Tieu luan: Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn - Pdf 14

Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sự xuất hiện của Nhà nước đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện cho nó
tồn tại và thực hiện các chức năng của mình. Nhà nước dùng quyền lực chính trị để
ban hành những quy định pháp luật cần thiết làm công cụ phân phối một phần của cải
xã hội và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Sự xuất hiện sản phẩm thặng
dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu tạo khả năng và nguồn thu để thuế khóa tồn tại và
phát triển. Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan xuất
phát từ nhu cầu đáp ứng việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Thuế
được Nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn
thu cho ngân sách Nhà nước, góp phần điều chỉnh nền kinh tế và điều tiết thu nhập
trong xã hội. Mặc dù, hệ thống pháp luật thuế đã được Nhà nước quan tâm sửa đổi
thường xuyên cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, nhưng hàng
năm tình trạng thất thu thuế vẫn xảy ra và trở thành mối quan tâm không chỉ của Nhà
nước mà còn đối với các doanh nghiệp và dân cư. Một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng thất thu thuế là người dân chưa được tuyên truyền một cách đầy đủ, có
hệ thống về vai trò của thuế cũng như những quy định của pháp luật thuế nên sự tự
giác trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước còn thấp, tình trạng trốn
thuế xảy ra thường xuyên, thậm chí có nhiều người còn quan niệm trốn thuế là đương
nhiên. Tình trạng trên đây xảy ra một phần cũng do những quy định của pháp luật về
quản lý thuế ở Việt Nam chưa hoàn thiện, các quy định còn nhiều bất cập, tính hiệu
quả chưa cao. Thậm chí pháp luật thuế còn chưa quan tâm đúng mức đến tính thực thi
cũng như chưa đưa vào các văn bản pháp luật thuế những quy định về quản lý thuế
mang tính hiệu quả, vì vậy, chưa đảm bảo sự công bằng trong nghĩa vụ đóng góp của
người dân. Một trong những hình thức thất thu thuế của nhà nước phổ biến nhất hiện
nay tại các doanh nghiệp cũng như các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ đó là tình trạng thất thu ở
khâu bán hàng không xuất hóa đơn, hoặc tình trạng làm giả hóa đơn, hiện tượng gian
lận hóa đơn, thất thoát hóa đơn, sử dụng hóa đơn để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, lừa

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Thuế giá trị gia tăng (VAT)
1.1.1 Khái niệm:
Theo luật thuế GTGT (được Quốc Hội khóa IX, kỳ họp lần thứ 11 thông qua
ngày 10/05/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999), thuế GTGT là loại thuế
gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá
trình từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Đây là loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản
phẩm, hàng hóa, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành cho
đến tiêu dùng. Chính vì vậy chúng ta còn gọi là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã
nộp ở giai đoạn trước. Thuế GTGT được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ, và người
tiêu dùng phải chịu số thuế đó khi mua hàng hóa, dịch vụ.
1.1.2. Căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế.

Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất.
Đối với giá tính thuế, tùy vào từng loại hành hóa, dịch vụ cụ thể mà giá tính
thuế được quy định ở các giá trị khác nhau.
Đối với thuế suất, Luật thuế GTGT của Việt Nam hiện nay quy định 3 mức
thuế suất là: 0 %, 5 % và 10 % áp dụng cho các nhóm hàng hóa, dịch vụ. Trong đó
mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu.

Phương pháp tính thuế.
 Phương pháp khấu trừ thuế. Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 4


phải nộp
Số thuế
GTGT
đầu ra
_
=
Số thuế GTGT
đầu vào được
khấu trừ
Thuế GTGT ghi trên
hóa đơn
Giá tính thuế của HH,DV
chịu thuế bán ra
Thuế suất
thuế GTGT
×
=
Số thuế
GTGT
phải nộp
GTGT của
HH,DV chịu
thuế bán ra
Thuế suất
=
×
GTGT của
HH, DV
Giá thanh
toán HH,

xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ cuả các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản
lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu.
 Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế giá trị gia tăng mà còn
được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào nên có tác dụng giảm
chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu
có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế.
 Thuế giá trị gia tăng cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng
nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa.
Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 6

 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc
khấu trừ thuế giá trị gia tăng được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúc đẩy
người mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt động
mua bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn
lậu thuế. Trong họat động bán lẻ người tiêu dùng không cần đòi hỏi hoá đơn, vì họ
không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào do là người tiêu dùng cuối cùng điều này
dẫn đến việc không xuất hóa đơn của người bán để trốn thuế. Tuy vậy, ở khâu bán lẻ
cuối cùng, giá trị tăng thêm thường không lớn, số thuế thu ở khâu này không nhiều.

 Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người
nộp thuế. Thông thường, trong chế độ kê khai nộp thuế giá trị gia tăng, cơ quan thuế
tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp thuế. Từ đó,
tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thương, thoả thuận
về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế. Việc kiểm tra thuế giá trị gia tăng cũng
có mặt thuận lợi vì đã buộc người mua, người bán phải nộp và lưu giữ chứng từ, hoá
đơn đầy đủ nên việc thu thuế tương đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung
được nguồn thu thuế giá trị gia tăng vào ngân sách nhà nước ngay từ khâu sản xuất và
thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn
chế thất thu về thuế.
 Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá


1.2.2. Chức năng, vai trò của hóa đơn chứng từ.
Hoá đơn là một bộ phận ấn chỉ thuế được in theo chỉ định tại các Luật thuế,
pháp lệnh thuế và các văn bản pháp quy dùng để quản lý thu thuế cho NSNN được sử
dụng để mua bán hàng hoá - dịch vụ, là chứng từ để đảm bảo chất lượng hàng hoá -
dịch vụ và bảo hành hàng hoá và dùng để thanh quyết toán tài chính khi mua hàng cho
công ty, cơ quan, tập thể…cũng như để thu tiền bán hàng và thể hiện doanh số của một
doanh nghiệp.
Đối với mối quan hệ giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp thì hoá đơn là chứng từ
cơ sở ban đầu dùng để kê khai nộp thuế, khấu trừ, hạch toán chi phí thực tế phát sinh,
hoàn thuế và xác định chi phí hợp lệ khi tính thuế, nhất là các loại thuế trực thu.
Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 8

Việc kiểm tra xuất hóa đơn khi bán hàng đồng thời sẽ kiểm tra được doanh số
bán đúng với thực tế, doanh nghiệp khó có thể báo cáo “âm”, từ đó hàng lậu, hàng hóa
không có hóa đơn sẽ khó lọt vào thị trường.
Giúp xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đổi,
quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch
vụ.
Hoá đơn là chứng từ xác định chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh
nghiệp và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời, trong việc thực
hiện Luật thuế giá trị gia tăng và các Luật thuế mới thì hoá đơn lại có ý nghĩa quan
trọng trong việc kê khai thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế, đảm bảo tính chính xác và
chống thất thoát tiền Ngân sách Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
tốt chế độ kế toán thống kê, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh.


Ý nghĩa công việc quản lý hóa đơn của Nhà nước:
Vì hoá đơn là chứng từ ghi nhận hoạt động kinh doanh nên hoá đơn cũng có
nghĩa là tiền, thậm chí quan trọng hơn tiền bởi vì, hoá đơn tài chính nếu vượt ngoài

đơn, chứng từ theo quy định của Pháp luật.
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
thuế khi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT phải sử dụng hoá đơn
GTGT, kể cả trường hợp bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB (trừ trường hợp được
dùng hoá đơn, chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT).
Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT khi bán hàng
hoá, dịch vụ phải sử dụng hoá đơn bán hàng.
Khi lập hoá đơn, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định
trên hoá đơn. Đối với hoá đơn GTGT phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT, phụ thu
và phí tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế; nếu
không ghi tách riêng giá bán chưa có thuế và thuế GTGT, chỉ ghi chung giá thanh toán
thì thuế GTGT đầu ra phải tính trên giá thanh toán.

Hoá đơn, chứng từ hợp pháp là:
Hoá đơn do Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) phát hành do cơ quan thuế cung cấp
cho các cơ sở kinh doanh.
Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 10

Hoá đơn do các cơ sở kinh doanh tự in để sử dụng theo mẫu quy định và đã
được cơ quan Thuế chấp nhận cho sử dụng.
Các loại hoá đơn, chứng từ đặc thù khác được phép áp dụng.

2.1.1 Các hành vi và hình thức vi phạm về hoá đơn chứng từ phổ biến hiện nay
 Bán hàng không lập hoá đơn, không kê khai doanh thu.
 Không ghi đầy đủ hoặc ghi sai các yếu tố trên hoá đơn như địa chỉ, mã số
thuế
 Bán hàng ghi hoá đơn chênh lệch giữa các liên hoá đơn (giá trị hàng hoá,
dịch vụ trên liên giao cho khách hàng cao hơn trị giá hàng hoá, dịch vụ trên các liên
còn lại).
 Bán hàng lập hoá đơn ghi giá trị thấp hơn thực tế thanh toán.
 Sử dụng hoá đơn giả để bán hàng, để khấu trừ thuế đầu vào hoặc xin hoàn
thuế.
 Sử dụng hoá đơn của đơn vị khác (xin, mua) hoặc đã báo mất.
Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 12

 Xuất hoá đơn theo bảng kê bán lẻ không lưu giữ liên 2 với lý do xé bỏ mất
nhưng lại dùng để xuất hàng cho đơn vị khác hoặc đem bán.
 Dùng hoá đơn do Bộ Tài chính phát hành đã sử dụng sau đó tẩy xoá (dùng
hoá chất hoặc tẩy cơ học) để dùng lại.
 Viết hoá đơn bán hàng không đúng ngày thực tế bán hoặc có trường hợp
trước cả ngày mua hoá đơn tại cơ quan thuế.
 Xuất hoá đơn khống cho khách hàng.
 Sử dụng hoá đơn không do Bộ Tài chính phát hành để bán hàng,
 Bán hoá đơn trắng.
 Hoá đơn đã sử dụng xuất hàng cho khách nhưng quay vòng lại để báo huỷ.
 Xuất giùm hoá đơn.
 Đóng dấu giùm trên hoá đơn.
 Khấu trừ thuế đầu vào không có hoá đơn, hoá đơn không hợp pháp, không
đúng tỷ lệ.
 Kê khai hoá đơn dịch vụ không được khấu trừ của hàng hoá không dùng cho
hoạt động SXKD.
 Kê khai thuế đầu vào trên bảng kê sai với thực tế.

hoặc nhiều nơi khác nhau rồi nhập ào ạt một số lượng lớn hàng hoá qua cửa khẩu. Cho
đến sát thời điểm đáo hạn nộp thuế của lô hàng đầu tiên (15 ngày, 30 ngày hoặc 9
tháng tuỳ theo từng loại hàng hoá) thì các doanh nghiệp này tự động biến mất, bỏ lại
đằng sau những khoản nợ thuế hàng tỉ đồng.
Cũng có trường hợp doanh nghiệp chỉ nhập hàng một lần rồi sau đó thay đổi
toàn bộ địa chỉ, trụ sở và thậm chí là cả đổi tên doanh nghiệp. Để rồi cũng chính con
người đó tiếp tục nhập lô hàng khác, với một tư cách pháp nhân khác để lại nhận được
ưu đãi về chậm nộp thuế một cách hợp pháp.
 Xuất hóa đơn VAT khống:
Không có giao dịch cung cấp hàng hóa và dịch vụ nhưng hóa đơn vẫn được
xuất và trị giá trên hóa đơn có thể được tính là chi phí hợp lý hợp lệ giúp giảm thuế thu
nhập doanh nghiệp (đối với chủ doanh nghiệp) hoặc để chiếm đoạt trị giá hóa đơn khi
thanh toán với công ty (đối với nhân viên).

Bán hàng lập hóa đơn chênh lệch giữa các liên.
Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 14

Một trong những cách gian lận đơn giản, không tốn nhiều công sức đó là người
mua và người bán thông đồng với nhau ghi chênh lệch thuế GTGT giữa liên 1 (người
bán giữ) và liên 2 (màu đỏ, giao cho khách hàng) khác nhau. Người bán sẽ hạ giá trị
ghi ở liên 1 thấp xuống để khai báo lỗ, không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp
hoặc để giảm số thuế GTGT phải nộp đồng thời ghi giá trị trên liên 2 của hóa đơn cao
hơn giá thanh toán trên thực tế giúp người mua tăng số thuế GTGT đầu vào được khấu
trừ.

Lập hồ sơ xuất khẩu khống để được hoàn thuế.
Theo quy định, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa có thuế suất thuế GTGT
là 0% thì các đơn vị xuất khẩu sẽ được hoàn lại thuế GTGT. Lợi dụng chính sách
khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu này, một số doanh nghiệp không có hàng hóa
xuất khẩu nhưng cũng lập hồ sơ xuất khẩu khống. Các doanh nghiệp sẽ lập các hợp

“ấn định” mức thuế có thời hạn ít nhất cũng từ 6 tháng đến 1 năm. Dù tháng mưa,
buôn bán ế ẩm, người kinh doanh cũng phải cắn răng nộp đúng số thuế đã khoán.
Muốn mức khoán “dễ thở” hơn, họ buộc phải kiến nghị và phải qua cả hội đồng (gồm
cán bộ phường - xã cùng cán bộ quản lý thuế trên địa bàn) xem xét. Do vậy, bài học là
nhiều cửa hàng, nhà hàng, quán ăn (thực hiện thuế khoán) đã tuy không lớn nhưng
cũng “tiến lên” thành lập công ty để được “tự tính, tự khai, tự nộp thuế”.
Ngoài ra kinh nghiệm của chủ một nhà hàng cho hay rằng không nên thành lập
công ty tại địa chỉ kinh doanh, như thế sẽ rất “rách việc”, vì chỉ cần không “khéo” sẽ
bị cán bộ thuế “hành”. Doanh số đơn vị bán ra bao nhiêu, cán bộ biết được đề xuất
xuống kiểm tra lên, kiểm tra xuống cũng mệt. Chính vì vậy các doanh nghiệp đã
chuyển trụ sở công ty sang địa bàn quận khác, sau đó biến nhà hàng, cửa hàng kinh
doanh thành đơn vị trực thuộc công ty. Như vậy, hoạt động kinh doanh vẫn ở chỗ cũ,
nhưng báo cáo thuế ở quận khác (nơi công ty đóng trụ sở). Vì thông thường, cán bộ
thuế quận này rất ít đến quận khác kiểm tra. Không ít cửa hàng lớn, bán hàng mỗi
ngày doanh thu đến tiền tỷ nhưng đóng thuế rất ít. Điều đáng nói là, “ai cũng biết, chỉ
mình cán bộ thuế không biết”.
Bên cạnh vấn đề lợi dụng thuế GTGT để chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước như
nói trên, thì vấn đề trốn thuế trong lĩnh vực xây dựng cơ bản cũng đang trở thành một
vấn đề nổi cộm. Nhiều trường hợp đã lợi dụng việc đầu tư ngân sách từ Trung ương
"rót" về các địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng để kiếm những khoản tiền "béo bở".
Những đối tượng này phần lớn là những doanh nghiệp đại gia của một số Bộ, ngành,
thành phố lớn. Họ nắm được "thóp" của các doanh nghiệp xây dựng ở địa phương chắc
chắn "đói vốn", không đủ khả năng tài chính để đứng ra nhận thầu các công trình đầu
tư trên. Các doanh nghiệp đại gia này nhanh chân nhảy vào đấu thầu, rồi sau đó sẽ bán
Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 16

thầu lại cho các doanh nghiệp địa phương kiếm khoản tiền chênh lệch, rồi ung dung bỏ
đi, không kê khai nộp thuế tại địa phương theo quy định Có trường hợp, khi cơ quan
thuế phát hiện ra thì đã quá muộn, vì doanh nghiệp này đã kịp "cao chạy xa bay".
 Tiêu điểm: Bán hàng không xuất hóa đơn

Giống như Hoàn Long, Phong Vũ cũng dùng “phiếu xuất hàng” với chữ “R” để chứng
minh giao dịch xong, mặc dù giá bán nhiều mặt hàng đã bao gồm thuế VAT.
Không chỉ không giao hóa đơn cho khách khi bán hàng có thuế VAT, nhiều
công ty, cửa hàng còn bán hàng không có thuế VAT. Phổ biến nhất là các nhà hàng,
dù mỗi lần thu vào vài triệu đồng. chính điều này gây nên sự bất công bằng giữa các
doanh nghiệp bán hàng xuất và không xuất hóa đơn.
Các cửa hàng điện máy, điện lạnh, vi tính lớn trên địa bàn TP, dễ thấy họ bán 2
loại hàng: với loại chính hãng của các công ty có thương hiệu thì giá bán đã có VAT,
còn các loại khác thì không có VAT. Nhưng dù có thuế hay chưa thì khách cũng
không được giao hóa đơn theo đúng quy định. Thậm chí tại một số công ty, hầu như
100% hàng hóa được bán với giá không thuế VAT.
Công ty TNHH TM Vương Quỳnh Trinh bán hàng điện lạnh, điện máy có trị
giá lớn nhưng chứng từ giao dịch chỉ là “phiếu giao hàng” đóng dấu “đã thu tiền” giao
cho khách. Trong phiếu còn ghi rõ “phiếu không có trị giá thay thế hóa đơn” và số
thuế VAT ghi trên phiếu thu bằng “0”, có nghĩa là khách muốn xuất hóa đơn phải
đóng thêm thuế VAT.
Câu hỏi được đặt ra là việc trốn thuế ngang nhiên ở các công ty lớn, ai cũng
thấy, tại sao các cơ quan chức năng không xử lý?
Thử tính, tổng mức bán lẻ trên địa bàn TPHCM trong 6 tháng đầu năm 2009 đạt
125.000 tỷ đồng, cả nước là 547.495 tỷ đồng, trung bình mức thuế là 10% thì số tiền
thu được gần 55.500 tỷ đồng, trong đó TPHCM là 12.500 tỷ đồng. Ước tính, lấy số
thuế này chia cho 6 tháng thì số tiền thuế VAT thu được mỗi ngày là 300 tỷ đồng,
trong đó riêng TPHCM là 68 tỷ đồng/ngày. Với việc nhiều đại gia bán hàng không
xuất hóa đơn như là một cách trốn thuế, rõ ràng số tiền thuế VAT mà nhà nước thất
thu là con số không nhỏ.
2.2. Thực trạng luật thuế và bộ máy Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 18


Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 19

được lưu tại quyển. Nhiều doanh nghiệp đã không thực hiện qui định này và vẫn xé
liên 2, gây thất lạc, mất. Đồng thời một số doanh nghiệp đã lợi dụng việc không phải
giao liên 2 cho khách hàng để báo mất những liên 2 này và dùng để xuất hàng hoá,
dịch vụ cho các đơn vị hoặc bán cho người khác sử dụng.
 Việc xử lý các hành vi vi phạm trong quản lý, sử dụng hoá đơn hiện nay
không được qui định tại nhiều văn bản khác nhau, không thống nhất hoặc không cụ
thể, gây khó khăn cho việc thực hiện xử lý vi phạm ở các địa phương (Nghị định
49/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ, Thông tư 30/2001/TT-BTC ngày 16/5/2001
của BTC sửa đổi Thông tư 128/1998/TT-BTC ngày 22/9/1998 hướng dẫn thực hiện
Nghị định 22/CP ngày 17/4/1996 của Chính phủ; Quyết định số 31/2001/QĐ-BTC
ngày 13/4/2001 của Bộ trưởng BTC sửa đổi Quyết định 885/1998/QĐ-BTC ngày
16/7/1998 của Bộ trưởng BTC ).
 Hành vi in ấn, mua bán hoá đơn giả chưa được Bộ Luật hình sự xác định là
tội phạm nên chưa răn đe, ngăn chặn được các hành vi vi phạm này (điều 164 Bộ luật
hình sự chỉ qui định về “tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả”).
 Các cơ quan quản lý Nhà nước chưa xây dựng các hệ thống chỉ tiêu chí
chuẩn về doanh nghiệp để áp dụng quản lý doanh nghiệp thông qua hệ thống máy tính;
Nhà nước chưa có luật qui định bắt buộc các doanh nghiệp kết nối mạng máy tính của
doanh nghiệp với các cơ quan quản lý Nhà nước trong đó có nội dung nhận, quản lý,
sử dụng hoá đơn bán hàng); chưa qui định việc khai thác trên mạng về số liệu, thông
tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

2.2.2. Đối với Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tính mới của thuế GTGT.
Tính mới của thuế GTGT thể hiện ở những điểm: - Cơ sở tính thuế là GTGT
chứ không phải doanh thu hay lợi nhuận; - Hai phương pháp tính áp dụng riêng cho
hai đối tượng nộp; - Quy trình thu và quản lý thuế mang tính công nghệ; - Diện chịu

mọi đối tượng.


Đối với quy trình hoàn thuế.
Việc quy định “hoàn thuế trong trường hợp có quyết định xử lý hoàn thuế của
cơ quan Nhà nước có thầm quyền” là một quy định làm mất đi tính thực thi của Luật
Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 21

Thuế GTGT. Hơn nữa với quy định này sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng và tuỳ tiện
trong quá trình quyết định hoàn thuế.
Trong trường hợp ngành thuế nghi ngờ doanh nghiệp gian lận thuế GTGT, cần
có thời gian để xác minh thì thời hạn 15 ngày là không đủ, bởi vì việc xác minh các
hóa đơn mất rất nhiều thời gian, thậm chí không được cơ quan thuế các địa phương
phản hồi. Theo báo cáo của cơ quan thuế thì có khoảng 50% số hồ sơ gởi đi xác minh
là được phản hồi. Trong trường hợp này ngành thuế buộc phải hoàn thuế cho doanh
nghiệp. Do bức xúc với tình trạng ngân sách nhà nước bị rút ruột do gian lận thuế
GTGT, hiện nay cơ quan thuế chỉ đảm bảo hoàn thuế theo thời hạn 15 ngày trong
những trường hợp thanh toán qua ngân hàng, những trường hợp xuất khẩu tiểu ngạch
qua biên giới hoặc thanh toán bằng tiền mặt thì ngành thuế không đảm bảo thời hạn 15
ngày. Điều này lại dẫn đến tình trạng vi phạm luật.
Việc hoàn thuế GTGT dựa trên những hóa đơn chứng từ đã có, còn tính trung
thực của các hoá đơn chứng từ này (đã phát sinh từ 3 tháng trước đó) thì không được
xác minh đầy đủ. Đây là thời gian đủ để các doanh nghiệp thực hiện phi vụ lừa đảo rồi
bỏ trốn. Vì vậy cần phải thực hiện việc kiểm tra, ngăn chặn từ xa chứ không phải chờ
đến khi doanh nghiệp xin hoàn thuế GTGT.
Việc chấp nhận khấu trừ khống đối với các loại hàng nông, lâm, thủy hải sản
mua của nông dân trên cơ sở thiết lập bảng kê là kẻ hở để các doanh nghiệp gian lận
thuế giá trị gia tăng.
Hiện nay có hai hình thức phổ biến gian lận thuế GTGT để xin hoàn thuế:
Thứ nhất, ngụy tạo hồ sơ xuất khẩu. Trường hợp này phải có sự đồng lõa giữa

nào cả, thậm chí xử tù 20 năm cũng chưa có. Theo Thời báo Tài chính Việt Nam, dẫn
nguồn tin từ Tổng cục thuế, mức phạt cao nhất là 100 triệu đồng đối với các hành vi vi
phạm chế độ sử dụng hoá đơn như: lập hoá đơn chênh lệch giữa các liên; dùng hoá
đơn khống, hoá đơn giả và hoá đơn không còn giá trị; tẩy xoá nội dung các chỉ tiêu của
hoá đơn đã sử dụng. Nếu so sánh số tiền phạt với doanh thu hàng ngày lên đến hàng
trăm triệu của các doanh nghiệp thì số tiền đó chẳng khác gì “muối bỏ bể”. Trên thực
tế, thiệt hại do sử dụng hoá đơn không trung thực khiến Nhà nước thất thoát hàng trăm
tỷ đồng. Nếu không trị quyết liệt thì luật pháp không còn khiến người ta sợ. Do đó,
tình hình phạm tội liên quan đến thuế GTGT, mặc dù đã được công luận cảnh báo cơ
quan chức năng, vẫn tiến triển nhanh, đa dạng, tinh vi và ngày càng lớn về số tiền thuế
chiếm đoạt.
Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 23 
Sự thoái hoá của một số cán bộ thuế.
Không hiếm trường hợp chính cán bộ thuế gợi ý và tiếp tay cho một số cá nhân
ăn cắp tiền thuế. Chủ trương xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới bị lợi dụng với sự tiếp
sức của một vài cán bộ thuế biến chất. Để thu một tỷ đồng thuế, nhiều cán bộ thuế phải
nỗ lực phấn đấu trong thời gian có khi cả năm. Thế nhưng chỉ cần hai ba cán bộ thuế
thoái hoá cũng đủ gây thất thoát nhiều lần hơn trong thời gian ngắn. Điều này khiến
cho hình ảnh về cơ quan thuế dưới con mắt doanh nghiệp và dân chúng bị hoen ố. 
Thiếu phương tiện kỹ thuật hỗ trợ.
Không gian của hoạt động kinh doanh thường rộng lớn. Một doanh nghiệp ở
Cà Mau có thể mua bán với các doanh nghiệp ở Lạng Sơn, Gia Lai hoặc Bình Phước,
và cũng có thể xuất khẩu thông qua nhiều cửa khẩu. Vì vậy, thông tin về lô hàng của
từng đợt xuất nhập khẩu phải được phối kiểm trên phạm vi cả nước chứ không chỉ gói

 Áp dụng với hiệu suất tối đa các thành tựu của công nghệ thông tin vào việc
quản lý thu thuế GTGT, nối mạng vi tính trên toàn quốc gia nhằm thực hiện tốt việc
kiểm tra đối chiếu hoá đơn, chứng từ đầu vào, đầu ra, xác định đúng số thuế GTGT kê
khai khấu trừ, hoàn thuế; phát hiện kịp thời hoá đơn đã thông báo không còn giá trị sử
dụng.
 Hoàn thiện quy trình quản lý thu thuế GTGT theo hướng đơn giản, khoa học,
hiệu quả.
 Rà soát lại các sơ hở trong hoàn thuế GTGT dễ đưa đến hiện tượng bòn rút
tiền của Nhà nước.
 Nâng cao trình độ nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thu.
 Khen thưởng thích đáng, kỷ luật nghiêm minh trong công tác hành thu và
chấp hành luật thuế.
 Cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan trong công tác quản lý thu
thuế, đăc biệt là sự kết nối giữa 3 cơ quan Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công an và Cơ
quan thuế phải được triển khai triệt để, cung cấp kịp thời các thông tin chính xác về
Thực trạng quản lý và sử dụng hóa đơn Page 25

doanh nghiệp, thân nhân của doanh nghiệp trong quá trình thành lập cũng như trong
hoạt động kinh doanh. Điều này đã làm giảm hiệu quả về việc thực thi chức năng giám
sát, theo dõi các doanh nghiệp của chính các cơ quan trên.
 Nhằm thực hiện Luật thuế GTGT một cách có hiệu quả, bên cạnh việc đổi mới cơ
chế chính sách, đổi mới công tác quản lý hành thu thì cần thiết phải tiến hành đồng bộ
cải cách các lĩnh vực hành chính – kinh tế có liên quan sau:
 Mặc dù hành vi gian lận hóa đơn đã xuất hiện từ trước khi áp dụng thuế giá
trị gia tăng tại Việt Nam. Tuy nhiên, qui mô và mức độ gian lận của hành vi này còn
manh mún, chưa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngân sách nhà nước. Kể từ khi Luật
thuế GTGT được chính thức áp dụng, hiện tượng gian lận hoá đơn mới thực sự nở rộ
và đã xuất hiện một loại tội phạm mới mà luật hình sự chưa có điều khoản cụ thể để
định danh loại tội phạm mới này. Chính sơ hở này đã gây lúng túng cho các cơ quan
pháp luật trong việc xét xử, định danh các hành vi in giả, mua bán, xử dụng hóa đơn để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status