ĐỀ CƯƠNG CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
MỤC LỤC
Câu 1
• Định nghĩa nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện qui luật của
sự vật và hiện tượng và vận dụng các qui luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp
tác động vào các sự vật và hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng.
• Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học
a Tính mới
Nghiên cứu khoa học là quá trình thâm nhập vào thế giới của những sự vật mà con
người chưa biết. Vì vậy, quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những
phát hiện mới hoặc sáng tạo mới. Tính mới là thuộc tính quan trọng số một của lao động
khoa học.
b Tính tin cậy
Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả năng
kiểm chứng lại nhiều lần, do nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện
quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau với những kết quả thu được hoàn toàn
giống nhau.
c Tính thông tin
Sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin sản phẩm của nghiên cứu khoa
học được thể hiện: một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, mẫu vật liệu mới, mẫu sản
phẩm mới, mô hình thí điểm...
d Tính khách quan
Vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một tiêu chuẩn của người
nghiên cứu khoa học.
e Tính rủi ro
Một nghiên cứu có thể thành công, có thể thất bại. Sự thất bại trong nghiên cứu
Hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xác định
• Các nhân tố cấu thành hoạt động nghiên cứu khoa học
a Chủ thể của nghiên cứu khoa học
Theo quan điểm hàn lâm: nghiên cứu khoa học là của các nhà khoa học có phẩm
chất trí tuệ và tài năng đặc biệt, được đào tạo chu đáo. Tuy nhiên, trong thực tế cũng có
những người sản xuất bình thường có thể nghiên cứu khoa học, họ thử nghiệm để tìm
kiếm những cái mới phục vụ cho sản xuất và đời sống. Ngoài ra với sự cần thiết liên kết
đa ngành, chủ thể nghiên cứu có khi là một tập thể.
b Mục đích của nghiên cứu khoa học
Là tìm tòi, khám phá các quy luật vận động của thế giới tự nhiên và xã hội, nhằm
ứng dụng chúng vào sản xuất hay tạo ra những giá trị tinh thần, thoả mãn nhu cầu của
con người.
-
Mục tiêu nhận thức: nhằm phát triển kho tàng tri thức của nhân loại
− Mục tiêu sáng tạo: tạo ra công nghệ mới, nâng cao trình độ văn minh, năng suất lao
động..
− Mục tiêu kinh tế: góp phần làm tăng trưởng kinh tế xã hội.
− Mục tiêu văn hoá, văn minh: Mở mang dân trí, nâng cao trình độ, hoàn thiện con người ở
mức cao hơn.
c Phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp nghiên cứu khoa học là con đường, giải pháp tiếp cận để phát hiện
bản chất vấn đề. Phương pháp nghiên cứu khoa học rất đa dạng, tuỳ thuộc vào lĩnh vực
pháp cụ thể xuất phát từ phương pháp luận trong sự thống nhất chung.
d Sản phẩm của nghiên cứu khoa học
Khoa học luôn hướng đến cái mới. Sản phẩm của nghiên cứu khoa học là những
thông tin mới, sản phẩm mới, lý thuyết mới, .... (Nhiều ý tưởng khoa học độc đáo đi trước
thời đại đã dẫn dắt sự phát triển của thực tiễn. Tuy nhiên cũng cần có nhận thức cái mới
không phải quá lớn lao. Trong điều kiện phân hóa khoa học theo từng lĩnh vực hẹp, cái
mới có thể rất nhỏ nhưng sẽ góp phần đóng góp cho phát triển xã hội.)
e Giá trị khoa học
Giá trị khoa học được quyết định bởi độ tin cậy, tính ứng dụng và quy mô, phạm
vi áp dụng phục vụ cuộc sống. Sản phẩm khoa học phải có tính khách quan, có thể kiểm
tra và đánh giá được.
4
Câu 2:
Khi nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu phải thực hiện tổng quan vấn đề nghiên
cứu bởi vì: Một đề tài khoa học thường, nếu không muốn nói là luôn, cần có đề cương
nghiên cứu hay có một bài tổng quan nghiên cứu để có cái nhìn tổng quát về vấn đề cần
nghiên cứu. Trong đề cương hay thông qua bài tổng quan nghiên cứu, bạn sẽ xác định
được mục đích và phạm vi nghiên cứu, đối tượng và các phương pháp chuyên ngành sẽ
sử dụng, những kết quả cần đạt được và thời gian dự kiến cho từng giai đoạn tiếp theo.
Đặc biệt trong các khoa học thực nghiệm, đôi khi cần sử dụng những hoá chất, dụng cụ
đặc biệt, không có sẵn mà phải đặt mua trước một thời gian rất dài, thì việc dự liệu một
kế hoạch nghiên cứu rõ ràng càng đóng vai trò quan trọng.
5
Câu 3:
Chọn mẫu nghiên cứu là bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Việc này sẽ
giúp chúng ta giảm được thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu, nhưng vẫn đảm bảo
được yêu cầu về tính xác của nghiên cứu. Hầu hết các nghiên cứu về kinh tế - xã hôi –
nhân văn đều thuộc nhóm nghiên cứu có chọn mẫu đại diện.
d Thu thập dữ liệu nghiên cứu
Quá trình thu thập dữ liệu là một công việc rất quan trọng trong quá trình thực
hiện nghiên cứu nói chung và nghiên cứu trong quản lý và kinh doanh nói riêng. Cần
phân biệt hai khái niệm khác nhau là dữ liệu và thông tin. Đây là 2 phạm trù độc lập
trong quá trình nghiên cứu. Thông tin có thể biến thành dữ liệu và dữ liệu sau khi được
xử lý được biến thành thông tin.
Quá trình thu thập dữ liệu thông thường trong các nghiên cứu là quá trình thu thập
số liệu thứ cấp và sơ cấp bằng nhiều cách khác nhau như thu thập, điều tra bằng bảng câu
hỏi, phỏng vấn, quan sát …mục đích việc thu thập nhằm để có được dữ liệu để phân tích
và nghiên cứu.
e Xử lý và phân tích dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu chúng ta thu thập được tồn tại dưới 2 dạng là dữ liệu mang tính chất định
tính và dữ liệu mang tính chất định lượng. Các dữ liệu và thông tin định tính cần được
phân tích để xây dựng các luận cứ, khái quát hóa nhằm phát hiện ra các quy luật, phục vụ
cho việc chứng minh hoặc bác bỏ những giả thuyết khoa học. Có 2 phương pháp để xử lý
dữ liệu và thông tin:
− Xử lý toán học đối với các dữ liệu và thông tin định lượng. Đây là việc sử dụng toán
thống kê để xác định xu hướng diễn biến của tập hợp số liệu thu thập được, tức là xác
định quy luật thống kê để tập hợp số liệu.
− Xử lý logic đối với các tài liệu và thông tin định tính: Đây là việc đưa ra các phán đoán
về bản chất các sự kiện, đồng thời thể hiện những liên hệ logic, của các sự kiện, các phân
hệ trong hệ thống các sự kiện được xem xét.
f Kết luận và báo cáo kết quả nghiên cứu
Khâu cuối cùng trong quá trình nghiên cứu là kết luận lại những nội dung đã thực
hiện trong quá trình nghiên cứu. Báo cáo kết quả nghiên cứu là công việc hệ trọng, đây là
−
−
−
−
−
−
Dự báo khuynh hướng của lãi suất
Tiên đoán giá trị hàng hóa, cổ phiếu và trái phiếu
Nghiên cứu liên quan đến sát nhập và thôn tính doanh nghiệp
Nghiên cứu quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro
Nghiên cứu sự tác động của thuế khóa
Phân tích doanh mục đầu tư
Nghiên cứu về các tổ chức tài chính
Nghiên cứu về lợi nhuận kỳ vọng
Mô hình định giá tài sản vốn
Nghiên cứu rủi ro tín dụng
Phân tích chi phí
c, Vấn đề nghiên cứu về hành vi tổ chức và quản lý
Quản lý chất lượng
− Phong cách lãnh đạo
− Năng suất lao động
−
8
Hiệu quả của tổ chức
− Nghiên cứu về cơ cấu tổ chức
logic của nghiên cứu và các cấu phần mà nó đóng góp. Về căn bản nó được sử dụng để
hỗ trợ người lập kế hoạch nghiên cứu cấu trúc và định dạng ý tưởng của họ trong một
mẫu tiêu chuẩn một cách rõ ràng.
Khung logic là một ma trận 4x4. Theo chiều dọc là cấp bậc mục tiêu bao gồm:
Cấp 1: Mục đích (mục tiêu tổng thể); Cấp 2: Mục tiêu (mục tiêu cụ thể); Cấp 3: Kết quả
(các sản phẩm đầu ra); Cấp 4: Nội dung (các hoạt động nghiên cứu).
Theo chiều ngang khung logic bao gồm:
Tóm tắt các thông tin ở các cấp độ mục đích – mục tiêu- kết quả và hoạt động,
Chỉ tiêu đo lường: các chỉ tiêu/chỉ báo cho biết việc đạt được các mục tiêu ở các
cấp độ. Đây là các thông số để đo lường, thẩm định mức độ đạt được của các mục tiêu ở
các cấp độ, nó bao gồm các thông số định lượng, định tính, chất lượng và thời gian hoàn
thành;
Phương tiện: các nguồn cụ thể của các dữ liệu cần thiết để xem xét mức độ đạt
được của các mục tiêu ở các cấp độ để thẩm định các chỉ tiêu,
Các giả định quan trọng: để có thể di chuyển từ một mục tiêu/kết quả lên mục
tiêu và kết quả cao hơn. Các giả định là các sự kiện, điều kiện, quyết định quan trọng,
nằm ngoài sự quản lý của nghiên cứu nhưng lại rất thiết để đạt được mục tiêu ở các cấp
độ khác nhau.
Bảng 2.2 Khung logic nghiên cứu
STT
Tóm tắt
Chỉ tiêu
lường
Mục đích
...
...
Nội dung
...
...
...
...
Trình tự xây dựng khung logic của vấn đề nghiên cứu
a, Xác định mục đích nghiên cứu
Mục đích hay mục tiêu tổng thể là mục tiêu ở cấp cao hoặc là tác động có tính lâu
dài của nghiên cứu ở trong vùng, khu vực hoặc quốc gia. Mục đích là lý do căn bản để
tiến hành nghiên cứu này.
10
b, Xác định mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu hay mục tiêu cụ thể là tác động trực tiếp, đo đếm được của nghiên cứu,
đó chính là kết quả cuối cùng được hoàn thành của nghiên cứu
Các mục tiêu nghiên cứu cần cụ thể, đo lường được kết quả của nghiên cứu và là
cơ sở để xác định phương pháp luận nghiên cứu và đánh giá kết quả nghiên cứu. Không
được nhầm lẫn giữa mục tiêu và mục đích tổng thể, mục tiêu là cụ thể và trực tiếp
Các mục tiêu cần được viết vắn tắt và cô đọng để mô tả những gì mà nghiên cứu
mang lại. Mỗi một mục tiêu không viết quá 2 câu.
c, Xác định kết quả nghiên cứu
g, Xác định phương tiện thẩm định chỉ tiêu
Phương tiện là các nguồn cụ thể của các dữ liệu cần thiết để xem xét mức độ đạt
được của các mục tiêu ở các cấp độ để thẩm định các chỉ tiêu.
h, Xác lập ma trận khung logic
Nhằm sắp xếp một cách hệ thống phục vụ cho việc thực hiện nghiên cứu và giám
sát và đánh giá. Việc hoàn thiện khung logic cần quan tâm nhiều hơn đến các cột CHỈ
TIÊU và PHƯƠNG TIỆN THẨM ĐỊNH và tính logic theo CHIỀU ĐỨNG từ trên xuống
và dưới lên.
**** Xác định mục tiêu cho 1 nghiên cứu cụ thể : ( Tự làm)
Phần này trình bày mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể mà nghiên cứu nhắm đến. Các
mục tiêu nên dùng động từ hành động để chỉ rõ nghiên cứu dự định làm gì. Cần trình bày
được thông số sẽ dùng để đánh giá mục tiêu. Mục tiêu chung được trình bày trước. Sau
đó, các mục tiêu cụ thể để đạt được mục tiêu chính sẽ được trình bày sau. Các mục tiêu
cụ thể nên được trình bày ngắn gọn, mỗi mục tiêu một dòng và được đánh số thứ tự.
Ví dụ:
Đề tài này đặt mục tiêu chính là qua phân tích động lực học của cơ cấu RLC, cải thiện
được hiệu năng của cơ cấu. Hiệu năng được đánh giá qua khả năng hệ thống thắng được
lực cản ma sát lớn hơn, cho tốc độ di chuyển lớn hơn so với cơ cấu cũ.
Các mục tiêu cụ thể là:
1. Phân tích đặc tính động lực học của cơ cấu RLC 07 để tìm ra khả năng tiếp tục cải tiến
cơ cấu này;
2. Thiết kế, chế tạo hệ thống cơ cấu cải tiến để tiến hành thí nghiệm khảo sát và so sánh
hiệu năng với cơ cấu cũ;
3. Tiến hành thí nghiệm để phân tích, đánh giá các đặc tính động lực học chính của cơ hệ
mới nhằm tiếp tục phát triển, hoàn thiện và hiện thực hóa ứng dụng của nó.
12
Chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế
−
Phát triển các khu công nghiệp đồng bộ trên địa bàn Hà Nội
- Tên đề tài nghiên cứu khoa học khác với tên tác phẩm văn học. Tên tác phẩm
văn học có thể mang ý nghĩa ẩn dụ sâu xa. Còn tên đề tài khoa học chỉ được mang một ý
nghĩa, không cho phép hiểu hai hay nhiều nghĩa.
- Tên đề tài tránh dài dòng, nên ít chữ, chứa nhiều thông tin và từ khóa.
Ví dụ: Nghiên cứu quan hệ phụ thuộc giữa sản phẩm ngoài gỗ với rừng và con
người và đề xuất các giải pháp thích hợp để góp phần cải thiện, nâng cao đời sống đồng
bào dân tộc Thái sau khi đóng cửa rừng tự nhiên tại vùng cao xã Tà Bỉnh, huyện Tà
Nùng, tỉnh Lạng Sơn
- Tên đề tài tránh nhiều từ: của, thì, mà, là.
13
Ví dụ: Đề tài: Ảnh hưởng của trình độ học vấn của chủ hộ đến tổng thu nhập của
nông hộ ở xã A, huyện B, tỉnh C.
Trình độ học vấn của chủ hộ ảnh hưởng đến tổng thu nhập nông hộ ở xã A,
huyện B, tỉnh C
- Không nên đặt tên đề tài luận văn bằng những cụm từ có độ bất định cao về
thông tin, như: - Vài suy nghĩ về …
- Thử bàn về …
- Về vấn đề …
cung cấp các vật tư văn phòng phẩm, thiết bị, .... Cần làm rõ nguồn cung cấp, chất lượng,
giá cả, thời gian,.... cho các hạng mục nghiên cứu.
Tài chính
Sau khi thẩm định, tính toán những gì mà nghiên cứu cần như nguồn nhân lực,
phương tiện, thiết bị, nguồn cung cấp, .. trên cơ sở đó xác định nguồn tài chính cần có.
Yêu cầu hỗ trợ cho nghiên cứu luôn luôn được cân bằng giữa ý tưởng của người nghiên
cứu với nguồn ngân sách thực tế, do vậy điều này cần có sự cân đối giữa mục tiêu nghiên
cứu với nguồn tài chính tối thiểu phải có để có thể hoàn thành nghiên cứu.
Hỗ trợ về tổ chức thể chế: Một cách chắc chắn là nghiên cứu cần có sự hỗ trợ của cơ
quan về tài chính, thiết bị, sử dụng phương tiện, .... và các cơ quan, tổ chức, địa phương
khác về điều kiện làm việc, nghiên cứu. Làm rõ điều này sẽ là thuận lợi cho việc triển
khai kế hoạch nghiên cứu
15
Một số nghiên cứu cần có giấy phép hoặc chấp thuận chính thức ở một số hoạt
động, do vậy cũng cần có sự hỗ trợ về mặt pháp lý. Ví dụ như nghiên cứu biến đổi gien
(Genetically modified organism – GMOs) hoặc du nhập côn trùng để điều khiển sinh học,
....
16
CÂU 8: Vì sao trong NCKH người NC cần xây dựng đề cương NC. Xác định các
thành phần cơ bản trong cấu trúc đề cương NC
Đề cương nghiên cứu (Research Proposal) là một tài liệu khoa học được công bố ở
giai đoạn khởi đầu của một nghiên cứu. Với các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh
viên, luận văn tốt nghiệp của học viên cao học hay luận án của nghiên cứu sinh, đề cương
nghiên cứu có vai trò như một báo cáo xin phép được triển khai nghiên cứu.
Các lý do căn bản để người làm nghiên cứu cần và nên viết đề cương nghiên cứu
−
Có nhu cầu của thực tế về sản xuất hay lý luận;
−
Đúng xu hướng phát triển của thời đại (ô nhiễm môi trường, đánh giá tác động môi
trường, đa dạng sinh, bảo vệ tài nguyên,..); và
−
Xem xét khả năng kinh phí sẽ có.
Nguyên tắc chung để đặt tiêu đề (tên nghiên cứu) là cần chắc chắn về những gì dự
định làm. Tiêu đề phải bao gồm những từ chuyên môn thông dụng của lĩnh vực nghiên
cứu, mô tả được công việc dự định thực hiện. Tiêu đề cần súc tích, ngắn gọn, tránh những
cụm từ chung chung như “một nghiên cứu về…”, “một khảo sát về…” v.v. Tiêu đề nên
chứa những từ khóa chính phản ảnh vấn đề và hướng giải quyết để sau này, người đọc có
thể dễ dàng tìm thấy đề tài trong các kho lưu trữ.
- Lý do chọn đề tài
Một đề cương nghiên cứu thường có dung lượng khoảng vài trang với luận văn
cao học, hay vài chục trang với luận án tiến sỹ. Phần giới thiệu nói chung chỉ nên chiếm
khoảng 1-2 trang A4, do vậy cần viết ngắn gọn, tránh đi vào các chi tiết. Mục đích của
phần này là giới thiệu cho người đọc biết bối cảnh nảy sinh vấn đề nghiên , nội dung của
vấn đề nghiên cứu, các mục tiêu chính của nghiên cứu, nghĩa là nêu lên được tính cấp
thiết của vấn đề nghiên cứu.
Lý do chọn đề tài trả lời cho câu hỏi:
−
Khách thể nghiên cứu: Các ngân hàng nôngnghiệp và phát triển nông thôn
−
Đối tượng khảo sát: ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Từ
Liêm
Là phạm vi mà đề tài thực hiện. Giới hạn về không gian, thời gian, nội dung, đối
tượng khảo sát. Việc xác định giới hạn đề tài giúp người nghiên cứu đi đúng trọng tâm
không chệch hướng.
- Xác định nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở thực hiện các mục tiêu nghiên cứu
cụ thể. Lưu ý về sự thống nhất, kết nối về nội dung giữa các chương, mục
- Dự kiến các kết quả nghiên cứu
Thông thường, phần này nêu ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của nghiên
cứu.
Trong mục “Ý nghĩa khoa học”, cần liệt kê các đóng góp có thể có của nghiên cứu
nếu được hoàn thành cho việc mở rộng kiến thức, hiểu biết về lĩnh vực, quá trình hay hệ
thống liên quan.
Mục “Ý nghĩa thực tiễn” cần nêu lên các đóng góp của nghiên cứu về thiết kế,
công nghệ, điều khiển quá trình … cho các hoạt động thực tiễn.
- Trình bày phương pháp nghiên cứu
Liệt kê những phương pháp mà chủ thể nghiên cứu sẽ sử dụng để thực hiện các
nhiệm vụ của đề tài. Mỗi phương pháp cần nêu rõ mục đích sử dụng và cách thức tiến
hành. Phần này cần nêu được phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể.
cứu. Thông dụng nhất là cách bóc tách khối lượng cho từng công việc một. Căn cứ xây
dựng dự toán kinh phí là các nội dung nghiên cứu, khối lượng công việc cần triển khai và
các định mức kinh tế kỹ thuật do cơ quan chức năng ban hành, các chế độ, chính sách
hiện hành
Kinh phí cần được trình bày theo các hạng mục chi tiêu chính, đồng thời cho thấy
sự cần thiết của nó. Khi chuẩn bị phần kinh phí, cần xem lại từ đâu đến cuối đề xuất để
làm một danh sách cá nhân, thiết bị, phương tiện, vật liệu cần thiết để tiến hành nghiên
cứu. Danh sách ban đầu của nguồn lực cần thiết sẽ cung cấp cơ sở cho việc tính toán các
hạng mục chi phí đa dạng.
-
Trích dẫn và tài liệu tham khảo
Chỉ được liệt kê các tài liệu đã trích dẫn trong đề cương. Nói chung, cần tránh sử dụng
tài liệu tham khảo là các sách giáo khoa, giáo trình trừ khi bắt buộc phải lấy thông tin từ
đó. Số lượng tài liệu tham khảo cho một đề cương cao học nên ít nhất là 10. Số lượng
quá ít dẫn đến người đánh giá có thể cho rằng, hoặc tác giả không biết nghiên cứu của
mình có mới không, có đóng góp gì cho kiến thức đã có không, hoặc không có ai quan
tâm đến lĩnh vực này. Dù là lý do nào, cũng dẫn đến đánh giá cho rằng đề xuất nêu lên
của đề cương là không đáng quan tâm nghiên cứu.
20
Câu 9: PP NC cụ thể là gì? Có những PP NC cụ thể nào trong QL và KD
Phương pháp nghiên cứu cụ thể là giải pháp, tiếp cận nghiên cứu, công cụ nghiên
cứu, thực nghiệm để thực hiện nội dung nghiên cứu và giúp cho nghiên cứu đạt được kết
quả và mục tiêu.
Phương pháo nghiên cứu cụ thể bao gồm 1 số nhóm chính sau:
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, thực nghiệm
nghiên cứu từ nhà nghiên cứu trở nên khó áp dụng và “chuyển giao” vào thực tế, người ta
buộc phải suy nghỉ đến những nghiên cứu phục vụ cho nhu cầu đích thực của người dân,
hoặc giải quyết các vấn đề mà hộ gia đình đang gặp phải. Trong đó người dân tham gia
vào tiến trình nghiên cứu với nhà khoa học.
22
Câu 10 :
Khái niệm phương pháp phỏng vấn
-
Phỏng vấn là một kỹ thuật thu thập dữ liệu trong đó người hỏi đặt câu hỏi
bằng miệng cho người được phỏng vấn và người được phỏng vấn đáp lại bằng
miệng (Gliner và Morgan, 2000).
*) Ưu và khuyết điểm của phương pháp phỏng vấn
Theo Creswell (1994), phỏng vấn có ba ưu điểm: (a) phỏng vấn sẽ rất hữu ích khi
người được phỏng vấn không thể được quan sát một cách trực tiếp, (b) người được phỏng
vấn có thể cung cấp những thông tin lịch sử hữu ích, và (c) người phỏng vấn có quyền
chủ động trong việc điều khiển các câu hỏi.
Mặc dù có những ưu điểm vừa nêu, phỏng vấn cũng có bốn nhược điểm: (a) thông
tin thu thập từ phỏng vấn đã được sàng lọc qua lăng kính của người được phỏng vấn, (b)
các cuộc phỏng vấn cung cấp thông tin xảy ra ở một địa điểm được quy định thay vì là ở
một bối cảnh tự nhiên, (c) sự có mặt của người phỏng vấn có thể làm cho các câu trả lời
bị thiên vị, và (d) không phải ai cũng đều có khả năng diễn đạt và cảm nhận như nhau.
23
Quan sát đồng thời tham gia
Quan sát đồng thời tham gia (observer as participant) là hình thức quan sát công
khai, có sự tham gia vừa phải. Đối tượng được nghiên cứu biết họ đang bị quan sát.
Nghiên cứu viên tìm cách duy trì mối quan hệ cân bằng giữa người bên ngoài cộng đồng
và người bên trong cộng đồng, giữa sự tham gia và quan sát. Nghiên cứu viên quan sát sự
vật và hiện tượng được sự cho phép của đối tượng. Nghiên cứu viên có thể vừa quan sát,
vừa ghi chép, thậm chí ghi âm lại tất cả những gì đang diễn ra.
−
Quan sát hoàn toàn
Quan sát hoàn toàn là hoạt động thu thập thông tin trong đó nghiên cứu viên có
hành động nhưng không tham gia hoặc liên quan trực tiếp đến người khác. Đây là dạng
quan sát không tham gia (hay quan sát gián tiếp). Nghiên cứu viên tiến hành quan sát kết
quả hay tác động của hành vi, chứ không trực tiếp quan sát hành vi. Ví dụ: Nghiên cứu hồ
sơ về doanh số bán trong từng ngày của một siêu thị để có thể thấy được xu hướng tiêu
dùng của khách hàng trong từng thời kỳ. Nghiên cứu về hồ sơ ghi lại hàng tồn kho có thể
thấy được xu hướng chuyển dịch của thị trường. Hoặc nghiên cứu viên thường đứng một
24
chỗ để quan sát như là những người đứng xem, người đi lảng vảng, hoặc khán giả.
Phương pháp này phù hợp với thu thập thông tin ở những địa điểm công cộng.
Ví dụ: Công cụ quan sát có thể dùng mắt và ghi chép vào phiếu quan sát hoặc
dùng thiết bị quan sát. Quan sát do con người là dùng giác quan con người để quan sát
đối tượng nghiên cứu. Ví dụ: Kiểm kê hàng hóa; quan sát số người ra vào ở các trung tâm
thương mại. Quan sát bằng thiết bị là dùng thiết bị chuyên dụng trong quan sát để quan
sát đối tượng nghiên cứu như dùng máy đếm số người ra vào các cửa hàng, dùng máy
đọc quét để ghi lại hành vi người tiêu dùng khi mua sản phẩm tại các cửa hàng bán lẻ;