Chính sách tỷ giá và tác động của tỷ giá hối đoái tới cán cân thương mại việt nam giai đoạn từ 1989 đến 2013 lê đông - Pdf 22

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ 3
LỜI MỞ ĐẦU
Tầm quan trọng và vai trò của tỷ giá hối đoái gắn liền với quá trình lớn mạnh
không ngừng của nền kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế. Giống như vai trò
của giá cả trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá hối đoái có tác động quan trọng đến
những biến đổi của nền kinh tế mỗi quốc gia. Thực tế cho thấy một chính sách tỷ giá
hối đoái hợp lý có thể là nhân tố quan trọng tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế một
nước tăng trưởng. Không ít nước đã thành công khi sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái
để phát triển, cũng có nhiều nước đã vấp phải những thất bại về chính sách tỷ giá. Sự
biến động mạnh của một số các đồng tiền mạnh trong thời gian gần đây (đồng đô la
Mỹ, đồng Yên Nhật, đồng Euro) có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của nhiều
nước và thế giới. Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và
từng bước hội nhập quốc tế không thể không quan tâm đến tỷ giá hối đoái và chính
sách tỷ giá. Hiện nay đồng Việt Nam vẫn neo đậu chủ yếu vào đồng đô la Mỹ, việc
điều chỉnh tỷ giá hiện nay lên hay xuống để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu, giúp cải
thiện cán cân thương mại là một vấn đề mà các nhà kinh tế Việt Nam luôn luôn phải
tính toán.
Xuất phát từ tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá trong nền
kinh tế mở, đặc biệt là một nền kinh tế đang hội nhập mạnh mẽ như Việt Nam. Đồng
thời chúng ta cũng chưa có một chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt để giúp điều chỉnh
và làm cải thiện cán cân thương mại. Do vậy tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Chính sách tỷ giá và tác động của tỷ giá hối đoái tới cán cân thương mại Việt Nam
giai đoạn từ 1989 đến 2013”.
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài nghiên
cứu gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về chính sách tỷ giá hối đoái và cán cân thương
mại.
- Chương 2: Chính sách tỷ giá và tác động của tỷ giá hối đoái tới cán cân thương

HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
1.1. Chính sách tỷ giá hối đoái
1.1.1. Khái niệm tỷ giá hối đoái
a. Khái niệm
Trong điều kiện của một nền kinh tế mở, thương mại quốc tế trở thành phổ
biến, việc thanh toán giữa các quốc gia nhất thiết phải sử dụng tiền tệ của nước này
hay nước khác. Để thực hiện việc chuyển đổi tiền tệ giữa các nước, các quốc gia phải
dựa vào tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền được tính bằng một
đồng tiền khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các quốc
gia khác nhau.
Tỷ giá được niêm yết theo hai phương pháp:
+ Yết giá trực tiếp đồng nội tệ: tức là việc niêm yết giá trong đó đồng nội tệ là
đồng tiền yết giá còn đồng ngoại tệ là đồng tiền định giá cho đồng nội tệ, ví dụ 1USD
= 20.800VND tại Việt Nam.
+ Yết giá gián tiếp đồng nội tệ: là việc niêm yết giá trong đó đồng ngoại tệ là
đồng tiền yết giá còn đồng nội tệ là đồng tiền định giá cho đồng ngoại tệ, ví dụ 1USD
= 20.800VND tại Mỹ.
b. Phân loại tỷ giá
Trong thực tế tùy từng trường hợp mà người ta sử dụng các loại tỷ giá khác
nhau. Do đó mà dựa vào những căn cứ khác nhau người ta chia tỷ giá hối đoái thành
nhiều loại tỷ giá khác nhau:
(1) Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá gồm 2 loại:
+ Tỷ giá điện hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm
chuyển ngoại hối bằng điện (telegraphic transfer - T/T).
+ Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm
chuyển ngoại hối bằng thư (mail transfer - M/T).
(2) Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá gồm:
+ Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do nhà Nước công bố được hình thành trên cơ sở
ngang giá vàng.
+ Tỷ giá tự do là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường do quan hệ cung cầu qui

1.1.2. Chính sách tỷ giá hối đoái
a. Khái niệm
Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ dùng để tác động tới
cung cầu ngoại tệ trên thị trường từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới
những mục tiêu cần thiết.
Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái tập trung chú trọng vào hai vấn đề lớn là:
vấn đề lựa chọn chế độ (hệ thống) tỷ giá hối đoái (cơ chế vận động của tỷ giá hối
đoái) và vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái .
b. Các chế độ tỷ giá hối đoái
 Chế độ tỷ giá hối đoái cố định
[email protected]
Lê Thị Đông - FTU
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
Tỷ giá hối đoái cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, là một kiểu
chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một
đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác,
như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền
neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi
là đồng tiền cố định. Tỷ giá hối đoái cố định là một lựa chọn chế độ tỷ giá ngược hoàn
toàn với tỷ giá hối đoái thả nổi.
 Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn
Chế độ tỷ giá thả nổi hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt là một chế độ trong
đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại hối.
Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền thả nổi.
Nói chung, các nhà kinh tế đều cho rằng, trong phần lớn trường hợp, chế độ tỷ
giá thả nổi tốt hơn chế độ tỷ giá cố định bởi vì tỷ giá thả nổi nhạy với thị trường ngoại
hối. Điều này cho phép làm dịu tác động của các cú sốc và chu kỳ kinh doanh nước
ngoài. Thêm vào đó, nó không bóp méo các hoạt động kinh tế.
 Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có sự điều tiết

thặng dư phản ánh quốc gia đang có ưu thế trong mua bán trao đối với các nước bạn
hàng, vì giá trị xuất khẩu cao hơn giá trị nhập khẩu, làm tăng nguồn thu cho đất nước.
Ngược lại, cán cân thương mại thâm hụt cho thấy quốc gia đang ở vị thế không thuận
lợi trong thương mại quốc tế, nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu, làm giảm thu nhập quốc
gia.
1.2.2. Biện pháp điều chỉnh cán cân thương mại
Cán cân thương mại có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế, nó thể hiện rất rõ
mối liên hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa tiết kiệm và đầu tư, nhờ vậy chúng ta có
thể thấy được sự thay đổi của những nhân tố trong nền kinh tế sẽ có tác động theo
chiều hướng nào đối với cán cân thương mại. Trong phần này chúng ta sẽ nghiên cứu
về việc điều chỉnh cán cân thương mại được thực hiện thông qua biện pháp nào cùng
với mức độ tác động của sự biến đổi những nhân tố trong nền kinh tế đối với cán cân
thương mại. Thông thường, quá trình điều chỉnh cán cân thương mại được thực hiện
thông qua 2 biện pháp chính: điều chỉnh tỷ giá và điều chỉnh thu nhập.
 Biện pháp điều chỉnh tỷ giá
Tỷ giá hối đoái là mức giá mà ở đó đồng tiền của một quốc gia được trao đổi
với đồng tiền của một quốc gia khác. Trong thương mại, giá cả là một nhân tố vô cùng
quan trọng quyết định hành vi mua hàng. Vì vậy, biện pháp điều chỉnh tỷ giá có tác
động trực tiếp tới cán cân thương mại. Một đồng tiền của một quốc gia có thể được
nâng giá hay giảm giá tuỳ thuộc vào chính sách thương mại của quốc gia đó. Trong
[email protected]
Lê Thị Đông - FTU
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
trường hợp cán cân thương mại của một quốc gia bị thâm hụt thì thông thường việc
phá giá đồng tiền là một biện pháp nhằm cải thiện cán cân thương mại giúp quốc gia
đó tăng cường xuất khẩu và giảm nhập khẩu do giá hàng hoá xuất khẩu tính bằng đồng
ngoại tệ sẽ rẻ hơn tương đối. Ngược lại, trong trường hợp một quốc gia sử dụng biện
pháp thắt chặt tiền tệ với mục đích điều chỉnh yếu tố kinh tê vĩ mô khác như kiềm chế
lạm phát thì đồng tiền của quốc gia đó sẽ lên giá tương đối so với đồng tiền khác, điều

của nó tới xuất nhập khẩu, là hai yếu tố quan trọng của cán cân thương mại.
[email protected]
Lê Thị Đông - FTU
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ
GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ 1989 ĐẾN 2013
Trước năm 1986 nền kinh tế nước ta trong tình trạng kế hoạch hoá tập trung cao
độ mọi vấn đề sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai hoàn toàn là do
ý muốn chủ quan của các nhà hoạch định chính sách. Nền kinh tế lâm vào khủng
hoảng trì trệ, đòi hỏi một sự đổi mới kịp thời và toàn diện. Trong thời kỳ này quan hệ
ngoại thương của nước ta chỉ bó hẹp với những nước xã hội chủ nghĩa, ngoài đồng
Rup chuyển nhượng là chính, dự trữ ngoại hối của chúng ta rất ít các đống tiền tự do
chuyển đổi khác. Ngoài ra, trên thị trường, quan hệ cung cầu, các yếu tố ảnh hưởng
đến nền kinh tế không được xem xét. Trong giai đoạn này Việt Nam áp dụng chế độ tỷ
giá cố định và cấu trúc đa tỷ giá được áp dụng để xác định tỷ giá giữa VND và đồng
tiền của các quốc gia trong hệ thống các nước Xă hội chủ nghĩa. Đây là một khó khăn
rất lớn của chúng ta trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Thời kỳ này, đất nước bị
đặt trong tình trạng rất nhiều thử thách, lạm phát phi mã, cán cân thanh toán bị mất cân
bằng nghiêm trọng. Yêu cầu của nền kinh tế lúc này là cần nhanh chóng có một đường
lối đổi mới đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài.
Từ năm 1989 trở về sau cho đến nay, nhà nước ta đã có những chủ trương và
giải pháp đổi mới trong quan hệ đối ngoại, và chính sách tỷ giá đã từng bước xoá bỏ
cơ chế độc quyền ngoại thương, cho phép các tổ chức kinh tế được phép xuất nhập
khẩu trực tiếp với nước ngoài. Số lượng các công ty được trực tiếp kinh doanh xuất
nhập khẩu không ngừng tăng lên, cùng với việc mở rộng ngoại thương chế độ tỷ giá
cũng có những thay đổi căn bản; chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới bản thân cơ
chế điều hành tỷ giá hối đoái đã được nhanh chóng thay đổi phù hợp với bối cảnh thực
tế. Từ một cơ chế đa tỷ giá, mang nặng tính chủ quan bao cấp, xa rời với thị rường; tỷ

Mức tỷ
giá
(đồng)
%Tăng,
giảm
Kim
ngạch
(triệu
USD)
% Tăng,
giảm
Kim
ngạch
(triệu
USD)
% Tăng,
giảm
Giá trị
(triệu USD)
% Tăng,
giảm
Mức tỷ
giá
(đồng)
% Tăng,
giảm
1986 80 100 789,1 100 2155,1 100 -1366 100 425 369,56
1987 368 460 854,2 108,25 2455,1 113,92 -1600,9 117,20 1270 298,82
1988 3000 815,21 1038,4 121,56 2756,7 112,29 -1718,3 107,33 5000 393,70
1989 3900 130 1320 127,12 2565,8 93,08 -1245,8 72,50 4100 82

tức tăng lên 0,97 đồng, thì bước sang năm 1990 sau khi giảm tỷ giá xuống trên 60%
thì 1 đồng giảm của tỷ giá lại khiến xuất khẩu tăng những 1,13 đồng, một mức tăng
khá lớn, ta thấy được xuất khẩu co giãn hoàn toàn với tỷ giá do đó có tác động tích cực
lên hoạt động xuất khẩu. Trong bốn năm 1989-1992 tác động của tỷ giá đến hoạt động
nhập khẩu thể hiện qua thực trạng: mức giảm giá đồng nội tệ càng lớn thì mức tăng
nhập khẩu càng giảm. Như năm 1989, mức giảm giá 30%, trong đó 1 đồng giảm giá
kéo theo mức tăng 0,71 đồng thì bước sang năm 1990, tỷ giá giảm đến 60% đã lập tức
giảm mức tăng nhập khẩu xuống còn 0,66 đồng.
[email protected]
Lê Thị Đông - FTU
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
Đặc biệt, sự kiện tỷ giá danh nghĩa giảm thấp hơn 7,04% so với tỷ giá thị
trường cuối năm 1991 cùng với quyết định bãi bỏ “tỷ giá nhóm hàng” trong thanh toán
ngoại thương năm 1992 đã khiến ngoại thương Việt Nam xuất siêu liên tục trong 6
tháng đầu năm 1992. Vào cuối năm 1992, cán cân thương mại thặng dư 40 triệu USD.
Nguyên nhân xuất siêu chính là do tỷ giá năm 1992, bởi tại thời điểm năm 1992 giá
thành sản xuất hàng Việt Nam còn cao, chất lượng còn thấp, công tác xúc tiến thương
mại cũng chưa được coi trọng và cạnh tranh về giá được xem là yếu tố duy nhất đưa
ngoại thương Việt Nam đạt thành tích trên. Nếu đầu năm 1991, buôn lậu qua biên giới
Việt Nam - Trung Quốc tăng mạnh do hàng hóa của Trung Quốc được duy trì ở mức
giá thấp hơn nhiều so với mức giá hàng hóa của nước ta thì cuối năm 1991, khi đồng
Việt Nam bị phá giá mạnh so với USD 50% từ khoảng 7000VND/USD xuống 14500
VND/USD thì tỷ giá đồng Việt Nam so với nhân dân tệ của Trung Quốc cũng bị sụt
giảm mạnh. So với năm 1991, đồng nhân dân tệ đã tăng giá 50%, mức tăng giá này đã
kéo theo tình trạng hàng hóa Trung Quốc bị tăng cao, gặp khó khăn trong tiêu thụ trên
thị trường Việt Nam. Nhiều mặt hàng Việt Nam có cơ hội cạnh tranh với giá thấp hơn
các sản phẩm nội địa trên thị trường Trung Quốc.
Chúng ta có thể nhận thấy rằng việc xóa bỏ tỷ giá kết toán nội bộ, thống nhất tỷ
giá, đưa tỷ giá chính thức tiến gần tỷ giá thị trường nhằm đạt được mức tỷ giá hợp lý

rõ biên độ giao động); Tăng cường sức mạnh của các biện pháp hành chính mà cụ
thể là buộc các đơn vị kinh tế (trước hết là đơn vị kinh tế quốc doanh) có ngoại tệ
phải bán cho Ngân hàng theo tỷ giá nhất định.
− Thứ hai, bãi bỏ hoàn toàn hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh
toán ngoại thương giữa ngân sách với các đơn vị kinh tế tham gia vào hoạt động
ngoại thương. Thay vào đó là việc áp dụng tỷ giá chính thức do Ngân hàng nhà nước
công bố.
Để hạn chế tác động của các yếu tố phi kinh tế, một mặt chính phủ đã tăng
cường công tác thông tin, cho công khai hoá một cách nhanh chóng và chính xác chỉ
số kinh tế quan trọng như tỷ giá chính thức, tỷ giá thị trường, chỉ số giá, sự biến
động giá vàng… Nhờ vậy hạn chế được hoạt động đầu cơ, giải tâm lý hoang mang.
Mặt khác, chính phủ cũng thông quan nhiều hình thức, tốc độ, mức can thiệp để thể
hiện rõ quyết tâm cải cách triệt để nền kinh tế nói chung và áp dập tắt nguy cơ bùng
nổ trở lại lạm phát nói riêng.
Ngoài ra, chính phủ cũng cho thấy có sự chú trong tăng cường thực lực kinh tế
cho hoạt động can thiệp vào tỷ giá bằng cách gia tăng mạnh mẽ dự trữ ngoại tệ, lập
quỹ ổn giá. Theo số liệu báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước cho thấy,
chính phủ thường dành một tỷ trọng khá lớn trong tổng lượng tiền cung ứng thêm
[email protected]
Lê Thị Đông - FTU
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
cho nền kinh tế để tăng tài sản có ngoại tệ. Những biện pháp can thiệp trên đã phần
nào xoá đi tâm lý găm giữ ngoại tệ, góp phần làm giảm giá đô la và tỷ giá được ổn
định trong những năm tiếp theo.
− Thứ ba, đẩy mạnh hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ (trung tâm giao
dịch ngoại tệ tại trực tiếp Hồ Chí Minh được mở cửa từ tháng 8 năm 1991) để cho
các đơn vị kinh tế và các tổ chức tín dụng trao đổi, mua bán ngoại tệ với nhau theo
giá tự thoả thuận, tạo ra môi trường điều kiện để cung cầu thực sự gặp nhau. Sau đó,
tiến dần tới việc thành lập thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng tháng 9 năm 1994.

%Tăng,
giảm
Kim
ngạch
(triệu
USD)
%
Tăng,
giảm
Kim
ngạch
(triệu
USD)
%
Tăng,
giảm
Thâm
hụt
(triệu
USD)
% Tăng,
giảm
1993 10640 100 2985,2 100 3924 100 938,8 100
1994 10955 102,9 4054,3 135,8 5825,8 148,5 1771,5 143,7
1995 10970 100,1 5448,9 134,4 8155,4 140 2706,5 149,7
1996 11100 101,2 7255,9 133,2 11143,6 136,6 3887,7 153,6
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê
Với các số liệu tính toán từ bảng 2 trên đây, việc tỷ giá dao động với biên độ +/-
0,5% trong giai đoạn 93-96 đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu. Nhập
siêu tăng gần gấp đôi trong năm 93, 94. Đặc biệt năm 1996, khi tỷ giá danh nghĩa bị ấn

2.3. Chính sách tỷ giá thời kỳ từ năm 1997 đến nay
Đây là giai đoạn điều hành tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của nhà nước. Chủ
trương điều hành tỷ giá một cách linh hoạt theo tình hình trong nước và quốc tế nhằm
khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và tăng dự trữ ngoại tệ. Trong thời kỳ này
chúng ta sẽ cùng nghiên cứu các giai đoạn khác nhau tương ứng vơi sự phát triển của
kinh tế Việt Nam.
2.3.1. Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 1999
Đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam chịu những tác động mạnh mẽ của
cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Đồng Đô la lên giá mạnh so với tất cả các đồng
tiền trong khu vực Đông Nam Á. Trong tình hình đó Ngân hàng Trung ương đã tiến
hành điều chỉnh tỷ giá đồng Việt Nam: Tăng biên độ tỷ giá giao dịch lên +/-5% rồi
+/-10%, đồng thời giảm giá đồng tiền Việt Nam nhằm tạo ra một mức tỷ giá mới sát
với mức tỷ giá thực tế.
Chính sách tỷ giá mới đã khiến cho đồng Việt Nam giảm giá
16% chỉ trong vòng một năm, khoảng cách giữa tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa cũng
được thu hẹp. Điều này đã đem lại những tác động tích cực cho cán cân thương mại
Việt Nam: kim ngạch nhập khẩu tăng chậm, mức nhập siêu giảm xuống còn 2,4 tỷ
USD (giảm 36,8% so với năm trước). Đặc biệt trong năm 1999 mức nhập siêu chỉ còn
200 triệu USD.
[email protected]
Lê Thị Đông - FTU
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
Bảng 3: Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại Việt Nam
giai đoạn 1997 – 1999
Năm
Tỷ giá chính
thức
(USD/VND)
Xuất khẩu Nhập khẩu

Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của Tổng Cục Thống Kê
Mặc dù vậy, đồng Việt Nam vẫn còn bị định giá cao so với các nước trong khu
vực, khiến cho giá hàng hoá Việt Nam tăng cao. Hàng hoá Việt Nam khó có thể cạnh
tranh được với các nước trong khu vực nên hoạt động xuất khẩu phần nào bị hạn chế
(tốc độ tăng xuất khẩu ở mức tương đối thấp: 1,9% trong năm 1998). Đồng thời việc
đồng Việt Nam bị định giá cao trong khu vực cũng khiến cho cơ cấu thị trường xuất
khẩu của Việt Nam chuyển dịch từ khối ASEAN sang thị trường châu Âu. Cuộc khủng
hoảng kinh tế khiến cho các quốc gia châu Á phải hạn chế nhập khẩu để dữ trữ ngoại
tệ cũng là một phần nguyên nhân của hiện tượng này.
Nói tóm lại, trong giai đoạn này, việc điều chỉnh tỷ giá ở Việt Nam đã mang lại
những kết quả hết sức tích cực: kiểm soát được nhập khẩu đồng thời mở ra những cơ
hội mới khi thay đổi thị trường xuất khẩu, từ đó cải thiện cán cân thương mại của Việt
Nam. Có thể nói đây là một giai đoạn thành công trong điều hành tỷ giá ở Việt Nam.
2.3.2. Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2006
Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc đồng EUR được lưu hành thống nhất
trên tất cả các quốc gia EU và trờ thành đối thủ nặng ký của USD. Trong bối cảnh này,
Việt Nam đã áp dụng cơ chế neo tỷ giá có điều chỉnh, đồng thời tỷ giá Việt Nam được
gắn với một “rổ tiền tệ” trong đó tỷ trọng của EUR được nâng lên.
Trong giai đoạn này, biên độ tỷ giá được nới rộng từ +/-0,1% lên +/-0,25% đối
với nghiệp vụ giao ngay và từ +/-0,4% lên +/0,5% đối với nghiệp vụ kì hạn ngày
[email protected]
Lê Thị Đông - FTU
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
1/7/2002. Tỷ giá nội tệ bị ép cao hơn giá trị thực khiến đồng Việt Nam bị định giá cao
hơn USD từ 10-20%.
Xuất khẩu Việt Nam thời kỳ này gặp nhiều khó khăn do không cạnh tranh được
với hàng hoá Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu tăng chậm (thấp nhất là hơn 3% năm
2001), đồng thời tốc độ tăng xuất khẩu luôn nhỏ hơn tốc độ tăng nhập khẩu, dẫn đến
tình trạng nhập siêu ở mức cao: đến tháng 10/2003, mức nhập siêu là 4,55 tỷ USD.

Thâm
hụt
(triệu
USD)
% Tăng,
giảm
2000 14157 100 14483 100 15637 100 1154 100
2001 14752 104,2 15029 103,77 16218 113,72 1189 103,03
2002 15368 104,18 16706 111,16 19746 121,75 3040 255,68
2003 15608 101,56 20149 120,61 25256 127,90 5152 169,47
2004 15739 100,84 26485 131,45 31969 126,58 5484 106,44
2005 15873 100,85 32447 122,51 36761 114,99 4314 78,66
2006 16091 101,37 39826 122,74 44891 122,12 5065 117,41
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của Tổng cục Thống Kê
Tóm lại, diễn biến tỷ giá và cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2000 –
2006 cho thấy ảnh hưởng của tỷ giá tới cán cân thương mại là tương đối rõ ràng, biến
động của tỷ giá và cán cân thương mại có xu hướng bám sát nhau: tỷ giá có xu hướng
tăng, trong khi cán cân thương mại giai đoạn đầu có chiều hướng tăng thâm hụt nhưng
sau đó lại được cải thiện dần. Tuy vậy nhưng trong giai đoạn này, cùng với quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam được cải thiện rõ rệt,
kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng mạnh, góp phần không nhỏ cho quá trình
[email protected]
Lê Thị Đông - FTU
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
xây dựng và đổi mới đất nước. Tuy nhiên, trên danh nghĩa Việt Nam áp đặt cơ chế tỷ
giá thả nổi có sự điều tiết của nhà nước nhưng trên thực tế đồng Việt Nam bị neo giữ
một cách cứng nhắc gây ra những tổn thất cho cán cân thương mại Việt Nam.
2.3.3. Giai đoạn từ năm 2007 đến nay
Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã được kết nạp vào Tổ chức Thương mại Thế giới

(triệu
USD)
%
Tăng,
giảm
Giá trị
(triệu
USD)
% Tăng,
giảm
2007 15738,30 100 48561 100 62765 100 -14204 100
2008 16179,00 102,8 62285 128,26 80714 128,597 -18029 126,93
2009 17490,00 108,1 57096 91,67 69949 86,66 -12853 71,29
2010 18921,30 108,18 72237 126,52 84839 121,29 -12602 98,05
2011 20229,00 106,91 96906 134,15 106750 125,83 -9844 78,11
2012 20828,00 102,96 114529 118,19 113780 106,59 749 -7,61
2013 21036,00 100,99 132200 115,43 131300 115,398 900 120,16
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của Tổng Cục Thống Kê
So với cuối năm 2007, tỷ giá USD/VND năm 2008 đã tăng khoảng 9%, vượt xa
mức thay đổi quanh 1% những năm gần đây, trong khi đồng USD vẫn chiếm tỷ trọng
[email protected]
Lê Thị Đông - FTU
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
chi phối trong thanh toán quốc tế (khoảng 70%). Mức tăng vượt trội này đẩy chi phí
nhập khẩu, chi phí sản xuất kinh doanh của những ngành hàng có đầu vào lớn từ
nguyên liệu nhập khẩu, chi phí vay nợ ngoại tệ tăng cao. Đây cũng là năm nổi bật khi
trong báo cáo tài chính của nhiều doanh nghiệp chi phí của tỷ giá tăng đột biến.
Biến động khó lường của tỷ giá còn thể hiện ở sự trái chiều trong nửa đầu năm
2008 (giảm mạnh những tháng đầu năm, tăng đột biến ngay sau đó), gây xáo trộn kế

trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng, đồng thời USD tín dụng thì thừa, USD
thương mại thì thiếu. Các ngân hàng không có ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và
nếu có bán thì mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần do NHNN quy định. Những
bất ổn trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái đã tiếp tục gây ra những khó khăn
cho hoạt động xuất nhập khẩu. Hơn nữa, đồng tiền mất giá còn ảnh hưởng đến lạm
phát trong nước do giá hàng nhập khẩu tăng mạnh.
Đến năm 2010,Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có quyết định nâng tỷ giá giữa
USD/VND thêm 2.1%, từ 18,544 lên 18,932, với biên độ được giữ nguyên ở mức +/-
3%, áp dụng từ ngày 18/08/2010.
Với sự nới rộng tỷ giá này, tỷ giá trần USD/VND có thể giao dịch sẽ tăng lên ở
mức 19,500. Đây là đợt điều chỉnh thứ 2 trong năm 2010 và là đợt thứ 3 kể từ ngày
25/11/2009 NHNN điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng.
[email protected]
Lê Thị Đông - FTU
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN 2013
Biểu đồ 2: Biến động tỷ giá USD/VND trên thị trường năm 2009-2010
Mặc dù tỷ giá USD/VND vẫn tăng cao nhưng Việt Nam vẫn trong tình trạng
nhập siêu còn khá lớn. Mặc dù theo lý thuyết, tỷ giá USD/VND tăng (USD lên giá còn
VND giảm giá) sẽ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gia tăng, hạn chế nhập khẩu. Nhưng
trên thực tế khi tỷ giá USD/VND tăng, không những xuất khẩu tăng mà nhập khẩu
cũng tăng, đáng chú ý mức tăng của nhập khẩu mạnh hơn mức tăng của xuất khẩu,
nghĩa là cán cân thương mại vẫn thâm hụt. Đó là do ở Việt Nam có sự phụ thuộc quá
cao giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Chính vì có sự phụ thuộc quá nhiều của xuất khẩu
vào nhập khẩu nên khi tỷ giá tăng xuất khẩu tăng thì nhập khẩu cũng tăng theo và tăng
nhiều hơn mức tăng của xuất khẩu, điều này lý giải tại sao cán cân thương mại vẫn
thâm hụt mặc dù xuất khẩu có gia tăng khi VND giảm giá.
Bước sang năm 2011, là một năm tương đối thành công của chính sách quản lý
ngoại hối với tỷ giá diễn biến tương đối ổn định, giá vàng trong nước tuy vẫn tiếp tục
tăng nóng nhưng đã bám sát hơn với giá vàng thế giới. Ngay từ đầu năm 2011, Ngân

Bước sang năm 2013, trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, NHNN tiếp
tục cam kết điều hành giữ biến động tỷ giá khoảng 2-3% trong cả năm. Để thực hiện
cam kết này, công tác điều hành tỷ giá tiếp tục được thực hiện linh hoạt kết hợp với
hoạt động mua bán của NHNN. Để phù hợp với tình hình lãi suất, duy trì ổn định thị
trường ngoại hối, ngày 28/6/2013, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân
hàng từ mức 20.828 VND/USD tăng 1% lên mức 21.036 VND/USD; đồng thời thực
hiện một loạt các giải pháp hỗ trợ khác, trong đó có việc quy định lãi suất tối đa áp
dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 6 tháng với mức trần là
7%/năm; điều chỉnh giảm lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng USD của tổ chức từ
2%/năm xuống 0,25%/năm, cá nhân từ 2%/năm xuống 1,25%/năm tại các tổ chức tín
[email protected]
Lê Thị Đông - FTU


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status