Lê Quốc Minh Dương, Lớp ĐH25QT03_T11
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN LẠM
PHÁT TẠI VIỆT NAM
1. Mở đầu:
Sau khi chính thức gia nhập WTO vào năm 2007, kinh tế Việt Nam đã
bước sang một trang sử mới với sự phát triển vượt bậc về mọi mặt. Việt Nam đã
được đánh giá là một “con hổ” của nền kinh tế Châu Á. Tuy nhiên, Việt Nam
vẫn phải đối mặt với rất nhiều vấn đề nan giải như: lạm phát, mất giá đồng nội
tệ, nhập siêu cao…Đặc biệt trong thời gian gần đây, việc tỷ giá hối đoái giữa
VND và USD tăng cao đã có những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt
Nam theo cả hai mặt tốt và xấu.
Do mỗi người có cách tiếp cận vấn đề và cách diễn đạt khác nhau nên có
rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái là giá của
đồng tiền này được tính theo một đồng tiền khác. Tỷ giá hối đoái cũng được
hiểu là tỉ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của hai quốc gia khác nhau. Hay cũng có
thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng
tiền khác. Tỷ giá có thể được xác định bởi thị trường trong chế độ tỷ giá hối đoái
thả nổi, được gọi là tỷ giá thị trường hoặc cũng có thể được xác định bởi các cơ
quan hữu trách trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Ở nhiều nước, trong đó có
Việt Nam, cả thị trường lẫn cơ quan hữu trách cùng tham gia quy định tỷ giá.
Tỷ giá hối đoái xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời, phát triển của
thương mại quốc tế, nó được giải thích bởi một hiện tượng đơn giản là hàng hoá
không có biên giới quốc gia trong khi tiền chỉ được chấp nhận trên lãnh thổ quốc
1
Lê Quốc Minh Dương, Lớp ĐH25QT03_T11
tục đà tăng và đã bùng nổ vào giai đoạn 2007-2008. Qua đó có thể thấy Việt
Nam đang đánh đổi lạm phát cho tăng trưởng và chấp nhận một mức lạm phát
cao nhất định để đảm bảo phát triển kinh tế.
2
Lê Quốc Minh Dương, Lớp ĐH25QT03_T11
Diễn biến CPI giai đoạn 1996 - 2010. Nguồn: GSO
2.1.1. Giai đoạn 2007-2008:
Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2008, giá nhóm hàng lương thực - thực phẩm
đã tăng 18,1% ( lương thực tăng 25%, thực phẩm tăng 15,6%) gấp rưỡi mức
12,6% của lạm phát cả năm 2007 và cao tương đương bằng mức tăng giá lương
thực – thực phẩm cả năm 2007. Đến tháng 6 thì CPI đã tăng 18,44% so với cuối
năm 2007 và 26,8% so với tháng 6/2007. Đến 3 tháng cuối năm thì giá cả các
mặt hàng đã dần ổn định và hạ nhiệt, chỉ số CPI liên tục âm và kết thúc năm
2008, chỉ số lạm phát dừng lại ở mức 19,89%. Có thể nói có rất nhiều nguyên
nhân làm cho lạm phát 2008 tăng mạnh như: do tình trạng thiếu lương thực trầm
trọng trên thế giới làm giá gạo trong nước tăng rất mạnh có lúc từ tăng 50 100%, giá xăng tăng 38%, giá thép tăng 91%, điện tăng 7,6%...nhưng cốt lõi
nguyên nhân chính làm cho lạm phát 2008 ở nước ta cao hơn các nước khác như
Thái Lan, Trung Quốc….là do NHNN tăng cung tiền quá lớn ( 21,1%) vào thị
trường để ổn định tỷ giá và do đầu tư công kém hiệu quả.
2.1.2. Năm 2009
Kết thúc năm 2009, do kinh tế thế giới suy thoái làm sức cầu giảm, giá cả
các mặt hàng giảm theo làm cho chỉ số lạm phát ở Việt Nam đã hạ nhiệt khi
3
17-18%.
4
Lê Quốc Minh Dương, Lớp ĐH25QT03_T11
2.2. Diễn biến tỷ giá tại Việt Nam:
2.2.1. Năm 2008:
Diễn biến tỷ giá VND/USD năm 2008-2009
Năm 2008 được coi là “ năm bất ổn của tỷ giá” với những ảnh hưởng từ
các yếu tố vĩ mô, cung cầu ngoại tệ, thậm chí là cả những tin đồn thất thiệt. Vào
năm 2008, biên độ tỷ giá đã được điều chỉnh đến 5 lần, một mật độ dày chưa
từng có trong lịch sử điều hành tỷ giá ở nước ta. Quy luật thị trường bị phá vỡ.
So với cuối năm 2007, tỷ giá USD/VND mua vào – bán ra của các Ngân hàng
thương mại (NHTM) đã tăng khoảng 9%, một mức tăng đột biến so với thay đổi
quen thuộc quanh 1% những năm trước. Nếu như những năm trước tỷ giá luôn
được định hướng tăng nhẹ vào khoản 1%/năm thì vào năm 2008, tỷ giá công bố
liên ngân hàng thường có xu hướng duy trì ổn định đã tăng xấp xỉ 5%, dẫn đến
tỷ giá giao dịch liên ngân hàng tăng xấp xỉ 10%. Trong khi đó tỷ giá ngoài thị
trường tự do tăng kịch trần vượt quá hạn mức cho phép của Ngân hàng Nhà
nước (NHNN) cho phép nhiều lần. Chênh lệch giữa tỷ giá chính thức do ngân
hàng công bố và tỷ giá tự do có sự khác biệt rất lớn.
Tính chất đặc biệt của tỷ giá năm 2008 cũng thể hiện ở những biến động
trái chiều. Trong những tháng đầu năm, thị trường có hiện tượng ứ đọng ngoại
tệ, tỷ giá VND/USD có lúc xuống “đáy” 15.300 VND; nhiều doanh nghiệp,
ngành hàng xuất khẩu phải thông qua các hiệp hội yêu cầu ngân hàng đẩy mạnh
mua vào USD, tháo gỡ khó khăn. Nhưng từ tháng 5, “cơn sốt” khan hiếm ngoại
5
Lê Quốc Minh Dương, Lớp ĐH25QT03_T11
2.2.3. Năm 2010 và 5 tháng đầu năm 2011:
Tháng 1/2010, tỷ giá VND/USD đã giảm nhẹ và tiếp tục dao động quanh
mức 18.479 VND/USD sau khi tăng mạnh vào 2 năm 2008, 2009. Nguyên nhân
là do lượng USD vào nước ta tăng khá so với những năm trước, kể cả nguồn vốn
đầu tư trực tiếp (tháng 1 tăng 33,3%); Vốn hỗ trợ phát triển chính thức do năm
trước cam kết, ký kết đạt mức kỷ lục; Vốn đầu tư gián tiếp khi các nhà đầu tư
nước ngoài liên tục mua ròng trên thị trường chứng khoán; Nguồn kiều hối từ
Việt kiều và từ lao động làm việc ở nước ngoài gia tăng; Nguồn thu từ khách
quốc tế đến Việt Nam gia tăng trở lại (tháng 1 tăng 20,4%); Kim ngạch xuất
khẩu chuyển từ tăng trưởng âm sang tăng trưởng dương…Bên cạnh đó, các tập
đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, sức ép tâm lý
găm giữ USD do lo sợ rủi ro tỷ giá giảm, chênh lệch giữa giá thị trường tự do
với giá niêm yết trên thị trường chính thức đã giảm đáng kể. Ngoài ra, từ cuối
năm 2009 NHNN đã có những giải pháp “vượt trước ngăn chặn” với nhiều
động thái để giảm sức ép tăng tỷ giá, như: Tăng tỷ giá liên ngân hàng đồng thời
với việc giảm biên độ giao dịch từ ±5% xuống còn ±3%; Yêu cầu các tập đoàn
và tổng công ty lớn của nhà nước bán lại ngoại tệ cho ngân hàng; Bán ngoại tệ
cho các NHTM có trạng thái dưới 5%; Hạ 3% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền
gửi USD…
Ngày 01/11/2010, giá đôla đang có xu hướng tăng mạnh vượt ngưỡng
20.000 đồng, trên thị trường tiền tệ quốc tế, ngày 29/10, các nhà đầu tư chấp
7
Lê Quốc Minh Dương, Lớp ĐH25QT03_T11
nhận mức giá mỗi USD tương đương 21.500 đồng cho hợp đồng kỳ hạn 12
Lê Quốc Minh Dương, Lớp ĐH25QT03_T11
Ngân hàng đã thu hẹp lại , thậm chí có lúc tỷ giá trên thị trường tự do thấp hơn
tỷ giá niêm yết tại ngân hàng. Đơn cử, chiều 05/05, trên thị trường tự do, giá
USD mua vô, bán ra chỉ ở mức 20.500 - 20.570 đồng/USD, trong khi đó tỷ giá
USD bình quân liên ngân hàng cùng ngày theo quy định của NHNN lại lên đến
20.708 đồng/USD. Đến đầu tháng 6, tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã giảm
xuống còn 20618VND/USD. Qua đó cho thấy, diễn biến tỷ giá hiện đang tương
đối dần ổn định trong ngắn hạn.
2.3. Những tác động của tỷ giá hối đoái tới lạm phát:
Theo các chuyên gia kinh tế, lý do quan trọng khiến lạm phát ở Việt Nam
cao trong những năm gần đây chính là do chính sách tỷ giá hối đoái đôi khi
không phù hợp so với biến động của kinh tế thế giới đã dẫn đến kết quả là:
lượng cung tiền tăng đột biến; chi phí cho sản xuất trong nước tăng cao. Đây là
hai trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới lạm phát cao tại Việt Nam.
2.3.1. Neo tỷ giá cứng nhắc với đô la Mỹ dẫn đến cung tiền tăng
mạnh
9
Lê Quốc Minh Dương, Lớp ĐH25QT03_T11
Sau khi gia nhập WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài đã đột biến đổ
mạnh vào Việt Nam (chỉ riêng năm 2007: vốn FDI tăng 20,3 tỷ USD, vốn ODA
tăng gần 1,68 tỷ USD, vốn đầu tư gián tiếp tăng trên 6 tỷ USD). Lúc này, với
chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu, NHNN đã cung một lượng lớn VND ra
thị trường để mua lại lượng ngoại tệ này nhằm kìm tỷ giá VND/USD dưới điểm
cân bằng để nâng cao khả năng cạnh tranh về giá cho các mặt hàng xuất khẩu
ngạch xuất khẩu của chúng ta tăng trưởng ngoạn mục, nhưng cán cân thương
mại vẫn bị thâm hụt hay Việt Nam vẫn nhập siêu rất lớn. Một phần nguyên nhân
vì VND mất giá so với các ngoại tệ khác khiến cho giá thành của hàng hóa,
nguyên nhiên liệu nhập khẩu tăng cao, khiến cán cân thương mại bị thâm hụt
lớn.
Trong khi đó, các nước khác trong khu vực đã cho phép tỷ giá biến động
phù hợp với những biến động của đồng USD trên thị trường. Điều này đồng
nghĩa với giá hàng hóa trên thế giới tính theo tiền USD tăng rất nhanh. Phản ứng
của các nước này giúp cho giá hàng hóa không bị tăng theo sự mất giá của đồng
USD, xóa đi một số tác động xấu đối với nền kinh tế.
2.4. Kiến nghị về chính sách tỷ giá hối đoái tại Việt Nam trong thời
gian tới:
Để góp phần kiềm chế lạm phát, thúc đẩy xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế
trong bối cảnh nền kinh tế mất ổn định như hiện nay, chính sách tỷ giá hối đoái
của Việt Nam cần được hoàn thiện theo hướng cơ bản sau:
Thứ nhất: Tiếp tục duy trì cơ chế tỷ giá thả nổi có sự can thiệp của Nhà
nước.
Thị trường ngoại hối Việt Nam đang còn trong giai đoạn sơ khai luôn
tiềm ẩn nhiều bất ổn do sự tấn công của các lực lượng đầu cơ. Dự trữ ngoại tệ
của NHNN còn thấp, khả năng can thiệp vào thị trường ngoại hối còn hạn chế.
Trong khi đó, cơ chế tỷ giá thả nổi giúp tự chủ trong chính sách tiền tệ, hạn chế
khả năng bị đầu cơ tấn công, hạn chế rủi ro ngoại hối... nhưng lại có nhược điểm
là đánh mất neo danh nghĩa cho chính sách tiền tệ, thị trường sẽ chịu nhiều rủi ro
khi tỷ giá có tính linh hoạt cao, khó dự báo mức giá cả quốc tế, không khuyến
khích thương mại và đầu tư trong trường hợp khả năng can thiệp điều tiết của cơ
quan quản lý tiền tệ yếu kém... Do vậy, trong thời gian tới Việt Nam vẫn cần
tiếp tục thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có sự điều tiết của Nhà nước để
tỷ giá hối đoái phản ánh đúng quan hệ cung-cầu thị trường nhưng NHNN vẫn
11
12
Lê Quốc Minh Dương, Lớp ĐH25QT03_T11
Thứ sáu: Điều hành tỷ giá xuất phát từ lợi ích chung của nền kinh tế; có
nghĩa tại một thời điểm phải xác định rõ yếu tố nào cần ưu tiên và yếu tố nào có
thể hy sinh để đạt lợi ích tổng thể tối đa.
3. Kết luận:
Từ thực trạng và giải pháp trên cho ta thấy việc định hướng cho điều h
ành cơ chế tỷ giá hối đoái cần căn cứ vào vai trò và đặc điểm của tỷ giá hối
đoái để có thể đưa ra được một định hướng phù hợp. Với điều kiện hiện tại về
kinh tế - xã hội của Việt Nam thì việc thực hiện một c ơ chế tỷ giá linh hoạt có
sự kiểm soát của Nhà nước là phù hợp. Cơ chế này có thể còn kéo dài trong m
ột thời gian nữa khi Việt Nam thực sự có một tiềm lực kinh tế mạnh, có một
lực lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn để có thể can thiệp vào thị trường khi cần
thiết nhằm ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia, ổn định được giá cả hàng
hoá - dịch vụ trên thị trường.
Tuy nhiên tỷ giá hối đoái là một biến số, một loại giá cả có vai tr ò
quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế mở. Sự biến động của tỷ giá
hối đoái sẽ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu, công ăn việc làm, sản
lượng, lạm phát,...tức là ảnh hưởng đến mục tiêu cân bằng nội và cân bằng
ngoại của nền kinh tế. Do đó, cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái đóng một vai tr
ò vô cùng quan trọng. Nước ta mới chỉ đang đi những bước đầu tiên trong tiến
trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, do đó không tránh khỏi những yếu kém
và sai sót khi lựa chọn chế độ và điều hành chính sách tỷ giá hối đoái nên
trong công tác điều hành, quản lý chính sách tỷ giá hối đoái cần phải có sự cẩn
trọng nhất định và việc thực hiện các biện pháp quản lý cần phải đặt trong mối
quan hệ hữu cơ hình thành nên hệ thống đan xen v à hỗ trợ lẫn nhau để có được
sự kết hợp linh hoạt, đồng bộ nhằm khai thác thế mạnh và hạn chế nhược
điểm của từng biện pháp.
phát”.
Được
lấy
về
từ:
http://chumanhquan.wordpress.com/2010/10/11/t%E1%BB%B7-gial%E1%BA%A1m-phat/
Diễn đàn kinh tế Việt Nam (2011), “Khôi phục vị thế VND để tránh “bẫy”
USD”. Được lấy về từ : http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/vef.vn/Khoiphuc-vi-the-VND-de-tranh-bay-USD/6469467.epi
IMF (2010), Monetary and Exchange Rate Policy in Viet Nam: Some
Challenges, [http://www.imf.org/external/country/VNM/rr/2010/092110.pdf]
Lê Trang. “Chủ động giảm giá nội tệ ở mức vừa phải”. Được lấy về từ:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/53106/Chu-dong-giam-gianoi-te-o-muc-vua-phai.html
Minh Đức. “Vẫn dè chừng rủi ro tỷ giá”. Được lấy về từ :
http://www.baomoi.com/Home/TaiChinh/vneconomy.vn/Van-de-chung-rui-ro-tygia/6439828.epi
TS Nguyễn Quang A. “Lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất: Vòng lẩn quẫn”.
Được lấy về từ: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/lam-phat-ty-gia-hoi-doai-va-laisuat-vong-luan-quan
Nguyễn Tuân. “Nên tiếp tục duy trì chính sách tỷ giá ổn định”. Được lấy về
từ:
http://www.infotv.vn/ngan-hang-tai-chinh/tin-tuc/41263-nen-tiep-tuc-duy-tri-
chinh-sach-ty-gia-on-dinh
Nguyễn Tuân. “Standard Chartered dự báo tỷ giá và lạm phát năm 2010”.
Được lấy về từ: http://www.infotv.vn/component/content/article/90-chuyen-gianhan-dinh/42913-standard-chartered-du-bao-ti-gia-va-lam-phat-nam-2010
Nguyễn Thị Kim Liên, Chính sách tỷ giá trong vai trò kiềm chế lạm phát và