Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật đông lạnh tinh dịch ngựa và ứng dụng trong thụ tinh nhân tạo tại trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi - Pdf 35

Đại học thái nguyên
Trờng Đại học nông lâm

Vũ Đình Ngoan

Bớc đầu nghiên cứu kỹ thuật đông lạnh tinh dịch ngựa
và ứng dụng trong thụ tinh nhân tạo tại Trung tâm
nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi

Chuyên ngành : Chăn nuôi
M số

:

60.62.40

Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp

Ngời hớng dẫn:
1. TS Đào Đức Thà
2. PGS.TS Trần Văn Tờng

Thái Nguyên 2007


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ cho
việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu trình bày trong
luận văn này được ghi rừ nguồn gốc trong phần phụ lục.
Tác giả


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

Trang

1. Đặt vấn đề

1

2. Mục đích của đề tài

2
CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

3

1.1.1. Nguồn gốc ngựa

3

1.1.2. Một số phương thức chăn nuôi ngựa hiện nay

3

1.1.3. Sinh lý sinh sản ngựa đực


1.1.8. Giao phối và thụ thai ở ngựa

23

1.2. Cơ sở khoa học kỹ thuật đông lạnh tinh dịch ngựa
1.2.1. Một số nguyên lý cơ bản về đông lạnh tinh dịch ngựa

24
26

1.2.1.1. Hiện tượng đông băng chất lỏng

26

1.2.1.2. Ảnh hưởng của đông băng lên tế bào tinh trùng

27

1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sức sống tinh trùng trong đông lạnh

29

1.2.3. Môi trường pha loãng, bảo tồn tinh dịch ngựa

31

1.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về thụ tinh nhân tạo và đông lạnh tinh



45

2.2.2. Thời gian nghiên cứu

45

2.3. Nội dung nghiên cứu

45

2.4. Phương pháp nghiên cứu

45

2.4.1. Khai thác tinh dịch ngựa

45

2.4.2. Đánh giá tinh dịch ngựa

45

2.4.2.1. Đánh giá tinh dịch ngựa bằng phương pháp thường quy

45

2.4.2.2. Đánh giá tinh dịch bằng phần mềm Sperm Vision 3.0

49

57

3.3. Một số đặc điểm sinh học tinh dịch ngựa

58

3.3.1. Hình thái tinh trùng ngựa

58

3.3.2. Các chỉ tiêu sinh học tinh dịch ngựa

58

3.4. Kết quả đông lạnh tinh dịch ngựa

63

3.4.1. Chất lượng tinh trùng trước và sau ly tâm

63

3.4.2. Chất lượng tinh trùng trước và sau đông lạnh

66

3.5. Kết quả theo dõi vận tốc và chiều dài chuyển động tinh trùng ngựa

71



Bảng 1.2 Thành phần các chất có trong tinh thanh ngựa

14

Bảng 1.3 Độ tuổi ngựa ảnh hưởng đến thể tích tinh dịch và nồng độ tinh trùng

20

Bảng 1.4 Một số môi trường rửa tinh dịch ngựa đã được các tác giả sử dụng 37
Bảng 1.5 Một số môi trường đông lạnh tinh dịch ngựa đã được sử dụng

38

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kỹ thuật đực giống đưa vào khai thác tinh

42

Bảng 2.2 Danh mục hoá chất dùng trong thí nghiệm

43

Bảng 2.3 Danh mục dụng cụ, thiết bị dùng trong thí nghiệm

44

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kỹ thuật âm đạo giả của ngựa

52



68

Bảng 3.11 Hoạt lực tinh trùng ngựa ở các dung dịch giải đông và tốc độ 70
giải đông khác nhau
Bảng 3.12 Vận tốc tinh trùng ở các giai đoạn nghiên cứu

71

Bảng 3.13 Chiều dài chuyển động tinh trùng ở các giai đoạn nghiên cứu

72

Bảng 3.14 Kết quả theo dõi động dục ở ngựa cái

74

Bảng3.15 Kết quả phối giống thử nghiệm TTNT cho ngựa bằng tinh đông viên 75


Danh môc c¸c biÓu ®å trong luËn v¨n

Biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

Biểu đồ 3.1 Thể tích dịch ngựa ở 2 thời vụ khác nhau


TTNT

:

Thụ tinh nhân tạo

V

:

Thể tích tinh dịch

A

:

Hoạt lực tinh trùng

C

:

Nồng độ tinh trùng

R

:

Sức kháng của tinh trùng


ĐVT

:

Đơn vị tính


MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO ĐỀ TÀI

Số TT

Tên ảnh

1

: Đàn ngựa giống gốc Trung tâm

2

: Ngựa đực Kabadin

3

: Ngựa đực lai 25% máu Kabadin

4

: Chuẩn bị âm đạo giả

5


13

: Nhỏ viên tinh dịch ngựa trên tấm mica ở nhiệt độ -960C đến -1000C

14

: Dẫn tinh cho ngựa cái tại Trung tâm

15

: Máy đo áp suất thẩm thấu

16

: Hệ thống Sperm Vision

17

: Bảo quản tinh đông viên trong bình nitơ

18

: Nhóm tác giả nghiên cứu

P

P

P

đông lạnh tinh dịch ngựa phục vụ cho thụ tinh nhân tạo hoặc lưu giữ bảo tồn
quỹ gen cũng như thương mại hoá các sản phẩm tinh dịch ngựa.
Ở Việt Nam, nghiên cứu đông lạnh tinh dịch ngựa là việc làm hoàn
toàn mới và độc đáo, vì từ trước tới nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về
vấn đề này. Do vậy những kết quả nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản trong chăn
nuôi ngựa trong đó có lĩnh vực đông lạnh tinh dịch ngựa là một việc làm cần
thiết và là một nhu cầu của thực tế sản xuất hiện nay.
Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: ''Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật
đông lạnh tinh dịch ngựa và ứng dụng trong thụ tinh nhân tạo tại Trung
tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi''


2

2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá một số chỉ tiêu sinh học và nghiên cứu lựa chọn môi trường
đông lạnh tối ưu cho tinh dịch ngựa.
- Nghiên cứu đông lạnh tinh dịch ngựa dạng viên đạt tiêu chuẩn phối
giống (hoạt lực tinh trùng sau giải đông đạt tỷ lệ ≥ 30%)
- Thử nghiệm phối giống thụ tinh nhân tạo cho ngựa cái bằng tinh đông
lạnh dạng viên.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Nguồn gốc của ngựa
Ngựa có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:

: Equus caballus

Tên

: Caballus
(Trích Đặng Đình Hanh, 2002) [6]

1.1.2. Một số phương thức chăn nuôi ngựa hiện nay
Ngựa được chăn nuôi rộng khắp ở các vùng địa lý, kinh tế với tập quán
hướng sử dụng khác nhau đã tạo nên những phương thức chăn nuôi khác nhau.
Phương thức chăn nuôi bầy đàn: Ngựa được chăn nuôi với số lượng
vừa phải trong các hộ gia đình hay trong các nông trang trại với mục đích
kết hợp làm việc và sinh sản. Phương thức này đã tồn tại từ lâu đời đối với
những dân du mục ở các vùng thảo nguyên hoặc những vùng chăn nuôi chưa
phát triển. Với phương thức này ngựa đực và ngựa cái được nuôi chung đàn,
phối giống tự do, ít có sự tác động của con người. Ở nước ta phương thức
chăn nuôi này đã tồn tại ở một số địa phương: Bắc Kạn, Lào Cai, Cao Bằng,
Hà Giang….Ngựa được quản lý trong hộ gia đình trong vụ trồng trọt từ tháng
11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Những ngày thả rông cũng là mùa sinh
sản, ngựa đực và ngựa cái phối giống tự do. Phương thức chăn nuôi này cho
năng suất rất thấp gây hậu quả cận huyết, dẫn đến khả năng sinh trưởng kém.


4

Phương thức chăn nuôi bán chăn thả: Phương thức chăn nuôi này được
áp dụng với những người chăn nuôi có định hướng, có mục đích. Người chăn
nuôi có chọn giống, có tác động khoa học kỹ thuật và tuyển ngựa theo mục
đích riêng. Theo Heriquez (1980) [30], phương thức này có hai hình thức
chăn nuôi đó là:

quả của sự tăng tiết hoạt động gonadotropin và khả năng đảm đương của các
tuyến sinh dục trong hoạt động sinh sản, đồng thời là sự sản sinh steroid và
sản sinh giao tử. Với các loài, giống gia súc khác nhau, thời gian xuất hiện
tính thành thục cũng khác nhau. Thành thục về tính sớm hơn thành thục về
thể về thể vóc. Ở ngựa đực có thời gian thành thục về tính ở khoảng 12 - 20
tháng tuổi (Nguyễn Xuân Tịnh, 1996) [15].
Thành thục về tính phụ thuộc vào: Giống gia súc, chế độ dinh dưỡng,
giới tính và thời tiết khí hậu. Ở con đực, thành thục về tính là khi dịch hoàn
và các tuyến sinh dục phụ đã phát triển tương đối hoàn thiện, có khả năng sản
xuất tinh dịch và xuất tinh. Ngựa đực thành thục về tính vào khoảng thời gian
18 - 24 tháng tuổi, khi đó khối lượng cơ thể chiếm 60 - 70% khối lượng cơ
thể lúc trưởng thành (Lê Viết Ly, 1999) [8].
1.1.3.2. Cấu tạo bộ máy sinh dục ngựa đực
* Dịch hoàn (Testis): Dịch hoàn là những cơ quan đôi, sẵn có chức năng
kép: Sản sinh giao tử đực (tinh trùng) và sản sinh nội tiết tố (hormon sinh dục
testosteron). Khối lượng dịch hoàn ngựa đực thường bằng 0,34% khối lượng
cơ thể. Khả năng sản xuất tinh trùng/1 ngày đêm của 2 dịch hoàn ngựa là 5,3
tỷ tinh trùng (với ngựa có khối lượng 1000kg và dịch hoàn là 340g), (Nguyễn
Tấn Anh, 2003) [2].
Ở ngựa, dịch hoàn trong thời kỳ bào thai nằm trong xoang bụng, đến
tháng thứ 7 thì chui qua ống bẹn vào trong bao dịch hoàn. Thời kỳ ngoài bào
thai, dịch hoàn nằm ở giữa, 2 bên là bẹn (Phạm Thị Xuân Vân, 2001) [18].
Dịch hoàn sa xuống qua vòng bẹn, vào trong bao dịch hoàn. Trước khi
hình thành việc sa xuống, dây chằng mào dịch hoàn dãn ra nhiều, sau khi sa
xuống xong, dây chằng mào dịch hoàn thoái hoá. Cả hai quá trình được xem
là quan trọng trong cơ chế sa xuống của dịch hoàn. Đôi khi dịch hoàn không


6



7

ngày, đó là dòng chảy của chất dịch màng lưới, do hoạt động của biểu mô có
nhung mao của các ống dãn ra và do sự co rút của thành cơ của ống dịch hoàn
phụ. Sự thành thục của tinh trùng xảy ra trong quá trình đi qua dịch hoàn phụ.
Đặc biệt trong dịch hoàn phụ có đủ các điều kiện để tinh trùng sống, phát
triển thành thục và có thể giữ được năng lực thụ tinh trong vài tuần lễ, đó là :
- pH yếu dao động 6,2 - 6,8: Kìm hãm sự vận động của tinh trùng .
- Yếm khí, thiếu oxy. Nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt 3 - 40C, tinh trùng ít
P

P

vận động và giảm tiêu hao năng lượng.
- Dịnh hoàn phụ hấp thu một số muối khoáng giữ cho ASTT không
thay đổi.
- Các vách của phụ dịch hoàn có nhiều mạch quản và lâm ba quản là
nguồn cung cấp năng lượng cho tinh trùng.
- Đuôi tinh trùng tiết ra lipoproteit bao lấy tinh trùng làm cho tinh trùng
mang điện âm. Giữa các tinh trùng có lực đẩy tĩnh điện do mang điện cùng
dấu làm cho tinh trùng không ngưng kết thành khối.
Các ion kim loại Fe++, Pb++ hoặc axit sẽ làm cho tinh trùng mất điện
P

P

P

P


- Dịch tiết tuyến này còn có hormon Prostaglandin dạng PGF2α (PGF2α
B

B

B

khi vào đường sinh dục gia súc cái có tác dụng làm tăng co bóp cơ trơn tử
B

cung và sẽ làm tăng tốc độ vận động của tinh trùng tiến nhanh vào ống dẫn
trứng để thụ tinh. Ứng dụng trong sản xuất khi pha chế tinh dịch nếu bổ sung
một lượng thích hợp Prostaglandin sẽ nâng cao được tỷ lệ thụ thai.
Tuyến tiểu nang/tinh nang (Glandula vesiculares) của ngựa là những
tiểu nang thực sự gồm những túi tuyến hình quả lê, tuyến có thể chứa đầy 130
- 150ml dịch (Nguyễn Tấn Anh, 2003) [2]. Tuyến nằm trong xoang chậu, trên
bàng quang và ống dẫn tinh. Chất tiết của tuyến này không trộn với tinh trùng
mà là dịch keo phèn (mầu trắng hoặc mầu vàng) có chứa γ globulin. Dịch keo
phèn này gặp chất tiết của tuyến tiền liệt thì ngưng đọng lại thành nút bịt kín
âm đạo ngăn không cho tinh dịch trào ngược ra ngoài sau khi giao phối. Mặt
khác, do có nhiều γ globulin nên có tác dụng ngăn không cho vi khuẩn xâm
nhập từ ngoài vào đường sinh dục con cái. Dịch tiết này có fructoz và glucoza
là nguồn năng lượng cung cấp dinh dưỡng cho tinh trùng hoạt động, có enzim
chuyển hóa glucoza thành fructoz. Ngoài ra tinh nang còn có một số chất tiết
khác như axit citric, axit amin, lipit, natri, kali…. tăng cường dinh dưỡng và
hoạt lực cho tinh trùng.
Tuyến niệu quản (Littre-Urethral): Tuyến này ở ngựa được xem như
một phần phân tán của tuyến tiền liệt, nằm rải rác và khó phân biệt.
* Dương vật và bao dương vật.

8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18

Thành phần
Protein
Glucose
Lipit
Fructoz
Sorbitol
Inositol
Axit citric
Lactic
Ergothioneine
Potassium
Sodium
Photpho
Lưu huỳnh
Clo
Kali
Canxi
Chloride

(* theo Minovanov. Trích Nguyễn Xuân Tịnh, 1996) [15]
(** theo Mann, 1964; Lake, 1971; Serban, 1982….Trích Davies Morel, 1999) [28]


10

* Tinh trùng.
Tinh trùng là loại tế bào đặc biệt, thích ứng với chức năng vận chuyển,
đưa bộ gen đơn bội của con đực từ bên ngoài vào trong trứng để rồi kết hợp
với bộ gen đơn bội của con cái tạo thành hợ tử.
Sự hình thành: Tinh trùng là giao tử đực được hình thành từ ống sinh
tinh trong dịch hoàn. Tinh trùng được tạo ra từ các tế bào sinh dục nguyên
thủy trong lòng các ống sinh tinh. Vào một thời điểm cùng với sự thành thục
về tính, tế bào sinh dục nguyên thủy tăng lên qua hai lần phân chia, lần phân
chia thứ nhất thành tinh bào sơ cấp rồi thành tinh bào thứ cấp có nhiễm sắc
thể đơn bội. Tinh bào thứ cấp tồn tại không lâu rồi phân chia thành hai tiền
tinh trùng và hoàn thiện dần thành tinh trùng. Khi đã hình thành, tinh trùng
chuyển dần từ dịch hoàn đến dịch hoàn phụ. Trong dịch hoàn phụ, tinh trùng
tồn tại trong môi trường axit nên khả năng hoạt động bị ức chế. Khi tinh
trùng di chuyển trong dịch hoàn phụ, tinh trùng được bao phủ bởi một lớp
lipoproteit để nâng cao khả năng ổn định cho tinh trùng, lớp này có điện tích
âm giúp cho tinh trùng không bị dính tụ nhau.
Hình thái: Tinh trùng ngựa có đầu nhọn, hơn dầy. Tổng chiều dài tinh
trùng 55,0 - 63,6µm, trong đó dài đầu 6,0 - 8,1µm, rộng đầu 3,3 - 4,6µm, dài
thân 8 - 10µm, đường kính thân 0,5µm, dài đuôi 30 - 43µm, đường kính đuôi
0,4µm, (Hiroshi Masuda, 1992) [31].
Cấu tạo: Tinh trùng gồm 3 phần cơ bản (đầu, thân và đuôi)
Phần đầu: Đầu tinh trùng gồm 2 phần chính. Đó là nhân và thể chóp
acrsome. Nhân tinh trùng chiếm 65% toàn bộ thể tích của đầu và là kho duy
nhất chứa toàn bộ thông tin di truyền của con đực từ đời trước truyền sang đời

dịch nhằm nâng cao tỷ lệ thụ thai của tinh trùng.
Người ta cho rằng acrsome là một lisosome (tiêu thể hay thể tiêu
bào) đặc biệt, bên trong có chứa các enzim thuỷ phân (acrosine, hyaluronidaza,
photphatase axit, esteras, các hydrolase axit) có liên quan đến quá trình xâm
nhập của tinh trùng qua màng trứng vào bên trong để thụ tinh.
Phần cổ: Cổ tinh trùng rất ngắn, khớp cổ lỏng lẻo dễ đứt, khi tinh trùng
lọt được vào vùng noãn hoàn của trứng thì cổ tách ra khỏi đầu. Tại cổ tập
trung nhiều ty thể (mitocondrias) cung cấp năng lượng cho đuôi hoạt động, ty
thể có cấu tạo 50% protit, 30% lipit tích luỹ lượng lớn ATP nhằm cung cấp
năng lượng cho tinh trùng hoạt động nhưng lại giảm rất nhanh khi nhiệt độ
bảo tồn cao. Trong nguyên sinh chất phần cổ còn chứa một lượng đáng kể là
lipoit. Những năm trước 1856 người ta cho rằng đó là lactine (chất "chống
lạnh" cho tinh trùng ). Sau đó 1952 Bowguth đã chỉ ra rằng đã không phải là


12

lectine mà là plasmalogen (đây là một photpholipit chứa một phân tử axit béo,
một aldehyt của axit béo và một glyxerylphotphoryl-coline khi kết hợp với
một loạt các chất khác cho ra hợp chất có chứa năng lượng cung cấp cho quá
trình hô hấp của tinh trùng chứ không có tác dụng chống lạnh). Do đó, trong
quy trình đông lạnh tinh dịch nhất thiết phải có chất chống lạnh trong môi
trường bảo tồn.
Phần đuôi: Gồm 9 đôi vi ống ngoài xếp đồng tâm bao quanh 2 sợi dọc
ở trung tâm. Cấu tạo này làm tinh trùng có khả năng vận động, di chuyển
trong môi trường tinh dịch và trong đường sinh dục cái. Đuôi có chứa nhiều
lipit. (Nguyễn Tấn Anh, 1996) [1].
* Quá trình trao đổi chất.
Quá trình trao đổi chất của tinh trùng tạo ra năng lượng không được
tinh trùng sử dụng trực tiếp mà được dự trữ dưới dạng ATP (adenozin

fructoz, enzim tham gia là hexokinaza và photphataza để giải phóng năng
lượng dưới dạng ATP và axit lactic.
Fructoz

axit lactic + CO2 + Q (27,7 kcal)
B

B

Như vậy quá trình hô hấp yếm khí của tinh trùng là quá trình đường
phân. Năng lượng thu được trong quá trình này cho mỗi tinh trùng là tương
đối ít, sản phẩm axit lactic trong tinh dịch với nồng độ thấp thì kéo dài thời
gian sống của tinh trùng, còn ở nồng độ cao gây chết tinh trùng hàng loạt.
Axit lactic lại phân ly rất lớn (gấp 2,8 lần axit axetic và 20 lần axit cacbonic).
Do đó [H+] tăng lên gây ức chế quá trình đường phân, đồng thời đầu độc tinh
P

P

trùng. Do vậy môi trường pha loãng cần thiết phải có năng lực đệm.
Quá trình đường phân chỉ xảy ra khi có đường. Trong môi trường dịch
hoàn phụ và ống dẫn tinh hầu như không có đường, thiếu oxy, nhiệt độ thấp hơn
thân nhiệt 3 - 40C nên ở đó tinh trùng ở trạng thái bất động và ''sống lâu''. Khi ra
P

P

ngoài cơ thể, tinh trùng nhận được đường từ chất phân tiết của tuyến tinh nang,
đường nhanh chóng thấm qua màng của tinh trùng nên quá trình đường phân xảy
ra. Khi thiếu fructoz tinh trùng có thể sử dụng glucoza của máu đưa tới vì trong

B

Môi trường đường sinh dục con cái, đặc biệt trong giai đoạn động dục
và rụng trứng có đủ điều kiện thuận lợi cho tinh trùng hô hấp hiếu khí: Giầu
oxy (do kết quả tăng sinh mà mở rộng lòng đường sinh dục), giầu glucoza (do
dãn mạch máu tử cung âm đạo - máu đến nhiều).
Giai đoạn đầu của quá trình hô hấp hiếu khí xảy ra như quá trình
đường phân, ở giai đoạn sau axit puryvic được hoạt hoá và đi vào chu trình


14

Krebs để cuối cùng cho ra CO2, H2O và thu được một lượng khá lớn năng
B

B

B

B

lượng dù trữ dưới dạng ATP. Từ một phân tử đường đơn sau khi hoạt hoá có
thể thu được 38 ATP. Quá trình hô hấp tăng lên bởi nhiệt độ, cứ tăng lên 100C
P

P

thì hô hấp tăng lên 2 - 2,5 lần. Do đó để bảo tồn tinh dịch phải chọn được
nhiệt độ phù hợp và ngăn chặn việc tinh trùng tiếp xúc với oxy để giảm đến
mức thấp nhất quá trình hô hấp hiếu khí xảy ra.

Sorbitol

mg/100ml

20 - 60

3

Axit xitric

mg/100ml

8 - 53

4

Inositol

mg/100ml

19 - 47

5

Ergothionein

mg/100ml

3,5 - 13,7


6,5

10

Magnesium

mMol/lit

3,8

( Trích Hoàng Văn Tiến, 1995) [14]


15

1.1.4. Cấu tạo và kích thước âm đạo giả ngựa
Theo Milovanov 1962: Nguyên lý cấu tạo của âm đạo giả là tập hợp tất
cả các điều kiện tự nhiên phù hợp như ở trong đường sinh dục con cái ở thời
điểm giao phối và cho phép thu nhận một cách nhanh chóng toàn bộ lượng
tinh mà không bị nhiễm bẩn (trích Nguyễn Tấn Anh., 1996) [1]. Âm đạo giả
của các loài gia súc có kích thước khác nhau. Âm đạo giả của ngựa có đặc
điểm cấu tạo và kích thước như sau:
- Áo bao âm đạo giả làm bằng da hoặc tôn, dài bằng thân âm đạo giả.
- Âm đạo giả bao gồm:
Thân âm đạo giả: Cao su mềm trung tính
Ruột âm đạo giả: Cao su mềm trung tính
Bơm áp lực
Phễu hứng tinh
Bình chứa tinh: Nhựa mầu trung tính
Phần chứa nước ấm trong thân âm đạo

thể…đồng thời còn phụ thuộc vào kỹ thuật khai thác tinh, tần xuất lấy tinh và
mùa vụ lấy tinh. Lượng xuất tinh của ngựa dao động 50 - 120ml/lần, trung
bình 75ml (Đặng Đình Hanh, 2002) [6]. Trong tinh dịch ngựa có chứa một
lượng khá lớn hạt thể selatin, chiếm tỷ lệ 20 - 30% lượng tinh dịch, chúng là
sản phẩm của tuyến Cowper, dịch tiết ra của tuyến này có bản chất
anbumonoit đặc quánh, trong suốt. Khi xuất tinh, những hạt thể gặp men
vegikinaza của tuyến tinh nang rồi đọng lại thành những tinh thể lớn hơn. Sau
đó các thể này hấp phụ nước và tăng lên về thể tích, người ta gọi đó là keo
phèn (Trần Tiến Dũng, 2002) [4].
Theo các tác giả: Dowett và Pattie (1982), Pickett (1988), Rickett (1993),
Fayver Hosken và Caudle (1989), lượng tinh ngựa của một lần khai thác vào
khoảng 100ml, trong đó tinh dịch 60 - 80ml, keo phèn 20 - 40ml. Theo Pickett
1998, chỉ tiêu tinh dịch của mỗi lần khai thác phụ thuộc vào giống, độ tuổi, lao
tác và thời gian gây kích dục (trích Davies Morel, 1999) [28].
Trong giao phối tự nhiên, keo phèn có tác dụng bịt lỗ tử cung, không
cho tinh dịch chảy ra ngoài. Trong thụ tinh nhân tạo cần phải loại bỏ keo phèn
trước khi xử lý đưa vào đông lạnh. Vào mùa giao phối trong tinh dịch ngựa có
lượng selatin lớn hơn mùa không giao phối. Do đó, khi xác định thể tích tinh
dịch cần phải loại bỏ keo phèn bằng cách lọc qua nhiều lớp vải gạc.
* Hoạt lực tinh trùng A (%)
Hoạt lực là sức sống, sức vận động tinh trùng trong tinh dịch. Nó là chỉ
tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tinh dịch, biểu thị khả năng thụ thai
của tinh trùng. Tuy nhiên, chỉ những tinh trùng tiến thẳng mới có khả năng
thụ thai. Do đó, hoạt lực tinh trùng là tỷ lệ phần trăm số tinh trùng có trong
tinh dịch có khả năng vận động theo phương thức tiến thẳng.
Tinh trùng vận động theo 3 phương thức:


17



đến năng lực đệm, sức sống và năng lực thụ tinh của tinh trùng. Độ pH tinh
dịch toan tính thì tinh trùng hoạt động yếu, thời gian sống tinh trùng được kéo



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status