Phụ Lục
I, Tính cấp thiết của tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam.
II, Nội dung
1, Những cơ sở lí luận, khái niệm liên quan đến tăng trưởn và phát triên kinh tế
ở Việt nam.
A, Tăng trưởng kinh tế.
B,Phát triển kinh tế.
2, Thực trạng của tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam.
3, Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
4, Một số tiềm năng cho phát triển kinh tế ở Việt Nam.
5, Giải pháp cho tăng trưởng và phát trrieenr kinh tế bền vững.
III, Kết luận.
1
I. Tính cấp thiết của tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát
triển kinh tế. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả
các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của
mỗi quốc gia.
Một xã hội phát triển bền vững là một xã hội phát triển về mặt kinh tế với
một môi trường trong lành và xã hội văn minh. Xã hội phát triển bền vững dựa
trên một hệ thống cấu trúc quan hệ biện chứng giữa kinh tế, môi trường, xã hội.
Hệ thống này hoạt động theo các nguyên lý, các quy luật vận động của tự nhiên
kinh tế và xã hội.
Tăng trưởng kinh tế chưa phải là phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế
được đo bằng tốc đọ quy mô phát tiển còn phát triển kinh tế bao gồm tăng
trưởng kinh tế trong trạng thái cân đối. Phát triển kinh tế bền vững là phát triển
đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khae năng đáp ứng
trong tương lai với ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề tôi quyết định chọn đề
trưởng kinh tế được thể hiện ở sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của
nền kinh tế, thể hiện qua các đặc điểm sau:
Tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài.
Phát triển có hiệu quả thể hiện qua năng suất lao động, năng suất tài sản
cao và ổn định, hệ số, hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) phù hợp, và đóng góp của
nhân tố năng suất tổng hợp (TPF) cao.
Nền kinh tế có tính cạnh tranh cao
Tăng trưởng kinh tế gắn với đảm bảo hài hòa đời sống xã hội.
Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái.
B, Phát triển kinh tế bền vững.
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại
của con người nhưng không tổn hại đến sự thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương
lai.
Phát triển kinh tế bền vững đang là thách thức của mọi quốc gia, nhất là trong
điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Việc lựa chọn con đường biện
pháp và thể chế, chính sách đảm bảo phát triển bền vững luôn là mối quan tâm
hàng đầu của mọi nền kinh tế trên bước đường phát triển kinh tế.
3
2, Thực trạng của tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng cao trong những năm qua nhưng có
một số tồn tại trong nền kinh tế có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng trong dài
hạn. Trong giai đoạn hiện nay tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều
vào sự phục hồi của kinh tế thế giới và những giải pháp của chính phủ.
Sau khi cải cách kinh tế, Việt Nam đã đạt được những bước tăng trưởng
vượt bậc, kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng lên một cách nhanh chóng. Việt
Nam cũng thu hút được nhiều quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, được thể
hiện qua dòng vốn FDI và FPI chảy vào ngày càng lớn.
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua
Việt nam với gần 8000 dự án và tổng số vốn đăng kí trên 70 tỉ USD. Kinm
ngạch xuất khẩu tăng 20%/năm lien tục trong nhiều năm qua, giá trị kim ngạch
xuất khẩu năm 2006 tương đương trên 60% GDP cả nước.
Tăng trưởng kinh tế đã dựa trên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội theo
hướng CNH-HDH, từng bước hội nhập vào sự phân công của nền kinh tế khu
vực và thế giới.
Tỉ trọng GDP của ngành nông lâm thủy sản giảm nhanh từ 38,1% năm
1990 xuống còn 27,2% năm 1995 và năm 2006 còn 20,4%, Tỉ trọng công nghiệp
5
xây dựng tăng nhanh năm 1990 là 22,7%, năm 2006 đã dến 41,1%. Tỉ trọng dịch
vụ trong GDP chưa biến động nhiều.
Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực mở cửa hội nhập
vào kinh tế toàn cầu, thể hiện ở tỉ lệ XK/GDP ngày càng tăng từ 34,7% năm
1992 đến năm 2005 là 50%. Tổng KNXK 5 năm 2001-2005 đạt 111 tỉ USD,
tăng bình quân 17,5% trên năm. Dự báo tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 có
thể đạt 48 tỉ USD, đưa tỉ lệ XK/GDP đạt 67,4%. Nhiều sản phẩm của Việt Nam
như hải sản, gạo. Cao su, may mặc đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế
giới.
Các hoạt động kinh tế đối ngoại như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI)
và viện trợ phát triển chình thức (ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan. Năm
2007, vốn FDI vào Việt nam sẽ đạt tới con số kỉ lục 13 tỉ USD.
Cơ cấu lao động cũng chuyển dịch theo hướng tích cực. Năm 1990 tỉ lệ
lao động trong ngành nông lâm thủy sản chiếm đa số 73% thì năm 2005 giảm
xuống còn 56,8%. Tỉ lệ lao động công nghiệp ănm 1990 là 11,2% thì đến năm
2005 khoảng 17,9%. Tỉ lệ lao động các ngành dịch vụ năm 1990 là 15,6%, năm
2005 là 25,3%.
Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm
tỉ trọng nhỏ trong lực lượng lao động.
Nhịp độ tăng trưởng kinh tế còn dưới mức khả năng phát triển của đất
nước, chất lượng phát triển còn thấp. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội vẫn còn yếu
kém, một số công trình xây dựng lớn va quan trọng không được hoành thành
đúng kế hoạch. Năng lực sản xuất một số ngành, sản phẩm quan trọng, thiết yếu
tăng chậm..
Chuyển dịch cơ cấu chưa đồng đều và chưa phát huy thế mạnh trong từng
ngànhm từng vùng, từng sản phẩm. Cơ cấu dịch vụ chưa có sự chuyển dịch đáng
kể.
Tăng trưởng kinh tế nahanh làm ô nhiễm môi trường.
7
3, Các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế bền
vững ở Việt Nam.
sản lượng tối đa có thể sản xuất được tuỳ thuộc vào sản lượng các yếu tố đầu
vào trong điều kiện trình độ kĩ thuật và công nghệ nhất định. Mỗi yếu tố có vai
trò nhất định, do trình độ phát triển kinh tế ở mỗi nơi, mỗi lúc quyết định:
3.1. Nguồn vốn đầu tư:
Đầu tư là một bộ phận lớn và hay thay đối trong chi tiêu, do đó những thay đổi
trong đầu tư có thể tác động lớn đối với tổng cầu và do đó tác động tới sản lượng
và công ăn việc làm. Khi đầu tư tăng lên có nghĩa là nhu cầu về chi tiêu để mua
sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xây dựng tăng lên. Sự thay
đổi này làm cho tổng cầu dịch chuyển: Trên sơ đồ 1.3 mô tả đường tổng cầu
dịch chuyển từ AD0 đến AD1. Do đó làm cho mức sản lượng cũng biến động từ
P0 đến P1.
Đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, có nghĩa là có thêm các nhà máy thiết bị,
phương tiện vận tải... mới được đưa vào sản xuất làm tăng khả năng sản xuất
Cách mạng khoa học kĩ thuật đưa văn minh đến cho cuộc sống con người:
Cách mạng khoa học kĩ thuật tác động đến quá trình quốc tế hoá nền kinh
tế thế giới cả chiều sâu lẫn chiều rộng: mở ra những khả năng to lớn, để khai
thác những khả năng to lớn này các nước cần phải hợp tác với nhau, thể hiện sự
gia tăng về phân công lao động, chuyển giao công nghệ quan hệ xuất - nhập
khẩu nhằm phát huy thế mạnh của từng nước trên thị trường quốc tế.
Đứng trước vấn đề môi trường và sự cạn kiệt tài nguyên thì những yếu tố
khoa học công nghệ trở nên quan trọng. Đặc điểm của yếu tố này là khó xác
định sự đóng góp trực tiếp, nhưng nó thể hiện qua việc sử dụng có hiệu quả các
yếu tố khai thác: tăng lao động, tăng hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao năng suất
máy móc, thiết bị . Đây là quan điểm phát triển kinh tế theo chiều sâu.
3.5. Cơ cấu dân tộc.
Do điều kiện sống khác nhau đã tạo nên sự khác biệt về trình độ tiến bộ
văn minh, về mức sống vật chất và về địa lí, vị trí kinh tế - xã hội trong cộng
đồng.
Sự phát triển tổng thể kinh tế có thể đem lại những biến đổi kinh tế có lợi
cho dân tộc này nhưng bất lợi cho dân tộc khác. Đó là những nguyên nhân nảy
sinh ra xung đột giữa các dân tộc. Do vậy lấy tiêu chuẩn bình đẳng, cùng có lợi
cho tất cả các dân tộc, nhưng nó đảm bảo được bản sắc, truyền thống tốt đẹp của
mỗi dân tộc, khắc phục sự xung đột và sự mất ổn định chung của cộng đồng.
Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế
3.6. Cơ cấu tôn giáo.
Vấn đề tôn giáo đi đôi với vấn đề dân tộc, mỗi tộc người có thể theo một
tôn giáo. Trong một quốc gia có thể có nhiều tôn giáo. Mỗi đạo giáo có những
10
quan niệm, triết lí tư tưởng riêng, ăn sâu vào cuộc sống dân tộc từ lâu đời, tạo ra
những ý thức tâm lí -xã hội riêng của dân tộc. Nhưng ý thức tôn giáo thường là
cố hữu, ít thay đổi theo sự biến đổi của sự phát triển của xã hội. Những thiên
trọng trong quá trình phát triển sau khi đã tước bỏ đi sự phức tạp không cần
thiết. Những diễn đạt này có thể dưới dạng lời văn, sơ đồ hoặc toán học:
3.10. Quan hệ cung cầu và vai trò của chính sách kinh tế với sự phát triển:
Các nhà kinh tế cổ điển cho rằng thị trường tự do được một bàn tay vô
hình dẫn dắt để gắn lợi ích cá nhân với lợi ích của xã hội .Thị trường với với sự
linh hoạt của giá cả và tiền công có khả năng tự điều tiết những mất cân đối của
nền kinh tế để xác lập những cân đối mới, đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ.
Đây là quan niệm "cung tạo nên cầu "
Còn các chính sách kinh tế không có tác động quan trọng đối với sự hoạt
động của nền kinh tế, đôi khi còn hạn chế khả năng phát triển kinh tế. Đối với
những khoản chi tiêu của chính là chi tiêu "không sinh lời ", còn các khoản thu
đều làm giảm lợi nhuận, từ đó làm giảm tích luỹ.
3.11. Vai trò của chính phủ
Vai trò ngày càng tăng lên của Chính phủ trong đời sống kinh tế không
chỉ là sự đòi hỏi can thiệp vào những khuyết tật của thị trường, mà còn vì các
mục tiêu xã hội khác .
Theo Samuelson, trong nền kinh tế hỗn hợp hiện đại, Chính phủ có 4 chức
năng cơ bản :
- Thiết lập khuôn khổ luật pháp
- Xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô
- Tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế
12
- Thiết lập các chương trình tác động tới việc phân phối thu nhập
3.12. Vai trò của nhà nước với phát triển kinh tế
Những đặc trưng trên đây đã vạch rõ ra những trở ngại rất lớn, đối với sự
phát triển kinh tế của các nớc đang phát triển, chúng có quan hệ chặt chẽ với
nhau tạo ra "Vòng luẩn quẩn" của sự nghèo khổ làm cho khoảng cách giàu
nghèo giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng gia tăng:
chuyển đổi cơ cấu về dân số nông thôn lên thành thị, chuyển lao động nông
nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
4. Việt Nam đã gia nhập WTO từ năm 2007, quá trình mở cửa hội nhập
đang diễn ra mạnh mẽ. Đây chính là sức ép và động lực cho quá trình cải cách
của Việt Nam diễn ra nhanh hơn. Việt Nam cũng nhận được quan tâm của nhiều
nhà đầu tư, tập đoàn lớn trên thế giới. Các dòng vốn đầu tư nước ngoài và mở
cửa thương mại thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển cả chiều rộng và chiều sâu.
5. Trình độ công nghệ ứng dụng trong sản xuất của nhiều ngành còn lạc
hậu. Chất lượng quản lý nhà nước và doanh nghiệp còn yếu kém, đây là thách
thức nhưng cũng là cơ hội cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam khi các những yếu
kém đó được cải thiện.
ng bình.
5, Giải pháp cho vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Dự thảo báo cáo chính trị trình Đại Hội X nêu rõ: “Phấn đấu tăng trưởng
kinh tế với nhịp độ nhanh hơn, có chất lượng hơn,bền vững hơn và gắn kết với
phát triển con người”. Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng nhưng
trước hết và trên hết là chất lượng, hiệu quả. Nhất định trong thời gian tới nền
14
kinh tế Việt Nam sẽ phát triển bền vững, giảm được nguy cơ tụt hậu xa hơn so
với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
• Ngành công nghiệp:
Tập trung phát triển ngành có lợi thế để tạo tích lũy, thu hút lao động xã
hội, bao gồm các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép, lắp ráp
cơ điện tử, chế biến nông-lâm-thủy-hải sản, nagnhf công nghệ cao như công
nghệ điện tử tin học, công nghệ sinh học, vật liệu mới…, kêu gọi đầu tư nước
ngoài vào những ngành công nghiệp cần nhiều vốn, dựa vào nguồn tài nguyên
như dầu khí luyện kim…
Từng bước chuyển hướng từ xuất khẩu sản phẩm sơ cấp sang xuất khẩu
nhằm tạo bước chuyển tiếp theo tư duy, phát triển nông nghiệp theo hướng bền
vững và bảo vệ môi trường.
Triển khai thực hiện hiệu quả công tác quy hoạch để phát hiệ và nắm bắt
tiềm năng thế mạnh của từng vùng sinh thái.
Công tác qui hoạch và phát triển nông nghiệp mạnh phải có tính dài hạn,
hướng tới xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển của KH-CN.
Đảy nhánh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp: tập
trung phát triển cơ cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng
hiện đại, thực hiện đa dạng hóa cơ cấu sản xuất kinh doanh nông nghiệp, phát
triển ngành nghề mới tạo nhiều việc làm…
Hoàn thiện và đỏi mới hệ thống luật pháp về phát triển nông nghiệp bền
vững, thực hiện đồng bộ và hiệu quả chính sách điều tiết vĩ mô phục vụ phát
triển nền nông nghiệp bền vững.
• Ngành dịch vụ và thương mại:
Phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, hướng vào đáp ứng nhu cầu sản
xuất và nâng cao mức sống dân cư:
Phát triển mạnh thị trường trong nước, các trung tâm thương mại ơ thành
thị, mở rộng mạng lưới thương nghiệp.
16
Tạo liên kết chặt chẽ giữa các vùng trong nước, tăng tỉ trọng thương mại trong
nước chú trọng kích cầu, khuyến khích thưucj hiện mô hình liên kết giữa nông dânngười sản xuất ra nguyên liệu-các cơ sơ chế biến và khâu lưu thông hàng hóa theo
các hình thức hợp đồng kinh tế dài hạn cùng phân chia hợp lí lợi nhuận.
Thực hiện giả pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng, mở rộng hình thức kinh
doanh như đại lý, ủy thác…
Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp cho nông dân tiếp cận trực
tiếp vơi thị trường, nắm bắt kịp thời nhu cầu tiêu dùng của từng nhóm dân cư.
Phát triển mạnh ngành du lịch nâng cao chất lượng đời sống và nguồn
cung cấp dịch vụ hàng hóa cho nhu cầu của khách du lịch.
Tham khảo ý kiến của nhân dân trong các chính sách được thực hiện tại
địa phương để tăng tính khả thi của chính sách tránh gây lãng phí không
cần thiết.
Thực hiện một cách đồng bộ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cấp các
ngành.
tổ chức chỉ đạo thức hiện cần nhanh nhạy.
6, Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam.
Tăng trưởng kinh tế là một phương thức cơ bản để có được phát triển,
nhưng bản thân nó chỉ là đại diện không toàn vẹn của sự tiến bộ. Tăng trưởng
kinh tế chưa phải hoàn toàn là phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế nói lên sự
biến động về lượng còn phát triển kinh tế nói lên sự tăng trưởng về chất của xã
hội. Tăng trưởng kinh tế mặc dù rất quan trọng nhưng mới chỉ là điều kiện cần
của phát triển. Điều kiện của phát triển trong quá trình tăng trưởng phải đảm bảo
được tính cân đối, tính hiệu quả, tính mục tiêu và tăng trưởng kinh tế trước mắt
phải đảm bảo sự phát triển kinh tế cho tương lai. Vì vậy muốn phát triển kinh tế
xã hội phải có tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên trong một số trường hợp mặc dù
tăng trưởng kinh tế còn thấp song Nhà nước vẫn có những cách hợp lý để xoá bỏ
bất công trong xã hội, ồn định chính trị. Nâng cao chất lượng y tế giáo dục cũng
là một trong những mục tiêu của sự phát triển. Song về lâu dài, một đất nước
muốn phát triển kinh tế phải có sự tăng trưởng kinh tế.
6.1Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần:
18
Phát triển chỉ dựa trên tăng trưởng đơn thuần thì sự tăng trưởng đó không
lâu bền. Theo các chuyên gia kinh tế thuộc ngân hàng thế giới:” Phát triển là
nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục,
sức khỏe và bình đẳng về cơ hội là tất cả những thành phần cơ bản của phát triển
kinh tế. Bảo đảm các quyền chính trị và công dân là một mục tiêu phát triển
rộng hơn. Tăng trưởng kinh tế là một cách cơ bản để có thể có được sự phát
thành thói quen.
*Tăng trưởng kinh tế hủy hoại giá trị truyền thống của mỗi quốc gia.
Với xu thế đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, không chú ý đến giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc, dần dần hủy hoại những giá trị của dân tộc, dẫn đến suy
giảm về đạo đức, lối sống và các giá trị khác
III, Kết luận
Từ những phân tích trên ta thấy được mối quan hệ giữa tăng trưởng và
phát triển kinh tế bền vững. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần với phát triển
kinh tế xong nó không phải là điều kiện đủ cho việc phát triển kinh tế.Nếu một
đất nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế quá nhanh sẽ làm cho nền kinh tế phát
triển không bền vững. Vì thế để có được một nền kinh tế phát triển bền vững
phải kết hợp nhiều yếu tố như môi trường, có cơ cấu kinh tế một cách hợp lý,và
đặc biệt phải quan tâm đến việc cải thiện đời sống cho người dân.
20
Tài liệu tham khảo:
INTERNET
21