ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM PHƢƠNG THẢO
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN
TRONG CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
DO NHÀ NƢỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC TIỄN
THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM PHƢƠNG THẢO
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN
TRONG CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
DO NHÀ NƢỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC TIỄN
THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
VIÊN DO NHÀ NƢỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC TIỄN THOÁI
VỐN NGOÀI NGÀNH. ................................................................................ 33
2.1.Thực trạng về đầu tư ngoài ngành ở Công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. .................................................... 33
2.2. Thực trạng về thoái vốn ngoài ngành ở Công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu. ............................................. 42
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ,
SỬ DỤNG VỐN Ở CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT
THÀNH VIÊN DO NHÀ NƢỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU QUA THỰC
TIỄN THOÁI VỐN NGOÀI NGÀNH ........................................................ 55
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu qua
hoạt động thoái vốn ngoài ngành ................................................................. 55
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong Công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu qua hoạt
động thoái vốn ngoài ngành. ........................................................................ 60
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng vốn Nhà
nước đầu tư tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước
làm chủ sở hữu. ......................................................................................... 60
3.2.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật về thoái vốn ngoài ngành tại
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
................................................................................................................... 63
3.2.3. Tăng cường các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thoái
vốn ngoài ngành tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà
nước làm chủ sở hữu. ................................................................................ 64
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
PHỤ LỤC
Nhà nước điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, đảm
bảo an sinh xã hội.
Tuy nhiên, khi nền kinh tế lâm vào khó khăn kéo dài, hoạt động kinh
doanh cũng như tình hình tài chính của các công ty này đã bộc lộ nhiều hạn
chế. Một trong những yếu kém hiện nay đó là việc quản lý, sử dụng nguồn vốn
Nhà nước còn có nhiều sai phạm trong khi các doanh nghiệp này lại có xu
hướng dùng vốn Nhà nước để đầu tư ngoài ngành một cách tràn lan, gây lãng
phí.
Trước tình hình đó, thoái vốn ngoài ngành được xem là một trong những
giải pháp, nhiệm vụ cụ thể, trọng tâm, cấp bách nằm trong đề án tái cơ cấu
DNNN mà cụ thể là tái cơ cấu DNNN về mặt tài chính được Thủ tướng Chính
phủ yêu cầu kiên quyết thực hiện trong năm 2015 để công tác quản lý, sử dụng
vốn trong DNNN trong đó có Công ty TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở
hữu thực sự có hiệu quả cao, tạo môi trường tài chính trong sạch.
Nhận thức được tính cấp thiết của việc quản lý, sử dụng vốn trong Công
ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái vốn ngoài
ngành xét ở góc độ pháp lý, học viên chọn đề tài “Pháp luật về quản lý, sử
dụng vốn trong Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực
tiễn thoái vốn ngoài ngành” là hết sức có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn,
1
đồng thời qua quá trình nghiên cứu, bản thân học viên có điều kiện nâng cao
nhận thức, trình độ công tác.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề quản lý, sử dụng vốn trong Công ty TNHH MTV do Nhà nước
làm chủ sở hữu nhìn từ khía cạnh đầu tư ngoài ngành và thoái vốn ngoài ngành
đã và đang nhận được sự quan tâm của nhiều cá nhân, cơ quan và tổ chức. Cho
tới nay đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể tên một số
quản lý, sử dụng vốn Nhà nước ở Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ
sở hữu.
- Hệ thống hóa các quy định pháp luật liên quan đến công tác quản lý, sử
dụng vốn xét từ một vấn đề cụ thể là thoái vốn ngoài ngành ở Công ty TNHH
MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu.
- Phân tích đánh giá những ưu điểm, tồn tại của các quy định pháp luật đó
và đề xuất những giải pháp hoàn thiện mà bản thân cho là phù hợp.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cụ thể pháp luật về quản lý, sử dụng vốn Nhà nước
trong Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu qua thực tiễn thoái
vốn ngoài ngành.
5. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của một luận văn Thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu ở
các Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu.
6. Các phƣơng pháp nghiên cứu
3
- Phương pháp hệ thống: sử dụng cho Chương I để hệ thống hóa các văn
bản pháp lý, các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng vốn qua thực tiễn thoái
vốn ngoài ngành của Công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu;
- Phương pháp thống kê, phân tích các số liệu đã thống kê được;
- Phương pháp so sánh;
- Kế thừa các số liệu của các công trình nghiên cứu khác liên quan đến đề
tài, các kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và dựa trên những định
hướng chỉ đạo của Chính phủ để đưa ra các kiến nghị.
7. Điểm mới của luận văn
Từ trước đến nay, vấn đề về sở hữu, quản lý, sử dụng, bảo toàn vốn Nhà
nước đầu tư vào các doanh nghiệp luôn được dư luận quan tâm đặc biệt nhìn từ
Công ty TNHH MTV do Nhà nƣớc làm chủ sở hữu
1.1.1.Khái niệm Quản lý, sử dụng vốn và Pháp luật về quản lý, sử
dụng vốn trong Công ty TNHH MTV do Nhà nƣớc làm chủ sở hữu
Quản lý vốn, sử dụng vốn là những hoạt động rất quan trọng đối với bất
kỳ đơn vị kinh doanh nào bởi liên quan trực tiếp đến doanh thu, chi phí, lợi
nhuận của doanh nghiệp đặc biệt đối với các doanh nghiệp Nhà nước sử dụng
các nguồn lực mang yếu tố nhà nước để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh.
Quản lý, sử dụng vốn là tập hợp các hành vi hoạch định, tổ chức, bố trí,
phân phối, kiểm soát các nguồn vốn, tài sản sao cho phù hợp với phương
hướng, kế hoạch, mục tiêu đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một
cách hiệu quả, an toàn và tiết kiệm nhất.
Pháp luật Quản lý, sử dụng vốn trong công ty TNHH MTV do Nhà nước
làm chủ sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ
hình thành trong lĩnh vực quản lý, sử dụng vốn ở công ty TNHH MTV chủ sở
hữu Nhà nước.
Yêu cầu, nguyên tắc cơ bản của quản lý, sử dụng vốn nhà nước:
Thứ nhất, quản lý, sử dụng vốn phải đáp ứng yêu cầu bảo toàn và phát
triển vốn, tránh để xảy ra thất thoát, mất vốn: Một trong các yêu cầu cốt lõi
6
đảm bảo cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp là phải bảo toàn
và phát triển được vốn. Đây cũng là tiêu chí kinh tế quan trọng để đánh giá
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không, làm căn cứ quyết định chiến
lược phát triển dài hạn trong tương lai, cũng như kế hoạch sản xuất kinh doanh
trong ngắn hạn. Yêu cầu này đã được thể chế bằng những quy định về sử dụng
vốn, tài sản; quy chế, định mức sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản, thực hiện
việc kiểm kê, đánh giá và xác định đúng nguyên giá tài sản…
Thứ hai, sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả: đây là nguyên tắc bắt
tích tụ và tập trung vốn ở doanh nghiệp, nhờ đó tăng quy mô và tốc độ phát
triển sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước. Nguồn thu
vào ngân sách nhà nước càng nhiều thì Chính phủ càng có khả năng tài chính
để tăng quy mô đầu tư vốn, phát triển các quỹ tài trợ cho sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp; kế đó, quy mô đầu tư và tài trợ từ ngân sách đối với doanh
nghiệp càng lớn thì nó sẽ kích thích mạnh mẽ hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế,
và qua đó Chính phủ còn thực hiện được yêu cầu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
theo định hướng đã đề ra. Do đó, Nhà nước rất chú trọng đầu tư, ban hành một
hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước, đặc biệt điều
chỉnh hoạt động đầu tư ngoài ngành vốn rất phức tạp và ảnh hưởng lớn đối với
việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn Nhà nước ở các công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
8
1.1.2. Nội dung pháp luật về quản lý, sử dụng vốn trong công ty
TNHH MTV do NN làm chủ sở hữu
Như chúng ta biết, lĩnh vực quản lý, sử dụng vốn Nhà nước là một vấn đề
vô cùng rộng lớn bởi chính đối tượng của nó là “vốn, tài sản Nhà nước” bản
chất đã rất phức tạp. Do đó, nội dung pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này gồm
nhiều vấn đề, cụ thể:
- Bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp.
Việc bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp được thực hiện bằng
các biện pháp như trích lập dự phòng rủi ro các khoản đầu tư tài chính, mua
bảo hiểm tài sản, xử lý nợ không có khả năng thu hồi.
- Đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cổ định. Hội đồng thành viên hoặc
Chủ tịch công ty quyết định từng dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố
định với giá trị không quá 50% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính
quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp. Trong trường hợp giá trị
nhọn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh. Việt Nam cũng
không phải là ngoại lệ, với chiến lược nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với
các nước phát triển, Chính phủ đã xây dựng các TCT, TĐ làm trụ cột cho nền
kinh tế đất nước, mỗi một TCT hay TĐ Nhà nước sẽ đảm nhiệm vai trò phát
triển một lĩnh vực nhất định mà những lĩnh vực ấy là những ngành nghề kinh tế
trọng điểm mũi nhọn của đất nước. Tuy nhiên các TĐ, TCT Nhà nước ra đời và
10
phát triển trong bối cảnh những năm 2005- 2008 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ
của các lĩnh vực hấp dẫn như tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động
sản,… . Thay vì tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính mà Nhà nước giao
phó, các TĐ, TCT Việt Nam lại tiến hành đẩy mạnh đầu tư ngoài ngành.
Trong Nghị định số 69/2014/NĐ-CP ngày 15/07/2014 về TĐ kinh tế Nhà
nước và TCT Nhà nước, tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 3 giải thích từ ngữ:
1. Ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp là ngành
nghề được xác lập từ mục đích đầu tư thành lập và chiến lược phát triển doanh
nghiệp, do chủ sở hữu quy định và giao cho doanh nghiệp thực hiện khi thành
lập và trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
2. Ngành nghề kinh doanh có liên quan đến ngành nghề kinh
doanh chính của doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là ngành nghề có liên quan) là
ngành nghề phụ trợ hoặc phái sinh từ ngành nghề kinh doanh chính, trên cơ sở
điều kiện và lợi thế của ngành nghề kinh doanh chính hoặc sử dụng lợi thế, ưu
thế của ngành nghề kinh doanh chính và phục vụ trực tiếp cho ngành nghề kinh
doanh chính.
Như vậy, từ những định nghĩa trên có thể hiểu “đầu tư ngoài ngành” là
hoạt động đầu tư ở những ngành nghề kinh doanh không liên quan đến ngành
nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp, những ngành nghề mà không phái
hệ số an toàn vốn, tỷ lệ vốn và điều kiện được đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro
như chứng khoán, ngân hàng, bất động sản, quỹ đầu tư. Hệ quả là nhiều TĐ,
12
TCT đi vay hoặc chiếm dụng vốn quá lớn so với vốn chủ sở hữu để đầu tư quá
nhiều vào các lĩnh vực rủi ro, trong khi đang rất thiếu vốn cho hoạt động sản
xuất kinh doanh chính, vừa làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, tài sản Nhà nước
vừa làm giảm năng lực thực hiện nhiệm vụ chính được Nhà nước giao.
Nguyên nhân thứ hai là do cơ chế quản lý chưa thực sự phù hợp.
- Chủ sở hữu là các cơ quan quản lý Nhà nước bao gồm Chính phủ, các
Bộ ban ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực
hiện chức năng quản lý hành chính, ban hành các chính sách. Tuy nhiên với vai
trò là chủ sở hữu, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu cho nên rất dễ
can thiệp một cách duy ý chí vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Điều
này dẫn đến tình trạng chồng chéo, thiếu minh bạch về vai trò, chức năng của
cơ quan Nhà nước và do cùng một lúc phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ nên tạo
sức ép cho bộ máy, giảm đi tính chuyên nghiệp khi thực hiện nhiệm vụ.
- Những cơ quan quản lý, điều hành công ty bao gồm Hội đồng thành
viên, Ban giám đốc được thành lập để thực hiện quản lý, điều hành, đưa hoạt
động, sản xuất kinh doanh của công ty 100% vốn Nhà nước hướng đi theo
nhiệm vụ, mục tiêu mà Nhà nước giao cho nhằm phát triển những ngành kinh
tế mũi nhọn của đất nước như điện lực, tài nguyên khoáng sản. Song các cơ
quan này lại vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, huy động vốn nên đã hướng công
ty đầu tư vào những lĩnh vực ngoài ngành.
- Người đại diện chủ sở hữu ở công ty xuất phát từ các cán bộ, công chức
Nhà nước thực hiện các hoạt động hành chính, công vụ nên chưa có kinh
nghiệm trong lĩnh vực kinh tế. Thế nhưng họ lại được cử làm đại diện chủ sở
chính là những nguy cơ có thực. Đặc biệt, cần thấy rằng, với khả năng tài chính
có hạn của mình, việc đầu tư vốn dàn trải sẽ buộc doanh nghiệp phải tìm đến
nguồn vốn mới với những điều khoản thương mại không có lợi, dễ phát sinh nợ
và lãng phí nguồn vốn ngân sách Nhà nước và tín dụng đầu tư. Tỷ lệ vốn bị
chiếm dụng cao, nợ quá hạn và khó đòi phát sinh lớn. Đầu tư ngoài ngành
chệch hướng không hiệu quả làm xấu đi hình ảnh của doanh nghiệp, thậm chí
đánh mất thương hiệu và gây ra những thiệt hại to lớn khó lường cho doanh
nghiệp. Do vậy về nguyên tắc không được đầu tư ra ngoài ngành. Nhưng thực
tế các công ty đã đầu tư ngoài ngành nên cần phải tiến hành thoái vốn.
Khái niệm thoái vốn ngoài ngành
“Thoái vốn” là một hình thức rất phổ biến trong đầu tư, khi mà các nhà
đầu tư cá nhân hay tổ chức muốn rút vốn đầu tư của mình sau khi nhận thấy
khoản đầu tư không hiệu quả, có khả năng rủi ro, thất thoát lớn, hoặc do sự
thay đổi chính sách, chiến lược kinh doanh của chính doanh nghiệp, ngoài ra
còn phụ thuộc vào diễn biến phát triển của thị trường trong và ngoài nước.
Thoái vốn cũng không phải là ngoại lệ đối với các doanh nghiệp Nhà
nước trong đó có công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu. Hiện nay
chưa có định nghĩa nào cụ thể về vốn ngoài ngành. Tuy nhiên, từ định nghĩa về
“ngành nghề kinh doanh chính”, “ ngành nghề không liên quan đến ngành nghề
kinh doanh chính”, có thể hiểu “vốn ngoài ngành” là vốn đầu tư vào những
ngành nghề kinh doanh không liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính của
doanh nghiệp, những ngành nghề mà không phái sinh hoặc không phát triển từ
ngành nghề kinh doanh chính, ngành nghề có liên quan đến ngành nghề kinh
doanh chính.
15
“Thoái vốn ngoài ngành của công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ
cũng được rà soát, phân loại lại: Những quy định nào không phù hợp thì loại
bỏ, thay thế, những quy định nào cần phải sửa đổi, bổ sung. Tất cả sẽ được
nhìn nhận một cách tổng quát, khách quan thông qua thoái vốn ngoài ngành.
- Thứ năm, thoái vốn để tiến tới cổ phần hóa DNNN, thu hẹp những
ngành, lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc các lĩnh
vực mà các thành phần kinh tế khác không thể tham gia. Từ đó, đa dạng hóa
các hình thức sở hữu, , tiến tới chuyển dịch các nguồn lực kinh tế từ khu vực
công cho khu vực tư nhân, thu gọn lại khu vực kinh tế Nhà nước, buộc các cơ
quan Nhà nước, cán bộ Nhà nước rút lui dần ra khỏi lĩnh vực kinh doanh để tập
trung cho chức năng điều tiết chính sách. Thực tế chứng minh khu vực kinh tế
tư nhân thực sự là động lực cho sự phát triển kinh tế, xóa bỏ ý thức từ lâu rằng
hình thức sở hữu Nhà nước có vị trí độc tôn, Nhà nước phải đóng vai trò đầu
tàu dẫn dắt tăng trưởng. Khi chuyển dịch sang nền kinh tế tư nhân sẽ huy động
vốn của toàn xã hội, bao gồm các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong
nước và ngoài nước. Trong bài viết “ Tái cấu trúc TĐ và DNNN: một góc nhìn
từ thể chế và pháp luật”, tác giả Phạm Duy Nghĩa nhận định ý nghĩa của thoái
vốn: “Dù chưa được tuyên bố chắc chắn, song nếu việc thoái vốn đầu tư ngoài
ngành được hiểu là sẽ nhường vốn lại cho khu vực tư nhân, thì điều đấy có thể
dẫn tới tư nhân hóa, xét về bản chất sở hữu. Nếu mạnh dạn tư duy như vậy,
một Chương trình thoái vốn quy mô lớn cần phải là một trong những nội dung
chìa khóa, bản lề, thực sự phải là trọng tâm của các nỗ lực tái cơ cấu tổng thể
17
nền kinh tế. Vừa thu lại vốn giảm thâm hụt cho ngân sách , tạo ra tiền đề để
Chính phủ thực hiện tái cơ cấu, vừa thu hẹp kinh tế Nhà nước, vừa mở rộng
kinh tế tư nhân, vừa thúc đẩy cạnh tranh và thay đổi chức năng điều tiết của
Nhà nước, với nhiều mục tiêu như vậy, Chương trình thoái vốn quy mô lớn sẽ
thực sự tạo ra những sức ép thay đổi thể chế rất lớn lao”[34].
khoán hoặc đăng ký giao dịch trên sàn giao dịch Upcom, nếu giá cổ phiếu niêm
yết thấp hơn mệnh giá thì:
a) Việc chuyển nhượng cổ phần thực hiện theo phương thức
giao dịch khớp lệnh hoặc thỏa thuận theo quy định của pháp luật về chứng
khoán. Trường hợp thực hiện giao dịch thỏa thuận qua sở giao dịch chứng
khoán hoặc sàn giao dịch Upcom thì giá thỏa thuận phải nằm trong biên độ giá
giao dịch của mã chứng khoán tại ngày chuyển nhượng.
b) Sau khi tổ chức bán theo quy định tại Điểm a Khoản này mà
không bán hết số cổ phần chào bán trong thời gian 03 tháng kể từ ngày đầu tiên
thực hiện giao dịch khớp lệnh hoặc thỏa thuận thì đại diện chủ sở hữu vốn nhà
nước xem xét, quyết định điều chỉnh giảm giá bán tối đa 10% so với bình quân
giá giao dịch thành công của 15 ngày trước ngày xác định giá điều chỉnh để
bán thỏa thuận. Đối với các Công ty TNHH MTV do Nhà nước là chủ sở hữu,
Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Công ty quyết định thực hiện bán thỏa
thuận sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ quản lý ngành, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp Công ty cổ phần mới niêm yết chưa đủ 15 ngày
thì xác định từ thời điểm bắt đầu niêm yết đến ngày xác định giá điều chỉnh.
19