1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
NG TH LAN HNG
ảnh hởng của các chất kích thích tới khả năng ra rễ và sinh trởng
của cây Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius D. Don),
tại Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc
Trờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên
khóa luận tốt nghiệp đại học
H o to
Chuyờn ngnh
Khoa
Khoỏ hc
: Chớnh quy
: Qun lớ ti nguyờn rng
: Lõm nghip
: 2010-2014
Thỏi Nguyờn, nm 2014
2
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
lý thuyết với môi trường xã hội thực tiễn. Mục tiêu của đợt thực tập này nhằm
tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội cọ sát với thực tế, gắn kết những lý
thuyết đã học trên ghế giảng đường với môi trường thực tiễn bên ngoài.
Được sự đồng ý của Khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên tôi đã tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Ảnh hưởng của các
chất kích thích tới khả năng ra rễ và sinh trưởng của cây Thông tre lá dài
(Podocarpus neriifolius D. Don) tại Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp
vùng núi phía Bắc, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Sau thời gian thực tập là tại Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng
núi phía Bắc - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đến nay tôi đã hoàn
thành đề tài này ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự giúp đỡ của các thầy
cô giáo Khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, các cán bộ
nhân viên của Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc trường
đại học Nông Lâm Thái Nguyên và đặc biệt là thầy giáo, Thạc Sỹ La Quang
Độ, Thạc sỹ Nguyễn Văn Mạn đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian
thực tập của mình.
Do mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, mặc dù đã có
nhiều cố gắng nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên không tránh khỏi
những sai sót vì vậy tôi kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các
bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Đặng Thị Lan Hương
4
LỜI CAM ĐOAN
Mẫu bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm cho các công thức giâm hom Thông tre lá dài
với 3 lần nhắc lại .......................................................................................................29
Mẫu bảng 3.2. Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích........................................32
phương sai 1 nhân tố .................................................................................................32
Mẫu bảng 3.3. Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA ................................35
Bảng 4.1: Tỷ mô sẹo của hom cây Thông tre lá dài của các công thức thí nghiệm
theo định kì theo dõi ..................................................................................................37
Bảng 4.2: Tỷ lệ sống của hom cây Thông tre lá dài của các công thức thí nghiệm
theo định kì theo dõi ..................................................................................................38
Bảng 4.3: Bảng tổng hợp kết qua hom sống của hom Thông tre lá dài đợt cuối thí
nghiệm .......................................................................................................................42
Bảng 4.4: Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với tỷ lệ sống của hom Thông tre lá
dài ..............................................................................................................................42
Bảng 4.5: Phân tích sai dị từng cặp xi − xj cho chỉ số ra rễ để tìm công thức trội
cho tỷ lệ sống của hom ..............................................................................................43
Bảng 4.6: Tỷ lệ ra rễ của Thông tre lá dài trong quá trình thí nghiệm .....................45
Bảng 4.8: Bảng tổng hợp kết quả ra rễ của hom Thông tre lá dài đợt cuối thí nghiệm .48
Bảng 4.9: Phân tích phương sai 1 nhân tố đối với chỉ số ra rễ của cây Thông tre lá
dài ..............................................................................................................................48
Bảng 4.10: Phân tích sai dị từng cặp xi − xj cho chỉ số ra rễ để tìm công thức trội cho
tỷ lệ ra rễ của hom ......................................................................................................49
Bảng 4.11: Kết quả về chỉ tiêu ra rễ của thông tre lá dài trong quá trình thí nghiệm.
...................................................................................................................................50
Bảng 4.15: Bảng tỷ lệ sống của cây Thông tre lá dài sau khi chuyển vào bầu ..................54
Bảng 4.16 Kết quả sinh trưởng của Thông tre lá dài ở các công thức thí nghiệm theo
định kì theo dõi..........................................................................................................55
6
2.4.1. Đặc điểm - vị trí địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu ...............................21
2.4.2. Đặc điểm khí hậu, thời tiết...........................................................................22
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...23
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................23
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................23
3.1.2. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ..................................................................23
3.2. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................................23
3.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................23
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu ......................................................................23
3.3.2. Phương pháp thiết kế thí nghiệm .................................................................24
3.3.3. Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi ................................................................24
3.3.4. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu điều tra ...................................25
3.3.5. Phương pháp kế thừa và chọn lọc số liệu ....................................................25
3.4. Các bước tiến hành .........................................................................................25
3.4.1. Công tác ngoại nghiệp .................................................................................25
8
3.4.2. Công tác nội nghiệp .....................................................................................31
PHẦN 4: KẾT QỦA VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ..............................................37
4.1. Kết quả nghiên cứu tỷ lệ ra mô sẹo ở các công thức thí nghiệm ....................37
4.2. Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ hom sống của các công thức thí nghiệm ...........37
4.3. Kết quả tỷ lệ ra rễ của hom Thông tre lá dài ở các công thức thí nghiệm ...............44
4.4. Kết quả về các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Thông tre lá dài ở các công thức thí
nghiệm ...................................................................................................................50
4.4.1.Kết quả về tỷ lệ số rễ trung bình của hom Thông tre lá dài ở các công thức
thí nghiệm ..............................................................................................................52
4.1.2. Kết quả về chiều dài rễ trung bình/hom (cm) của hom cây Thông tre lá dài
ở các công thức thí nghiệm ....................................................................................52
đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam.
Trên thế giới các loài cây lá kim được nhiều nước tập trung nghiên cứu,
ứng dụng giâm hom được phục vụ cho chương trình trồng rừng, dòng vô tính đã
được tuyển chọn và đã thu được những kết quả đáng kể nhất là ở các nước Châu
Âu và ở nước ta cũng thế công tác nghiên cứu và giâm hom một số loài cây phục
vụ cho công tác trồng, cải tạo rừng đang được chú trọng nhiều hơn.
Với mục đích nhằm khôi phục lại quần thể loài cây, trong đó có loài
cây Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius) hiện nay đang bị khai thác
nghiêm trọng và chỉ còn lại một số quần thể rất nhỏ tại một số khu vực nghiên
cứu bằng phương pháp giâm hom.
Phương pháp giâm hom (cutting propagation): Là phương pháp dùng
một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là
cây hom, cây hom có đặc tính di truyền được giữ nguyên từ cây mẹ. Nhân
2
giống bằng hom là phương pháp nhân giống nhanh và có hệ số nhân giống cao
nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả.
Nhân giống bằng phương pháp giâm hom phụ thuộc nhiều yếu tố như:
Xuất xứ, tuổi cây mẹ lấy cành, vị trí lấy cành, tuổi cành, nhiệt độ, độ ẩm, ánh
sáng, chất kích thích ra rễ….trong đó sử dụng chất kích thích trong nhân
giống cũng là việc cần thiết nhằm kích thích sự ra rễ và sự thành công của
công tác nhân giống để bảo tồn nguồn gen quý.
Để thử nghiệm ảnh hưởng của các chất kích thích đến tỷ lệ sống và khả
năng ra rễ của cây Thông tre lá dài tôi sử dụng các chất kích thích ra rễ (NAA,
IBA, IAA) với các nồng độ khác nhau (500 ppm, 750 ppm và 1000 ppm) để
tìm ra loại chất kích thích và nồng độ thích hợp nhất cho công thức giâm hom.
Nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu về ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ
đối với loài cây nghiên cứu tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
chất kích thích và các yếu tố khác trong việc nhân giống bằng phương pháp
giâm hom tại vườn ươm.
Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo tồn
nguồn gen, nhân giống và phát triển loài Thông tre lá dài (Podocarpus
neriifolius), thông qua việc tìm được chất kích thích và nồng độ thích hợp
nhất cho công thức giâm hom từ đó đóng góp vào việc bảo tồn nguồn gen và
đa dạng sinh học thực vật rừng.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về loài cây nghiên cứu
2.1.1. Những nghiên cứu trên Thế giới
Họ Kim giao (Thông tre) có tên khoa học là Podocarpaceae Endl., 1847 là
một họ của ngành thực vật hạt trần (Ngành Thông). Trên thế giới họ này có khoảng
18 - 19 chi với 170 - 200 loài. Chi Thông tre Podocacrpus có khoảng 104 - 107 loài,
phân bố rộng, Thông tre lá dài (Thông tre) là loài cây trong chi này, phân bố ở
Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Fiji, Ấn Độ, Indonesia, Lào, ở Brunei, Malaysia,
Myanma, Nepal, Papua, New Guinea , Philippines, quần đảo Solomon, Thái Lan,
và Việt Nam [21].
Trong lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được sử
dụng trên 100 năm nay. Từ những năm 1840, Marrier de Boisdyver (người
Pháp) đã ghép 10.000 cây Thông Đen. Năm 1883, Velinski A.H công bố
công trình ghiên cứu nhân giống một số loài cây lá kim và lá rộng thường
xanh bằng hom. Ở Pháp năm 1969, Trung tâm lâm nghiệp đới bắt đầu
chương trình nhân giống Bạch đàn. Năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng
cây hom đến năm 1986 có khoảng 24.000 ha rừng trồng bằng hom, các
rừng này đạt tăng trưởng bình quân 35 m3/ha/năm [19].
rừng tăng lên đáng kể, từ đó cây trồng rừng bằng mô hom đã dần dần thay thế
cây trồng rừng bằng hạt ở nhiều nơi trong cả nước.
Chính vì thế việc nghiên cứu nhân giống bằng hom là một việc thiết
thực nhằm góp phần đẩy nhanh sản xuất cây con bằng hom phục vụ cho công
tác trồng rừng.
* Đối với cây Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius)
Theo Phan Văn Thăng (2013) thì chưa có nghiên cứu nào thực hiện thử
nghiệm nhân giống vô tính loài Thông tre lá dài. Hiếm khi thu được hạt của
Thông tre lá dài vì hầu hết các cây mẹ đã bị khai thác kiệt. Chưa thực hiện thử
nghiệm nhân giống loài này ở khu vực nghiên cứu. Hom giâm từ những cây non
có thể đạt tỷ lệ ra rễ 55 - 60% [15].
Trong chi Thông tre (Podocarpus) có một số loài đã được giâm hom
thành công cho việc tạo các cây cảnh với một số ít các loài, đây là cơ sở cho
việc giâm hom cây Thông tre lá dài vì chúng là những cây cùng trong một chi
nên có những đặc tính sinh thái tương đồng:
- Cây Tùng la hán (Podocarpus macrophyllus)
6
Là loài cây được giâm hom trồng làm cảnh rất phổ biết của nhiều nước.
Khi giâm hom với kỹ thuật rất đơn giản và dễ làm. Chọn những cành bánh tẻ,
dài chừng 10 cm, đem cắm vào khay đất mịn đặt nơi râm mát, đặc biệt phải
đảm bảo độ ẩm liên tục. Nếu có thuốc kích thích rễ càng tốt, không có cũng
không sao. Tỷ lệ cành sống có thể đạt 70 - 90%. Kinh nghiệm giâm hom cho
thấy có thể cắm những cành to bằng ngón tay cái mà vẫn sống, miễn là đảm
bảo độ ẩm thường xuyên. Sau khi ươm chừng 3 tháng, nếu thấy phát ra các
búp mới, đó là dấu hiệu cành giâm đã có rễ [25].
- Cây Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri)
Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Lê Thị Huyền Thanh
- Cây Thông đỏ bắc (Taxus chinensis )
Trong Đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm sinh viên, chủ đề tài
Hoàng Thị Linh (2013 - 2014), tiến hành giâm hom cây Thông đỏ bắc. Thí
nghiệm tiến hành nghiên cứu từ 15/04/2013 đến ngày 25/01/2014. Kết quả
thu được chất kích thích ra rễ như NAA, IBA và IAA, đã ảnh hưởng tới khả
năng ra rễ của cây Thông đỏ bắc. Việc thử nghiệm bằng chất kích thích ra rễ
IBA ở nồng độ 750 ppm đã cho thấy ảnh hưởng nhiều rễ hơn, rễ dài hơn, và
chiều cao hơn so với hom thử nghiệm NAA và IAA. Về tỷ lệ ra rễ ở nồng độ
750ppm: α- NAA là: 8,89%, IAA là: 11,11%, IBA là 22,22%. Loại thuốc IBA
có ảnh hưởng trội hơn α- NAA, IAA đến khả năng hình thành cây hom Thông
đỏ bắc. Cả ba chất kích thích đã cho kết quả tốt hơn so với hom không sử
dụng chất kích thích ra rễ [7].
- Cây Thông đỏ nam (Taxus wallichiana)
Kết quả nghiên cứu của KS. Lê Xuân Tùng cho thấy chất kích thích ra rễ
dạng dung dịch: Ngâm gốc hom trong IAA, NAA, IBA 150 ppm, thời gian 4giờ.
Tỷ lệ ra rễ 64,5 - 72,6% so với đối chứng 37,7%. Tuy nhiên, nếu dùng hom từ
cây còn tơ, tỷ lệ ra rễ 90 - 100% so với 72,6% ở cây thành thục. Khi sửa dụng
chất kích thích ra rễ dạng bột: Xử lý hom với IAA, IBA, BTA, NAA nồng độ 1 1,5% (chất mang là than hoạt tính), tỷ lệ ra rễ 85 - 100% (hom từ cây còn tơ), so
với 76,6% ở nồng độ 0,5% và 55% đối chứng. Tỷ lệ thàng công 85 - 90% [20].
- Cây Pơ mu (Fokienia hodgisii)
Trong nghiên cứu của Trần Văn Tiến (2006) cây Pơ mu được giâm
hom thành công ở những cá thể từ 2 - 8 tuổi, bằng cành của cây trưởng thành
hoặc đã qua tạo chồi. Hom ra rễ đạt 80 - 90% khi xử lý bằng NAA 1,5%, với
giá thể bằng cát hay trực liếp trong túi bầu [16].
- Cây Hồng tùng (Dacrydium pierrei)
8
Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến (2005) Hồng tùng còn gọi
9
- Lưu Thế Trung (2013) nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chất điều
hòa sinh trưởng IAA, IBA và NAA với nồng độ từ 0,5%; 1%; 1,5%; 2% ở
dạng bột than đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Thí nghiệm cũng được tiến hành
trên 2 loại giá thể là cát sông rửa sạch và tầng đất mặt. Kết quả nghiên cứu
cho thấy IBA có tác dụng kích thích ra rễ tốt trên giá thể cát trong khi IAA lại
có tác dụng tốt trên giá thể bầu đất. Có sự sai khác khá rõ rệt về ảnh hưởng
của nồng độ IBA trên giá thể cát và IAA trên bầu đất đến tỷ lệ ra rễ của hom
giâm. Hom giâm trong bầu đất thì IAA với nồng độ 0,5% có tỷ lệ ra rễ cao
nhất đạt được là 75% sau 60 ngày, trong khi đó hom giâm trên giá thể cát thì
IBA 1% là chất có tỷ lệ ra rễ cao nhất 40%, sau thời gian là 90 ngày [17]
- Cây Trà hoa vàng Ba Vì (Camelia tonkinensis) và Trà hoa vàng Sơn
Động (C. euphlebia)
Các hoá chất được sử dụng để giâm hom 2 loài Trà hoa vàng Ba Vì (C.
tonkinensis) và Sơn Động (C. euphlebia) là IAA, NAA và IBA với nồng độ sử
dụng là 50, 100, 200ppm, thời gian xử lý là 60 phút. Kết quả cho thấy tất cả các
loại hoá chất đều giúp hom ra rễ thuận lợi. Trà hoa vàng Ba Vì có tỉ lệ ra rễ 30 77,8%; tỷ lệ sống (bao gồm cả cây ra rễ và cây ra mô sẹo) đạt 72 - 97%. Trà hoa
vàng Sơn Động có tỷ lệ ra rễ đạt 61 - 80%, tỷ lệ cây sống (gồm cả cây ra rễ và ra
mô sẹo) đạt 94% - 100%. Hom ngọn (đầu cành), hom dưới ngọn, hom cuối cành
(gần gốc cành) cho kết quả ra rễ và tỉ lệ sống tương tự nhau. Có thể sử dụng cả 3
đoạn hom để nhân giống nhằm nâng cao hệ số, nhân và giâm hom vụ xuân tốt hơn
vụ thu. Kết quả thu được tỷ lệ ra rễ khi sử dụng chất kích thích IAA với nồng độ
từ 50 – 200 ppm dao động từ 27 - 33%, đối với chất kích thích NAA cùng nồng
độ thì tỷ lệ ra rễ dao động trong khoảng 33 - 52%. Riêng đối với chất kích thích
IBA với nồng độ 50 – 200 ppm thì tỷ lệ ra rễ rất cao đạt 55 - 78%. Trong khi đó,
thí nghiệm đối chứng đạt tỷ lệ ra rễ 36% [3]
- Cây Re hương (Cinnamomum parthenoxylon Meisn)
hơn hẳn so với hom chồi ngọn (65 - 75%), trong đó NAA là loại thuốc cho tỷ lệ
ra rễ cao hơn ở cả hai loại hom. Hom chồi gốc đạt tỷ lệ ra rễ cao 90% ngay cả
trong mùa khô và mùa mưa, chất lượng bộ rễ tốt, chứng tỏ với loài thuốc NAA
và hom chồi gốc, cây Hồng quang có thể giâm hom thành công trong bất kỳ thời
gian nào trong năm. Cây hom không thể hiện tính bảo lưu cục bộ (topophysis)
khi hom được lấy từ bất kỳ nơi nào trên tán cây [13].
Lưu Thế Trung (2013) với mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định
loại, nồng độ chất điều hòa sinh trưởng và giá thể tốt nhất cho giâm hom Bạch
đàn grandis. Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng
11
IAA, IBA và NAA với nồng độ từ 0,5%; 1%; 1,5%; 2% ở dạng bột than đến
tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Thí nghiệm cũng được tiến hành trên 2 loại giá thể
là cát sông rửa sạch và tầng đất mặt. Kết quả nghiên cứu cho thấy IBA có tác
dụng kích thích ra rễ tốt trên giá thể cát trong khi IAA lại có tác dụng tốt trên
giá thể bầu đất. Có sự sai khác khá rõ rệt về ảnh hưởng của nồng độ IBA trên
giá thể cát và IAA trên bầu đất đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Hom giâm trong
bầu đất thì IAA với nồng độ 0,5% có tỷ lệ ra rễ cao nhất đạt được là 75% sau
60 ngày, trong khi đó hom giâm trên giá thể cát thì IBA 1% là chất có tỷ lệ ra
rễ cao nhất 40%, sau thời gian là 90 ngày [18].
2.2 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Bảo tồn nguồn gen cây rừng là bảo tồn các đa dạng đi truyền cần thiết
cho các loài cây rừng nhằm phục vụ công tác cải thiện, duy trì giống trước
mắt hoặc lâu dài, tại chỗ hoặc nơi khác. Một trong nhiều phương pháp đang
được sử dụng nhiều hiện nay là phương pháp giâm hom.
Giâm hom là phương pháp nhân giống cây trồng bằng cơ quan sinh
dưỡng. Cơ sở khoa học của phương pháp là sau khi tiến hành giâm hom, dưới
ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào như auxin, cytokinin khi gặp
năng thể hiện như sau: Bất cứ tế bào nào hoặc mô tế bào nào thuộc cơ quan
như rễ, thân, lá đều chứa hệ gen giống như tất cả các tế bào sinh dưỡng khác
trong cơ thể, đều có khả năng sinh sản vô tính để tạo thành cây hoàn chỉnh.
2.2.2. Cơ sở di truyền học
Sinh vật bậc cao được phát triển từ một tế bào hợp tử qua nhiều lần
phân bào liên tiếp cùng với quá trình phân hóa các cơ quan. Đặc trưng của
hình thức phân bào trên là số lượng NST của tế bào khởi đầu và tế bào mới
được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm hay nguyên
phân. Phân bào nguyên nhiễm là quá trình phân chia tế bào mà kết quả từ một
tế bào ban đầu cho ra hai tế bào con có số lượng NST cũng như cấu trúc và
thành phần hóa học của nó giống như tế bào ban đầu. Nhờ có quá trình
nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều, chính xác cho các tế bào
con. Ở kỳ đầu của quá trình nguyên phân, NST tự tái bản trước tiên theo
chiều dọc rồi tách theo chiều ngang, sau đó qua các kỳ tiếp theo NST phân
chia về các tế bào con đảm bảo cho các tế bào con đều có bộ NST như nhau
và giống tế bào ban đầu. Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng cơ thể
tăng lên, sau đó nhờ có quá trình phân hóa các cơ quan trong quá trình phát
triển cá thể mà tạo thành một cây con hoàn chỉnh. Đây là một quá trình đảm
bảo cho cây con duy trì tính trạng của cây mẹ.
13
Hom của các loài cây thân gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành
non của cây (bao gồm cả chồi vượt). Các loại cành giâm thường gặp là cành
non, cành hóa gỗ chủ yếu, cành nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ. Tùy thuộc vào
các yếu tố như đặc tính loài cây, điều kiện thời tiết lúc giâm hom… mà chọn
cành có khả năng ra rễ cao nhất.
2.2.3. Sự hình thành rễ bất định
Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thành rễ bất định
Mô sẹo là khối tế bào nhu mô có mức độ ligin hóa khác nhau. Thông
thường trước khi xuất hiện rễ thấy xuất hiện một lớp mô sẹo nên thường tin
rằng sự xuất hiện của mô sẹo là sự xuất hiện của rễ hom. Nhưng ở nhiều loài
cây, sự xuất hiện của mô sẹo là một dự báo tốt về khả năng ra rễ. Mức độ hóa
gỗ cũng ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom. Hom hóa gỗ nhiều, hay phần gỗ
chiếm nhiều thì khả năng ra rễ kém. Hiện tượng cực tính là hiện tượng phổ
biến trong giâm hom, do vậy khi giâm hom phải đặt cho cho đúng chiều [11].
Rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sát sát vào lõi trong
tâm của mô mạch, ăn sâu vào trong thân cành tới gần ống mạch, sát bên
ngoài. Thời gian hình thành rễ của các loại hom giâm ở các loài cây khác
nhau biến động rất lớn từ vài ngày với các loài dễ hình thành tới vài tháng đối
với các loài khó ra rễ.
2.2.4. Cơ sở sinh lý của sự hình thành rễ bất định
Kết quả của hom giâm được xác định bởi thời gian ngắn và tỷ lệ ra rễ
cao. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụ
thuộc bởi ba yếu tố chính là: Khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn và
vị trí của hom), môi trường giâm hom và các chất kích thích ra rễ. Cơ bản thuộc
2 nhóm nhân tố gồm nhóm nhân tố ngoại sinh và nhóm nhân tố nội sinh.
- Nhân tố ngoại sinh: gồm đặc điểm của di truyền của từng xuất xứ, từng cá
thể cây, tuổi cành, pha phát triển của cành và các chất điều hòa sinh trưởng.
- Nhân tố nội sinh: các loại hóa chất kích thích ra rễ và các nhân tố
ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,…)
* Nhân tố ngoại sinh
Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến ra rễ của hom giâm: Điều kiện
sinh sống của cây mẹ lấy cành, nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom:
Mùa vụ, điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, giá thể giâm hom.
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành: Điều kiện sinh sống của cây mẹ
lấy cành có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, đặc biệt là của cây non.
cho quá trình ra rễ giảm. Vì vậy trong quá trình giâm hom phải che bóng thích
hợp cho từng loài cây khác nhau với độ tàn che khác nhau [10]. Trên thực tế
16
ảnh hưởng của ánh sáng đến sự ra rễ của hom giâm thường mang tính chất tổng
hợp: Ánh sáng - nhiệt - ẩm mà không phải là từng nhân tố riêng lẻ.
Ngoài ra tùy từng loại cây mà mức độ yêu cầu ánh sáng là khác nhau.
Mức độ này còn phụ thuộc vào chất dinh dưỡng có trong hom.
Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng tới quá trình quang hợp, hô hấp và quá
trình vận chuyển chất. Vì thế nhiệt độ không khí là một yếu tố quyết định đến
tốc độ phát triển và hình thành nên rễ của hom. Các loài cây nhiệt đới thường
có yêu cầu cao hơn các loài cây ôn đới. Đối với cây nhiệt đới:
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp: Nhiệt độ tối thấp từ 5 7°C cây bắt đầu quang hợp, nhiệt độ tối ưu mà cây đạt hiệu quả quang hợp tốt
nhất là 25 - 30°C và nếu duy trì nhiệt độ tối cao lâu thì cây sẽ bị chết.
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hô hấp: Nhiệt độ tối thấp từ 10-0°C
cây bắt đầu hô hấp, nhiệt độ tối ưu là 35 - 40°C và nhiệt độ tối cao 45 - 55°C
cây sẽ bị phá hủy.
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vận chuyển các chất
trong cây: Nhiệt độ thấp làm tăng độ nhớt của các sợi protein, cản trở tốc độ
dòng vận chuyển chất và làm giảm hô hấp của mô libe đặc biệt của tế bào
kèm làm thiếu năng lượng cung cấp cho sự vận chuyển; nhiệt độ quá cao làm
cho quá trình thoát hơi nước ở lá diễn ra mạnh đẫn đến mất nước gây ra héo;
nhiệt độ tối ưu 25 - 30°C.
Vì vậy nhiệt độ là nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm. Ở
nhiệt độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, ở nhiệt độ quá
cao tăng cường hô hấp và hom bị hỏng từ đó làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom
giâm. Nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp cho ra rễ là từ 28 33°C và nhiệt độ giá thể thích hợp là 25 - 30°C. Nhiệt độ trên 35°C làm tăng
tỷ lệ héo của cành giâm hom. Nhiệt độ không khí trong nhà trong nhà giâm
có thể là khác nhau. Các giá thể thường được dùng hiện nay là cát tinh, mùn
cưa, xơ dừa, bầu đất hay đất vườn. Khi giâm hom chỉ tạo ra rễ sau đó mới cho
cây vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, cát tinh, xơ dừa băm nhỏ
hoặc đất vườn ươm trộn lẫn với nhau.
Một giá thể giâm hom tốt là một giá thể có độ thoáng khí tốt và duy trì
độ ẩm trong một thời gian dài mà không ứ nước, không bị nhiễm nấm bệnh.