quản lý nhà nước về đất đai ở xã lạc sơn đô lương – nghệ an, trong giai đoạn hiện nay thực trạng và giải pháp - Pdf 35

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện
mọi quá trình sản xuất, vừa là chỗ dựa, địa bàn hoạt động cho tất cả các ngành, các
lĩnh vực đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp nó là tư liệu sản xuất chủ yếu. Con
người không tự tạo ra đất mà chỉ có thể sử dụng hợp lý thì mới bảo tồn được đất đai.
Đất đai có độ phì nhiêu nhân tạo, độ phì nhiêu tiềm tàng, độ phì nhiêu kinh tế,
Nếu sử dụng đúng mục đích thì đất đai mang lại lợi ích rất lớn, đồng thời độ phì nhiêu
đất trồng tăng lên, mọi loại đất có đặc điểm, vị trí tầm quan trọng riêng của nó. Nếu
con người của chúng ta sử dụng đất không đúng múc đích, không hợp lý, không bảo
vệ thì chỉ làm cho đất xấu đi, bị cằn cỗi và bạc màu hoá.
Tuy nhiên trong thực tế hiện nay đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói
riêng đang bị thu hẹp do quả đất nóng lên làm băng tan, mực nước biển dâng lên đang
dần dần lấn vào đất liền mà Việt Nam chúng ta nằm vào vị trí bị ảnh hưởng lớn tới
vấn đề này. hơn nữa đất nông nghiệp đang bị thu hẹp dần do đất dành cho giao thông,
xây dựng kiến thiết hạ tầng, các công trình quốc gia như quốc lộ, Điện, thuỷ lợi
chuyển sang mục đích sự dụng khác như công nghiệp, các khu vui chơi giải trí, vần
đề đô thị hoá, do quá trình tăng nhanh dân số, mặt khác donhu cầu lương thực ngày
càng tăng mà diện tích thu hẹp lại nên con người phải tập trung khai thác tối đa thậm
chí khai thác sử dụng quá mức, đầu tư áp dụng các chất hoá học quá nhiều, trình độ
thâm canh chưa hợp lý làm cho độ phì nhiêu của đất này bị cạn kiệt về dinh dưỡng,
trở nên bạc màu, cằn cỗi, làm giảm năng lực sản xuất của đất. Điều đó làm ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng sản phẩm của nông nghiệp, nhiễm các chất độc hại trong các
chất hoá học quá nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người chúng ta. Không đảm
bảo theo xu hướng phát triển nền nông nghiệp bền vững mà nhân loại đang hướng tới.
Hiện trạng việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp này ở xã lạc sơn - Đô
Lương – Nghệ An đang được Đảng, chính quyền quan tâm trong việc quản lý nâng
cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và nhân dân nhận thức được tầm quan trọng
1




- Phương pháp thống kê kinh tế
- phương pháp phân tích so sánh
- Phương pháp chuyên giao chuyên khảo
- Và một số phương pháp khác
- Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Đề tài nghiên cứu về “Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở xã Lạc
sơn - Đô Lương – Nghệ An, trong giai đoạn hiện nay thực trạng và giải pháp”.
Với điều kiện về thời gian có hạn, năng lực còn hạn chế nên chỉ đi sâu nghiên
cứu loại đất canh tác trên địa bàn xã trực tiếp điều tra 30 mẫu để phục vụ cho nghiên
cứu, đánh giá thực trạng.

3


PHẦN II
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mối quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ
yếu và đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp, là một trong những yếu tố quan trọng
nhất của môi trường sống và là địa bàn phân bổ dân cư.
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các nagnhf như
trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ hải sản hoặc sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm
về nông nghiệp.
Trong nông nghiệp đặc biệt là các ngành trồng trọt, đất đai có vị trị hết sức
quan trọng. đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ dựa của lao động như ở các ngành
khác mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt

Hiện nay nhu cầu đất phục vụ cho mục đích phi nông nghiệp ngày càng tăng
làm cho đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp.
1.2. Độ phì của đất nông nghiệp.
Nó là khối lượng các chất dinh dưỡng, nươca có trong đất cũng như kết cấu đất
và các tính chất lý hoá, sinh vật học mà khi con khai thác có thể thu được lại một
khối sản phẩm nhất định theo những cách thức khai thác nhất định. Nó quyết định đặc
tính có khả năng tái tạo của đất. Đất cũng là đắc trưng cơ bản nhất. Dờu hiệu chất
lượng ruộng đất, nói một cách đầy đủ “ độ phì nhiêu của đất khả năng của đất có thể
cung cấp cho cây trồng về nước, thức ăn và khoáng và các yếu tố cần thiết để cây
trồng có thể sinh trưởng và phát triển bình thường”.
Độ phì nhiêu của đất là một thuộc tính tự nhiên khách quan nhưng có cũng chịu
sự tác động của con người. Cùng với sự tác động của các yếu tố tự nhiên khách quan
và sự tác động tích cực hay tiêu cực, chính điều này đòi hỏi con người phải biết khai
thác, sử dụng đất một cách hợp lý, phù hợp với quy luật khách quan hạn chế khắc
5


phục những tác động xấu của tự nhiên để độ phì của ruộng đất tăng lên ,góp phần
tăng khối lượng nông sản phẩm phục vụ cho nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày
càng cao của con người .
Từ những đặc tính nêu trên người ta đã phân độ phì nhiêu của đất thành ba loại
như sau:
- Độ phì nhiêu tự nhiên của đất: là độ phì nhiêu được hình thành do quá trình
tác động của các yếu tố tự nhiên, chưa có sự tác động của con người, đây là thuộc tính
tự nhiên của đất, nó phụ thuộc kết cấu tự nhiên của đất nơi có hình thành.
- Độ phì nhiêu nhân tạo của đất là độ phì nhiêu được tạo ra do tác động của con
người trong quá trình sản xuất nông nghiệp trên cơ sở sử dụng, khai thác độ phì nhiêu
tự nhiên thông qua các hoạt động như làm đất, cày xới bón phân tưới nước….Độ phì
nhiêu nhân tạo tăng hay giảm phụ thuộc rất lớn vào hình thức canh tác cũng như biện
pháp KHKT được ứng dụng trong sử dụng và cải tạo đất đai.

dụng đất.
2.2. Nhân tố cao người.
Bằng sức lao động của mình con người đã khai hoang, phục hoá đất đai từ sản
phẩm tự nhiên hoang hoá vào sử dụng biến nó trở lại tư liệu sản xuất chủ yếu của
ngành sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp chịu sự
ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố sức lao động của con người. Từ xa xưa trình độ sản xuất
của con người còn thấp kém chỉ lao động thô sơ để khai thác độ phì nhiêu tự nhiên
của đất đai là chính nên hiệu quả sử dụng đất đai thấp. Ngày nay với trình độ KHKT
gày càng phát triển con người áp dụng vào sản xuất nông nghiệp đưa trình độ thâm
canh ngày một cao và cho kết quả cao trong sản xuất nông nghiệp đồng thời người lao
động cũng biết tăng sức sản xuất từ biện pháp cải tạo, bồi dưỡng cho đất.
Người lao động ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất theo hai hướng đó là theo
hướng tích cực và tiêu cực.
Nếu con người biết khai thác, sử dụng hợp lý đầu tư thâm canh, bồi dưỡng cho
đất thì hiệu quả sử dụng đất ngày càng một hiệu quả cao hơn.

7


Nếu con người chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, đặc điẻm của đất đai, sử dụng
lãnh phí, không hợp lý, sai mục đích, không đầu tư, chăm sóc, bồi dưỡng cho đất sẽ
dẫn đến đất bạc màu, dẫn đến hiệu qủa sử dụng đất thấp.
Trong nhân tố con người thể chế chính trị cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc khai
thác và sử dụng đất đai do cơ chế chính sách của nhà nước, và mỗi cơ chế chính sách
của mỗi quốc gia hay mỗi địa phương điều có hiệu quả sử dụng đất khác nhau.
Bên cạnh con người định hướng đầu tư vốn sử dụng cải tạo đất đai, xây dựng
cơ bản, giao thông thuỷ lợi, có ảnh hưởng không nhỏ tới việc nâng co hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp. Con người chú trọng đầu tư vào sử dụng cải tạo đất, xây dựng
các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ việc sử dụng, cải tạo đất tốt nhất thì hiệu quả sử
dụng được nâng lên rõ rệt.

năng suất ruộng đất phản ánh hiệu quả của sử dụng đất nông gnhiệp. Vì nó biểu hiện
mối tương quan giữa kết quả sử dụng đất với chi phí sản xuất xét trên khía cạnh đất
đai là tư liệu sản xuất vào hoạt động sản xuất đất nông nghiệp.
+ Năng xuất cây trồng cho từng loại cây trồng: là chỉ tiêu thế hiện lượng sản
phẩm chính của loại cây trồng ( i) 1 đơn vị diện tích ( ha) cây trồng trong đó 1 vị hay
1 năm.
Tổng sản lượng cây trồng
+ Năng suất cây trồng =
Tổng diện tích gieo trồng loại cây trồng
+ Lợi nhuận tính trên diện tích đơn vị diện tích đất nông nghiệp, đất canh tác.

9


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở XÃ
LẠC SƠN – ĐÔ LƯƠNG
I. Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Lạc Sơn – Đô Lương
1.1. Vị trí địa lý
Lạc sơn là một xã nằm về phái Bắc Huyện Đô Lương cách thị trấn Đô Lương
khoảng 5 km và cách TP Vinh Tỉnh Nghệ An khoảng 60 Km về hướng Tây Nam.
+ Phía Đông : Giáp Thịnh sơn, Tân sơn
+ Phái Nam: Giáp xã Xuân sơn và Trung sơn
+ Phía Tây: Giáp xã Đà sơn
+ Phái Bắc: Giáp xã Yên sơn và Văn sơn
Có con đường đường 15A đi qua trên địabàn chạy theo hướng từ TP Vinh lên
trung tâm Thị Trần đô Lương và các huyện phía Tây Bắc của Tỉnh Nghệ An. Có tổng
diện tích đất tự nhiên : 493.79 ha.
1.2 Địa hình
Là một xã đồng bằng của Huyện đô Lương, có địa hình tương đối bằng phằng.

hạn lớn.
1.5. Quy hoạch đất đai của xã.
Tổng diện tích đất tự nhiên: 493,79ha
- Đất nông nghiệp: 365,1ha chiếm 74% trong đó
- Đất sản xuất nông nghiệp: 339,39ha
- Đất lâm nghiệp: 6,53 ha
- Đất nuôi trồng thuỷ sản: 19,18ha
- Đất phi nông nghiêp: 121,38ha chiếm 24,5%
- Đất chưa sử dụng 7,31ha chiếm 1,5%
Trong đó:
- Đất bằng chưa sử dụng: 7,31ha chiếm 1,5%
- Tổng quỹ đất của xã đã đưa vào sử dụng là 98,5%
1.6. Dân số lao động:
11


Theo số liệu thống kê đến nay xã Lạc sơn có 3818 khẩu, 997 hộ và 2.297 lao
động, được phân bổ trên 10 xóm, sống quần cư theo làng, lao động hầu hết có việc
làm ổn định bằng nghề nông, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp.
Kết quả phân tầng xã hội năm 2009: Tổng số hộ 997 hộ
+ Hộ giàu: 31 hộ = 3,10%
+ Hộ khá: 510 hộ = 55,16%
+ Hộ TB: 31 hộ = 31,89%
+ Hộ nghèo : 98 hộ = 9,82%
Trong đó:
- Hộ nông nghiệp 891 chiếm 89,3% tổng số hộ trên địa bàn
- Hộ phi nông nghiệp: 106 hộ chiếm 10,7% tổng số hộ trên địa bàn
Qua đó chúng ta thấy Lạc sơn là một xã mà tỷ lệ hộ nông nghiệp chiếm phần
lớn. Cho nên trong chính sách PTKT của xã cần quan tâm lớn về sản xuất nông
nghiệp mà đặc biệt là quan tâm đến việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ngaỳ

Huyện Đô Lương.
e. Trạm y tế. Cả xã có 1 trạm y tế có quy mô 10 giường bệnh 4 phòng điều trị,
trong đó 1 phòng điều trị đông y, 1 phòng hộ sịnh, và 2 phòng điều trị, trạm có 1 Bác
sỹ, 2 y sỹ và 1 y tá hộ lý, có tủ thuốc đảm bảo cơ bản để chữa bệnh thông thường cho
nhân dân. Trạm được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế năm 2007. Công tác bảo
vệ chăm sóc sức khoẻ khám tiêm chủng mở rộng, y tế dự phòng, tham gia các chương
trình, y tế quốc gia, khám và chữa bệnh cho nhân dân trong xã ngày càng được quan
tâm đúng mức.
j. Văn hoá văn nghệ thể dục thể thao.
Toàn xã hăng hái thi đua xây dựng đời sống văn hoá tại cộng đồng dân cư.
Hiện tại có 10/10 trong toàn xã đã có nhà văn hoá của xóm là địa điểm sinh hoạt dân
cư, và các tổ chức đoàn thể, sinh hoạt VHVN – TDTT, có 1 sân bóng lớn tại trung
tâm công sở của xã là nơi diễn ra nhiều hoạt động phong trào lễ hộ của nhân dân toàn
xã.

13


Các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” “ Uống nước nhớ nguồn”. VHVN được
cấp uỷ Đảng, chính quyền các đoàn thể và quần chúng nhân dân quam tâm và duy trì
thường xuyên, hệ thống thông tin từ xã đến xóm đều hoạt động tốt, Phong trào TDTT
rèn luyện sức khoẻ ngày càng rộng khắp trong nhân dân.
1.8. Tình hình phát triển, Kinh tế xã hội – quốc phòng an ninh của xã.
1.8.1. Tốc độ phát triển kinh tế
Thực hiện đường lối đổi mới của đảng, nhà nước và mục tiêu công CNH –
HĐH nông thôn, Lạc sơn đã tập trung mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế xã
hội do vậy trong những năm qua nền kinh tế xã Lạc sơn đạt được kết quả đáng kích
lệ, Được như vậy là nhờ sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện uỷ, HĐND –
UBND – UBMTTQ và các Ban ngành đoàn thể cấp Huyện đã ra sức đồng lòng nhất
trí cao của Đảng bộ và nhân dân xã nhà ra sức sáng tạo trong sản xuất, chăn nuôi phát

1

Nông, lâm thuỷ sản

Tr.đ

14.169 14.865,5 17.977,2 +26,8%

2

Tiểu thủ công nghiệp

Tr.đ

1.956

2.410

3.040

+ 55,4%

3

Dịch vụ thương mại

Tr.đ

7.376


- Nghiêm chỉnh chấp hành các văn bản hướng dẫn của cấp trên, thực hiện pháp
luật và quản lý hồ sơ, bản đồ cẩn thận, cập nhật số liệu kịp thời, chính xác.
Xã có một cán bộ địa chính dày dặn kinh nghiệm, trình độ năng lực quản lý
tham mưu kịp thời, chính xác cho Đảng uỷ, chính quyền quy hoạch kế hoạch và quản
lý sử dụng đất có hiệu qảu, kể cả việc giao ất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, việc xác định giá đất cho từng khu vực, từng vùng trên phạm vi toàn bộ xã đã
được tiến hành xây dựng giá đất hàng năm theo luật định và được UBND Tỉnh Nghệ
An phê duyệt.
- Xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Việc đăng ký biến động đất đai, kiểm kê, kiểm tra thanh tra, sử dụng đất được
tiến hành thường xuyên đảm bảo dan chủ công khai.
- Đến nay đã hoàn thnàh việc giao đất, cấp giấy quyền sử dụng đất đến các đối
tượng sử dụng.
15


- Ranh giới hành chính theo nghị định 364/CP của chính phủ đã được xác dịnh
rõ với các xã liền kề, không xảy ra tình trạng tranh chấp đất đai.
- Công tác chuyển đổi ruộng đất đến nay cơ bản hoàn thành theo tinh thần chỉ
thị 02 Tỉnh uỷ Nghệ An về việc “ Dồn điền đổi thưả, tích tụ ruông đất”.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tích, kết quả đạt được vẫn còn một số thiếu
sót, tồn tại cần được khắc phục như: Công tác quản lý đất đai, đôi lúc còn thiếu chặt
chẽ, tình trạng lẫn chiếm đất đai của công, của một số gia đình, lẫn chiếm hành lang
an toàn giao thông, chưa được sử lý nghiêm, quy hoạch sử dụng đất chưa hợp lý,
chưa quan tâm nâng cao độ phì nhiêu cho đất, do việc thâm canh đầu tư thiếu đồng
bộ, chưa đồng đều.
2.2. Tình hình sử dụng đất đai.
Tính đến năm 2009 qua bảng số liệu ( bảng 4) cho ta thấy xã Lạc sơn có:
- Tổng diện tích đất tự nhiên : 493,79 ha trong đó:
+ Đất nông gnhiệp : 365,37 ha chiếm 70% diện tích đất tự nhiên

2.2.1.2. đất lâm nghiệp.
Đất lâm nghiệp có rừng diện tích 6,53ha chiếm 1,79% diện tích nông nghiệp
cây trồng chủ yếu là keo, bạch đàn. Hiện nay rừng đang phát triển tốt và gần đưa vào
khai thác.
2.2.1.3. Đất nuôi trồng thuỷ sản.
Đất nuôi trồng thuỷ sản có diện tích 19,18 ha, chiếm 4% diện tích đất nông
nghiệp, phát triển nuôi trồng thuỷ sản là một hướng chuyển đổi sản xuất nông nghiệp
theo hướng hàng hoá, nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích. Đất nuôi trồng thuỷ sản
đã và đang được đầu tư khá, kể cả diện tích ao hồ, cá xen lúa, kết hợp mô hình cá - vịt
– lơn rất hiệu quả.
2.2.2. Đất phi nông nghiệp
Diện tích 121,11 ha, chiếm 24,5% diện tích đất tự nhiên, được cơ cấu sử dụng
đất như sau:
- Đất ở :30,75ha, chiếm 25,2% diện tích đất phi nông nghiệp
17


- Đất chuyên dùng: 85,97 ha, chiếm 25,2% diện tích đất phi nông nghiệp
Trong đó:
+ Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp : 0,76ha
+ Đất an ninh quốc phòng : 19,83ha
+ Đất có mục đích công cộng: 65,34ha
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 4,66 ha chiếm 3,85% diện tích đất phi nông
nghiệp.
2.2.3. đất chưa sử dụng
Diện tích đất chưa sử dụng là 7,31 ha, chiếm 1,5% diện tích đất tự nhiên
2.3.Biến động sử dụng đất:
Biến động quỹ đất trên địa bàn xã Lạc sơn qua 3 năm 2007– 2009 cụ thể như
sau (đơn vị tính ha)
T


%

đất

đất tự

tích

tự

2008/200

2009/200

I

Tổng dt đất tự nhiên

493,7

100

493,79

100

493,79

100

đất sx nông nghiệp

1
347,1

70,3

347,15

70,3

347,15

70,3

-1,8

0,45

1
1.

đất lâm nghiệp

5
6,53

1,32

6,53

+ 6,7

3
2

đất phi nông nghiệp

119,3

24,17

119,37

24,17

119,37

24,17

+ 1,45

-

2.

đất ở

7
28,74



-

-

2
2.

đất phi nông nghiệp khác

4,66

0,94

4,66

0,94

4,66

0,94

-

-

3
3

đất chưa sử dụng

+ Trong nông nghiệp thì diện tích đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm
dần chuyển mục đích sử dụng từ đất sản xuất nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản.
Trong đó diện tích đất trồng cây hàng năm bị giảm chủ yếu diện tích trồng lúa ở các
vùng xa, xấu, trồng lúa kém hiệu quả. Còn đất lâm nghiệp thì ổn định qua các năm vì
diện tích đất lâm nghiệp của xã Lạc sơn chủ yếu là mục đích trồng rừng phòng hộ.
+ Đất phi nông nghiệp: Ngược lại với đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp có
xu hướng tăng nhẹ .Năm 2008 tăng so với năm 2007 là 1,74 ha. Năm 2009 tăng so
với năm 2008 là 0,27 ha.
Ngoài ra đất chưa sử dụng vẫn giữ nguyên và chiếm tỷ lệ rất nhỏ là 7,31 ha
chiếm tỷ lệ 1,48% tổng diện tích đất tự nhiên của xã. Điều này cho ta thấy qua các
năm từ năm 2005 – 2007 xã không có biện pháp , chủ trương khai thác đưa vào sử
dụng nguồn đát chưa sử dụng này. Đâycùng là một tồn tại việc quản lý và sử dụng đất
đai củ chính quyền và người dân của xã Lạc sơn cần khắc phục và đưa vào sử dụng
diện tích này tránh lãng phí nguồn tài nguyên vô giá này.
III. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của xã Lạc sơn
Qua bảng số liệu (bảng 5) cho ta thấy về cơ cấu rất đa dạng trong diện tích đất
nông nghiệp như sau.
Về cơ cấu cho từng mục đích sử dụng thì diện tích đất cây trồng hàng năm
chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng diện tích đất nông nghiệp trên ( 90%) đất trồng cây
lâu năm chỉ chiếm từ 2 – 5%, đất lâm nghiệp ổn định ở tỷ lệ 1,7%, đất nuôi trồng thuỷ
19


sản có chiều hướng tăng dẫn qua các năm biến động tăng dần từ 4% lên gần 6% năm
2007.
Về biến động cơ cấu năm 2007 so với năm 2009 đất nông nghiệp giảm, kéo
theo đó diện tích đất trồng cây hành năm giảm từ 90,46% năm 2008 xuống 90,16%
năm 2009 tương ứng với 1,37 ha. Trong đó đất trồng lá có xu hướng giảm từ 55,2%
năm 2008 xuống 52,04% năm 2009 tương ứng với 11,7ha do những vùng đất cao xa,
xấu khó tưới tiêu nước, không chủ động được nguồn nước nên chuyển sang cơ cấu 1


Năm 2008

Năm 2009

So sánh
Tăng +

DT ha



DT ha

cấu



DT ha

Giảm -

cơ cấu

cấu

2007/2008

2008 /2009


330,55

90,46

329,18

90,16

- 0,5

- 1,37

-

1.1.1

Ruộng lúa 2vụ

201,7

55

201,7

25,13

190

52,04


10

37

2,82

37

10,13

1.1.4

đất trồng cây hàng năm

II

Các chỉ tiêu bình quân

1

Bq đất lúa/hộ nông nghiệp(m2)

2266

2263,7

2127,6

- 136,1


nông nghiệp mà mũi nhọn hàng đầu vẫn là cây lúa. Đây cũng là tập quán lâu đời nay
đến giờ, người dân Lạc sơn nói riêng Huyện Đô Lương nói chung chủ yếu tập trung
sản xuất nông nghiệp mà cây lúa vẫn là mũi nhọn số 1 cung cấp lương thực thực
phẩm cho nhân dân.
Về biến động diện tích trong quỹ đất canh tác hàng năm: đất canh tác có xu
hướng giảm xuống tương ứng với việc giảm quỹ đất nông nghiệp của xã cụ thể: Năm
2007 diện tích đất canh tác của xã là: 330,55 ha đến năm 2009 giảm xuống còn
329,18 ha tương ứng với tỷ lệ – 0,4%. Trong biến động đất canh tác bị giảm xuống
do chuyển đổi mục đích sử dụng đất chủ yếu sang mục đích sử dụng phi nông nghiệp
như cấp đất ở, đường giao thông, hoặc chuyển snag đào ao nuôi cá, Trong đất canh
tác biến động diện tích trồng lúa giảm xuống vào năm 2009 do chuyển sang một số
21


diện tích từ đất 2 lúa sang 1 lúa 1 màu do vùng đất này xa, xấu, khó chủ động tưới
tiêu, đất 2 lúa giảm 11,7 ha tương ứng 5,8%.
Biến động về mặt chỉ tiêu bình quân: Do biến động về đất canh tác trong những
năm qua bình quân đất /lao động nông, hộ nông nghiệp cùng giảm xuống theo tỷ lệ
giảm đất canh tác mặt khác có phần tăng dân số có ảnh hưởng đến tỷ lệ giảm chỉ tiêu
bình quân đối với đất canh tác và đất 2 lúa. Cụ thể: năm 2007 bình quân đất 2 lúa là
2266 m2 /hộ nông nghiệp và năm 2009 chỉ còn 2127,6 m2/ hộ giảm 136,1 ha tương
ứng với giảm 6%. Bình quân đất 2 lúa/ lao động nông nghiệp cũng giảm theo năm
2007 là 1136,9m2/lao động, năm 2009 chỉ còn 1068,6m2 giảm 68,3 m2/ lao động
tương ứng với 6%. Điều này cho ta thấy tốc độ giảm quỹ đất canh tác đặc biệt là trên
đất 2 lúa là rất nhanh. Đảng bộ, chính quyền cần phải quan tâm trong công tác quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất chính sách dân số, dân sinh của xã nhà để đảm bảo
nguồn an ninh lượng thực cho nhân dân xã lạc sơn.
4.2. Diện tích gieo trồng một số cây trồng chính ở xã Lạc sơn.
Bảng 7 : Biến động diện tích gieo trồng một số loại cây trồng chính ở xã Lạc sơn
TT


1.
1

Cây lương thực

494.4

81.2

724.4

81.2

Lúa

724.4

68.24

494.4

68.24

Ngô
Khoai lang
Cây công nghiệp

145
85


Năm 2009

100

20
11.7
12.4

329.1
8
888.7
8
712.1
8
482.1
8
145
85
111

33.33
66.66
6.38

37
74
65.5

33.33

thay đổi cơ cấu cây trồng. đây là kết quả sự nỗ lực chỉ đoạ của các cấp uỷ đảng.
4.3. Công thức luân canh một số cây trồng chủ yếu ở xã Lạc sơn.
Lạc sơn là xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, ngoài ra còn phụ
thuộc vào đặc trưng tự nhiên, KTXH và tập quán canh tác của người dân, qua điều tra
tìm hiểu xã có những công thức luân canh chính trên các vùng đất của xã như sau:
bảng số liệu 8:
Bảng số 8: Một số công thức luôn canh của xã Lạc sơn
TT

Canh tác

Tháng
12

1

Lúa – Lúa – ngô

1

2

3

4

5

6



Lúa hè thu

Rau màu ( cá vụ 3)

23


4

Lạc - đậu – ngô

Lạc xuân

5

Khoai - Lúa

Khoai đông xuân

Đậu hè thu

Ngô thu đông
Lúa hè thu

Thứ nhất: Công thức luôn canh Đông xuân – Lúa hè thu, cây trồng vụ đông và
được nhân dân xã nhà khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả làm tăng thu nhập
đáng kể trên địa bàn một đơn vị diện tích.
Lúa đông xuân: được gieo trồng từ khoảng cuối tháng 1 đến tuần đầu của tháng
2 đối với vụ này cơ cấu chủ yếu giống lúa chủ lực là Lúa lai Trung Quốc có thời gian

12 như vậy, các công thức luân canh của xã đang làm theo hướng sản xuất hàng hoá
theo nhu cầu thị trường đặc biệt là các loại cây ở vụ đông nó đa dạng hơn về cây
trồng, vật nuôi và có hiệu quả sử dụng trên đơn vị diện tích ngày một tăng, cây lúa
được sản xuất ở 2 vụ chính Đông xuân và hè thu, đang dần cơ cấu các loịa giống có
năng suất và chất lượng cao. Do việc khai thác sử dụng ngày càng cao nên xã cần có
chính sách khuyến nông nhân dân đầu tư đúng kỹ thuật luân canh để cải tạo, nâng cao
chất lượng của đất để đảm bảo bền vững trong việc sử dụng đất đai.
4.4. Hiệu quả sử dụng đất canh tác của các hộ điều tra.
4.4.1. Hiệu quả sản xuất một số cây trồng chính
Qua điều tra, nghiên cứu thu thập thông tin từ 30 hô ở các xóm: 5,8,9 của xã
Lạc sơn kết quả điều tra cho thấy
Số liệu điều tra được phản ánh qua bảng sau: Bảng 9:
TT

Chỉ tiêu

ĐVT

Lúa

Ngô

Lạc

1
2
3

Tổng giá trị sản xuất
chiphí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status