản.
Thứ hai, khảo sát được các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thuỷ sản, về
biến động của TGHĐ, mối quan hệ thuận chiều giữa biến động TGHĐ và xuất khẩu
thuỷ sản.
Thứ ba, tiểu luận đã luận giải và xác định rõ những kết quả tích cực, cũng
như những hạn chế và nguyên nhân mà biến động tỷ giá ảnh hưởng hoạt động xuất
Lê Văn Tư và Nguyễn Quốc Khanh (2004), “Tài chính Quốc tế”, NXB Lao
động-Xã hội.
5.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, “Báo cáo thường niên” (2010, 2011, 2012,
2013, 2014).
6.
Nguyễn Đức Thành, ”Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam” (2009, 2010,
2011, 2012, 2013, 2014). NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội.
7.
Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh (2013), “Giáo trình Kinh tế
lượng”. NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân.
8.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, 2010. Báo cáo xuất khẩu
thủy sản Việt Nam năm 2009. Hà Nội.
9.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, 2011. Báo cáo xuất khẩu
thủy sản Việt Nam năm 2010. Hà Nội.
10. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, 2012. Báo cáo xuất khẩu
Papers, Vol. 46, No. 3 (September/December 1999).
Tài liệu từ Internet
FRED Economic Data,
Trade map, www.trademap.org
Vietcombank, www.vietcombank.com.vn