Tài liệu tập huấn thí điểm các mô đun dạy học khoa học theo phương pháp bàn tay nặn bột vận dụng trong mô hình trường học mới - Pdf 35

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
DỰ ÁN MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
TẠI VIỆT NAM

TÀI LIỆU TẬP HUẤN

THÍ ĐIỂM CÁC MÔ-ĐUN DẠY HỌC KHOA HỌC
THEO PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
VẬN DỤNG TRONG MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
Quy Nhơn, tháng 7/2014

Báo cáo viên, thiết kế chương trình:
GS. Elisabeth Plé
GV. Isabelle Vasseur
TS. Trần Thanh Sơn

Biên dịch:
Đoàn Hữu Nhật An


Tài liệu tập huấn PP-BTNB

Quy Nhơn, tháng 7/2014

Trang 2

MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................................................................. 2
CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN ................................................................................................................................ 3

I. ĐẶT VÀO TÌNH HUỐNG TÌM TÒI KHÁM PHÁ ........................................................................................... 62
II. PHÂN TÍCH PHIM ......................................................................................................................................... 62
III. CHUẨN BỊ / THỰC HIỆN TIẾT DẠY........................................................................................................... 63
TIẾN TRÌNH TÌM TÒI KHÁM PHÁ – ĐÀO TẠO GÌ CHO GIÁO VIÊN (Élisabeth Plé) .................................. 64
I. CÂU HỎI CẦN ĐẶT RA TRƯỚC KHI XÂY DỰNG MỘT MÔ-ĐUN ĐÀO TẠO ........................................... 64
II. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC ĐÀO TẠO .............................................................................................................. 64
TIẾN TRÌNH TÌM TÒI NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ HỌC SINH .................................................................. 68
I. CÁC NGUYÊN TẮC DẠY HỌC DỰA TRÊN TIẾN TRÌNH TÌM TÒI NGHIÊN CỨU.................................... 68
II. ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KỲ, ĐÁNH GIÁ HÌNH THÀNH VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢO SÁT ......................................... 68
III. ĐÁNH GIÁ NHỮNG GÌ ? ............................................................................................................................. 69
IV. ĐÁNH GIÁ NHƯ THẾ NÀO ? (HAY THEO NHỮNG PHƯƠNG THỨC NÀO ? .......................................... 70
V. Ở PHÁP, NỀN TẢNG CHUNG VỀ KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG (2006) ....................................................... 70
VI. ĐÁNH GIÁ NHƯ THẾ NÀO ? MỘT SỐ VÍ DỤ............................................................................................ 71
KHOA HỌC VÀ NGÔN NGỮ (Elisabeth Plé và Maryvonne Stallaerts)................................................................ 73
CÁC MỐC ĐỂ TIẾN HÀNH THỰC HIỆN MỘT BÀI DẠY ................................................................................ 79
I. HAI NGUYÊN TẮC CỦA TIẾN TRÌNH TÌM TÒI NGHIÊN CỨU ........................................................................... 79
II. PHÁC THẢO TIẾN TRÌNH MỘT BÀI DẠY .......................................................................................................... 80
III. VỊ THẾ CỦA NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU VÀ CNTT....................................................................................... 81
IV. KHOA HỌC VÀ NGÔN NGỮ TRONG LỚP HỌC ........................................................................................ 84


Tài liệu tập huấn PP-BTNB

Quy Nhơn, tháng 7/2014

Trang 3

CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN
Trong khuôn khổ kế hoạch triển khai phương pháp Bàn tay nặn bột (PPBTNB) vào dạy học các môn khoa học, Tự nhiên & Xã hội, Hội Gặp gỡ Việt Nam và
Quỹ Hỗ trợ Bàn tay nặn bột Cộng hòa Pháp phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo


Quy Nhơn, tháng 7/2014

Trang 4

Mục tiêu :
 Cung cấp bổ sung kiến thức và phương thức đào tạo cho các chuyên viên,
giáo viên cốt cán địa phương đã tham gia các khóa tập huấn cơ bản về PPBTNB do chuyên gia Pháp trực tiếp giảng dạy trước đây.
 Trao đổi các nguồn tư liệu và các phương tiện đào tạo giáo viên.

Báo cáo viên và thiết kế chương trình :
GS. Elisabeth Plé, giáo sư vật lý, tiến sĩ lý luận dạy học các môn khoa học, ủy
viên Hội đồng khoa học của Tổ chức Bàn tay nặn bột Pháp, giảng viên Đại học
Reims Champagne Ardenne, Cộng hòa Pháp.
Cô Isabelle Vasseur, giáo viên-giảng viên, Trung tâm hỗ trợ Bàn tay nặn bột
thành phố Troyes, Cộng hòa Pháp.
TS. Trần Thanh Sơn, giảng viên Khoa Sinh-Kỹ thuật nông nghiệp ĐH Quy
Nhơn, đại diện Chương trình phát triển phương pháp BTNB của Tổ chức Khoa
học Gặp gỡ Việt Nam.


Tài liệu tập huấn PP-BTNB

Quy Nhơn, tháng 7/2014

Trang 5

CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN ĐỢT 1
Từ ngày 24 – 28/7/2014
Thứ năm 24/7/2014

chương trình của Pháp sang tiếng Việt (thực hiện vào buổi chiều).
 nhóm A thảo luận về bài "Bóng"
 và nhóm B về bài "Hỗn hợp và dung dịch"
Giải lao
Đề cử giáo viên đứng lớp dạy nội dung đã chọn.


Tài liệu tập huấn PP-BTNB

Quy Nhơn, tháng 7/2014

Trang 6

Thống kê các chủ đề cần phát triển theo tiến trình tìm tòi khám phá trong
chương trình Việt Nam
Dự giờ 2 tiết dạy của mỗi mô-đun A và B (mỗi nhóm 10 học sinh).
Thảo luận và trao đổi.
Chia làm 4 nhóm làm việc trên 4 chủ đề mới.
 Kiến thức cần xây dựng với học sinh ;
 Biên soạn giờ dạy đầu tiên của chủ đề;
 Các phương thức tìm tòi khám phá cần áp dụng trong mỗi giờ học;
 Vị trí và vai trò của công cụ ngôn ngữ.
Thứ bảy 26/7/2014 (Chủ nhật 27/7/2014 nghỉ)
Kế hoạch trong năm
Vai trò và chức năng của các sinh viên hỗ trợ.
Các nguồn tư liệu cần phát triển.
Thể loại các giờ học cần áp dụng trong năm.
Lên kế hoạch các hoạt động và các khung thời gian.
Hội thảo : "Tiến trình tìm tòi khám phá : những nguồn tư liệu nào cho giáo
viên ?" (Elisabeth Plé)




Suy nghĩ về những lợi ích mà tiến trình mang lại cho cá nhân



Chuyển tiến trình này vào áp dụng ở lớp học

Trao đổi giữa 2 nhóm.
Kết thúc lúc 17h00.
Thứ tư 30/7/2014
Dự 2 giờ dạy do các giáo viên Trung tâm thực nghiệm BTNB Quy Nhơn
thực hiện
Dự 2 giờ dạy thiết kế từ các mô-đun đề xuất áp dụng PP-BTNB
 Nhóm A : học sinh lớp 1-2, học bài "Bóng"
 Nhóm B : học sinh 4-5, học bài "Hỗn hợp và dung dịch".
Giải lao
Phân tích giờ dạy.
Phát triển các diễn đàn giới thiệu các công trình của học sinh (Video)
Tham gia diễn đàn "Các thí nghiệm để học hỏi".


Tài liệu tập huấn PP-BTNB

Quy Nhơn, tháng 7/2014

Trang 8

Diễn đàn được thực hiện với sự hỗ trợ của các sinh viên Đại học Quy Nhơn,

Là phương pháp dạy học tích cực, học sinh
là trung tâm của quá trình Dạy-Học:
Dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính học
sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được
đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành
thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay
điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho
mình.
Đứng trước một sự vật hiện tượng, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả
thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực nghiệm nghiên cứu để
kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh,
phân tích, tổng hợp kiến thức.


Tài liệu tập huấn PP-BTNB

Quy Nhơn, tháng 7/2014

Trang 10

2. Mục tiêu của phương pháp Bàn tay nặn bột
Đổi mới giáo dục và phương pháp dạy học: Chuyển từ dạy học kiến thức sang
dạy học phát triển năng lực .
Dạy cho học sinh phương pháp học và khám phá kiến thức để từ đó chủ
động chiếm lĩnh tri thức, tự tin, sáng tạo giải quyết các vấn đề đặt ra trong
cuộc sống trong tương lai. Đào tạo nên những công dân năng động, sáng tạo
phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Góp phần hình thành cho học sinh một thế giới quan khoa học và niềm say
mê nghiên cứu khoa học, sáng tạo.
II. PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT Ở VIỆT NAM

III. TRUNG TÂM QUỐC GIA THỰC NGHIỆM VÀ HỖ TRỢ PP-BTNB
1. Mục tiêu thành lập Trung tâm
Hỗ trợ, giúp đỡ giáo viên thực hiện dạy học theo phương pháp BTNB ở
trường phổ thông (tư vấn sư phạm, chuyên môn khoa học).
Cung cấp nguồn tư liệu hỗ trợ dạy học cho giáo viên (tài liệu, đồ dùng dạy
học, tư vấn và hướng dẫn tự làm đồ dùng dạy học).
Nghiên cứu, thực nghiệm các mô-đun dạy học theo phương pháp BTNB.
Tổ chức sinh hoạt chuyên môn định kỳ, tập huấn, hội thảo cho giáo viên,
chuyên viên.
Cầu nối hợp tác nghiên cứu, trao đổi chuyên môn giữa trường Đại học, CĐ
(cơ sở đào tạo giáo viên) và trường phổ thông; giữa Việt Nam và quốc tế
(Pháp và các nước áp dụng phương pháp BTNB).
2. Chức năng chính
Giúp đỡ giáo viên về mặt sư phạm để giảng dạy theo phương pháp BTNB.


Tài liệu tập huấn PP-BTNB

Quy Nhơn, tháng 7/2014

3. Một số yêu cầu tối thiểu

4. Nhu cầu, đề nghị tham gia

Trang 13


Tài liệu tập huấn PP-BTNB

Quy Nhơn, tháng 7/2014


Trang 16

ÁP DỤNG TIẾN TRÌNH TÌM TÒI KHÁM PHÁ TRONG LỚP HỌC
VÀ LỢI ÍCH ĐỐI VỚI HỌC SINH (Élisabeth Plé)
I. CÁC NGUYÊN TẮC CỦA PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
Nghiên cứu các đồ vật của thế giới thực tế, gần gũi với học sinh, và học sinh
cảm nhận được.
Khoa học cũng như các hoạt động khám phá.
Chính học sinh là người thực hiện các thí nghiệm thực hành, chứ các thí
nghiệm đó không được làm sẵn cho các em.
Giáo viên giúp học sinh xây dựng nên kiến thức của riêng các em.
Thực hiện trong khoảng thời gian dài, liên tục.
Học sinh có một cuốn vở thực hành của riêng mình với các từ ngữ của riêng
các em.
Chú trọng đến :
 Đặt câu hỏi
 Tự chủ
 Kinh nghiệm
 Cùng nhau xây dựng kiến thức
Không phải là những nội dung để học thuộc lòng !
II. VÌ SAO PHẢI GIẢNG DẠY KHOA HỌC ?
Để phát triển vốn kiến thức của học sinh :
 HS tự xây dựng kiến thức cho mình.
 Tiến trình tìm tòi nghiên cứu (Giả thuyết / Kiểm tra giả thuyết).
 Giúp học sinh có cách nhìn khoa học đối với những sự vật, hiện tượng.
Để phát triển khả năng ngôn ngữ của học sinh :
 Thông qua viết và nói : ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ chính xác.
 Thông qua giải thích.
 Thông qua vở thí nghiệm.

Để dẫn dắt học sinh vào tiết học với PP-BTNB, giáo viên cần đưa ra những tình
huống khởi phát kích thích học sinh tham gia vào tiến trình tìm tòi khám phá. Các
dạng tình huống có thể được sử dụng :
Một thí nghiệm khởi phát;
Một sự kiện;
Một đoạn phim tài liệu;
Một sự tranh luận;
Các sản phẩm khác nhau của học sinh;
Một hoạt động khám phá đầy hứng thú và phù hợp với học sinh.
Từ các tình huống khởi phát, học sinh ngạc nhiên trước sự mâu thuẫn, sai khác
giữa những khái niệm sẵn có trong đầu và thực tế. Từ đó kích thích học sinh nêu lên
vấn đề theo hai dạng :
Làm thế nào ?
Vì sao ?

3. Hai lý luận khoa học đối với vấn đề
Từ những nghiên cứu của mình, hai nhà khoa học DEWEY và BACHELARD
có hai cách nhìn nhận khác nhau nhưng bổ sung cho nhau đối với vấn đề.
DEWEY : vấn đề ở trước mỗi người.
BACHELARD : học sinh giải thích thế giới bằng những trở ngại trong đầu và
bị rơi vào vấn đề.
DEWEY

BACHELARD

 Giải quyết một vấn đề thực tiễn.

 Vượt qua một trở ngại mà học
sinh không xác định từ trước


từ khóa cần nhớ : mắc lỗi, thử làm, tôn trọng người khác.
Tổ chức lớp học theo phương thức của một cộng đồng các nhà nghiên cứu. Các
từ khóa : thảo luận, lắng nghe, đối thoại, hợp tác.
Biến những thực tế hằng ngày thành những câu đố cần giải đáp bằng cách xem
xét lại những giải thích ban đầu của học sinh để thay thế bằng khái niệm có
khả năng chứng thực. Các từ khóa : vấn đề, lập luận, giải thích.


Tài liệu tập huấn PP-BTNB

Quy Nhơn, tháng 7/2014

Trang 20

VÍ DỤ THỰC TẾ : MỘT CHỦ ĐỀ DẠY Ở LỚP MẦM NON
GIEO HẠT MÙA XUÂN (Isabelle Vasseur)
Ở Cộng hòa Pháp, phương pháp BTNB đã được chính thức đưa vào áp dụng từ
năm học 2002-2003 với một chương trình giảng dạy tiểu học mới. Các chủ đề "Khám
phá thế giới" (áp dụng ở lớp mẫu giáo lớn và khối 1-2 trường tiểu học) và "Khoa học
và công nghệ" (áp dụng cho khối 3-4-5) được biên soạn gắn bó chặt chẽ với những yêu
cầu của kế hoạch đổi mới.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hướng dẫn các hoạt động tìm tòi khám phá khoa
học ở trường mầm non và tiểu học ? Theo chương trình mới được biên soạn này, công
việc thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu có thể rất đơn giản, các kiến thức vận dụng là gần
gũi dễ hiểu. Giáo viên có thể kích thích và chia sẻ niềm vui và tính tò mò của học sinh,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc khám phá có suy luận về thế giới xung quanh mà học
sinh có thể diễn tả thành lời, thành hình ảnh và lập luận. Thế giới khoa học, nơi các nhà
khoa học làm công việc khám phá và các kỹ sư sáng tạo ra các đồ vật hay các sản phẩm,
thật sự là nằm trong tầm tay của các giáo viên đa năng ở trường mầm non, tiểu học và của
các học sinh.

quen làm vườn và để hiểu hơn về môi trường sống.
II. CHỦ ĐỀ : GIEO HẠT MÙA XUÂN
Đối tượng : học sinh lớp mẫu giáo lớn (chưa biết đọc, biết viết; các em chỉ biết viết và nhận
ra tên của mình mà thôi).
Cô giáo thông báo: Mùa xuân đã đến. Vì mùa xuân là mùa trồng cây nên các em sẽ
gieo hạt để khám phá những loại cây mà chim thích ăn.
Chuẩn bị :
Học sinh được yêu cầu mang đến tất cả các loại hạt các em tìm được xung quanh em.
Kết quả: các em mang đến rất nhiều loại hạt, từ những hạt tìm thấy trong vườn, đến những
hạt giống thu hoạch từ mùa thu năm trước và có cả một gói hạt làm thức ăn cho chim vào
mùa đông.

Gói hạt này đặt ra vấn đề. Các em vẫn biết rằng đây là loại hạt mà chim rất thích ăn,
nhưng các em cũng háo hức muốn biết hạt mọc lên loại cây gì. Vì thế, các em lên kế hoạch
gieo các hạt từ gói này.
Trước khi tiến hành, học sinh trao đổi về những kinh nghiệm làm vườn mà các em
từng biết khi cùng làm với bố mẹ hay hàng xóm. Vì biết rằng chim thích ăn loại hạt này nên
các em đã chọn phương án lấp hạt dưới đất để chim khỏi ăn.
Tuy nhiên, khi bắt đầu đào đất để lấp hạt, các em lại gặp một vấn đề mới nảy sinh. Vì
tiết trời đang xuân, đất ẩm ướt nên có rất nhiều giun đất. Điều này gây bất an cho học sinh
và làm nảy sinh sự bất đồng ý kiến trong học sinh. Các em tự nêu câu hỏi.


Tài liệu tập huấn PP-BTNB

Quy Nhơn, tháng 7/2014

Trang 22

Câu hỏi 1 : Liệu giun đất có ăn những hạt mà chúng ta gieo không ?

Dường như giun đất không ảnh hưởng đến sự nảy mầm của cây.
Giải thích kết quả: Giun đất đã không ăn hạt.
Học sinh giải thích kết quả thí nghiệm nhưng vẫn không thay đổi ý kiến.

Vậy là học sinh tự đặt lại vấn đề chọn loại hạt để thí nghiệm. Lần này, các em
đề xuất làm lại thí nghiệm với các hạt nhỏ hơn.
Thí nghiệm 2 : gieo hạt xà-lách
32 chậu đất giống nhau, được tưới nước


Tài liệu tập huấn PP-BTNB

Quy Nhơn, tháng 7/2014

Trang 24

Mỗi chậu : 4 hạt đậu, 3 con giun đất
Các chậu này được đặt ở góc lớp. Hằng ngày, học sinh dành ít phút để quan sát
và tưới nước vào chậu.

Kết quả (10 ngày sau, học sinh tự phát biểu từ những gì quan sát được):
"Có 4 chậu không nảy mầm".
Lần này, đã có sự điều chỉnh, thay đổi ý kiến trong học sinh. Những học sinh
trước đây cho rằng giun đất không ăn hạt nay đều chuyển tên mình sang cột có
ăn hạt (bằng cách dùng bút khác màu để vẽ mũi tên chuyển sang cột tên cạnh.
Chỉ có 1 em học sinh vẫn duy trì ý kiến rằng giun đất không ăn hạt.

Giải thích kết quả: (học sinh tập trung chú ý đến 4 chậu không nảy mầm)
Giun đất đã ăn hạt bởi vì không có gì mọc lên trong bốn chậu.
Đó là điều không thể bởi vì giun đất chỉ ăn đất và ăn vỏ rau củ quả.


Hạt có thể cần nhiều thời gian hơn để nảy mầm.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status