TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC Mối quan hệ biện chứng cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng và mối quan hệ kinh tế - chính trị ở Việt Nam trong thời kì đổi mới - Pdf 35

LỜI MỞ ĐẦU
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là lý luận nền tảng của chủ nghĩa
duy vật lịch sử. Nhờ có lí luận này mà các hiện tượng xã hội được nhận thức
một cách khoa học. Thông qua việc phân tích các mối quan hệ cơ bản trong
mỗi hình thái kinh tế - xã hội mà Mác đã tìm ra quy luật vận động của lịch sử
loài người, và trên cơ sở đó, khẳng định sự phát triển của các hình thái kinh
tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên.
Trong các mối quan hệ đa dạng và phức tạp của mỗi hình thái kinh tế xã hội, Mác không những đã chỉ ra quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, mà ông còn đặc biệt
chú ý phân tích mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Sự
tác động qua lại giữa hai nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận động
của mỗi hình thái kinh tế - xã hội.
Trong quá trình phát triển của bất kì chế độ xã hội nào từ xưa đến nay,
mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũng đóng một vai
trò vô cùng quan trọng. Đây là một trong những nội dung cơ bản của học
thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là cơ sở thế
giới quan và phương pháp luận trong nhận thức và cải tạo xã hội. Chính vì
vậy nên việc nghiên cứu tìm hiểu và giải quyết mối quan hệ này là rất cần
thiết, nó giúp chúng ta tìm hiểu và xác định những định hướng đúng đắn để
khắc phục những mâu thuẫn nội tại trong xã hội nhằm duy trì và củng cố sự
ổn định của chế độ xã hội hiện thời. Đây là vấn đề quan trọng đối với tất cả
mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi chế độ chính trị trên toàn thế giới. Việt Nam
cũng không là một ngoại lệ, trong công cuộc đổi mới ở đất nước ta hiện nay,
chúng ta cần nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng, từ đó dựa trên cơ sở điều kiện thực tiễn của nước ta nhằm
mục đích vận dụng và quán triệt mối quan hệ này vào việc định hướng phát
triển nền kinh tế kết hợp với củng cố hệ thống chính trị, đổi mới một cách
toàn diện và triệt để sâu sắc, tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
Trong khuôn khổ nhỏ của tập tiểu luận này em xin trình bày một cách
ngắn gọn về Mối quan hệ biện chứng cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng

trở lại cơ sở hạ tầng
5
CHƯƠNG II: GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ
LÀ VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
7
2.1.Xây dựng kiến trúc thượng tầng chính trị phù hợp với cơ sở hạ tầng là
yêu cầu cấp bách của công cuộc đổi mới ở Việt Nam
7
2.2.Vai trò định hướng của nhà nước trong thời kì quá độ xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam
10
CHƯƠNG III: VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH
TRỊ Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THỜI KÌ ĐỔI MỚI ĐÃ ĐẠT
ĐƯỢC NHIỀU THÀNH TỰU KHẢ QUAN, TUY NHIÊN VẪN CÒN MỘT SỐ
THIẾU SÓT TỒN TẠI. KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
12
3.1.Thực trạng nền kinh tế trước khi tiến hành đổi mới - Những bước tiền đề
cho việc đổi mới
12
3.2.Tình hình Việt Nam trong những năm đầu thời kì đổi mới
14
3.2.1.Những thành tựu về kinh tế - chính trị đã đạt được
14
3.2.2.Những thiếu sót còn tồn tại
18
3.3.Các giải pháp và phương hướng đề nghị
20
LỜI KẾT

23

ứng.
1.1.2.Kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp
quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật,… cùng với những thiết chế xã
hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội,…
được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định.
Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật
vận động và phát triển riêng, nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại
lẫn nhau và đều hình thành trên cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, mỗi yếu tố khác
nhau có quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạ tầng. Có những yếu tố như
chính trị, pháp luật có quan hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng; còn những yếu tố
như triết học, tôn giáo, nghệ thuật chỉ quan hệ gián tiếp với cơ sở hạ tầng.
Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp. Đó
chính là cuộc đấu tranh về mặt chính trị - tư tưởng của các giai cấp đối
kháng, trong đó đặc trưng là sự thống trị về mặt chính trị - tư tưởng của giai
cấp thống trị.
Trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp, nhà nước có vai trò
đặc biệt quan trọng. Nó tiêu biểu cho chế độ chính trị của một xã hội nhất
định. Nhờ có nhà nước, giai cấp thống trị mới thực hiện được sự thống trị của
mình về tất cả các mặt của đời sống xã hội.
1.2.Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng
1.2.1.Cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt của đời sống xã hội,
chúng thống nhất biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò
quyết định đối với kiến trúc thượng tầng.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
trước hết thể hiện ở chỗ: Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc
thượng tầng tương ứng với nó, do đó tính chất của kiến trúc thượng tầng là
5

tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng, nhưng đó không đơn thuần là sự phù hợp
giản đơn, máy móc. Toàn bộ kiến trúc thượng tầng, cũng như các yếu tố cấu
thành nó đều có tính độc lập tương đối trong quá trình vận động và phát triển,
đồng thời tác động một cách mạnh mẽ, sâu sắc đến cơ sở hạ tầng.
Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều có tác động đến
cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, mỗi yếu tố khác nhau đóng một vai trò khác nhau,
có cách thức tác động khác nhau đến cơ sở hạ tầng. Trong xã hội có giai
cấp, nhà nước là yếu tố có tác động mạnh nhất đối với cơ sở hạ tầng vì đó là
bộ máy bạo lực tập trung của giai cấp thống trị về kinh tế. Bằng hệ thống
pháp luật và chính sách kinh tế, nhà nước có tác động trực tiếp đến sự phát
triển của nền kinh tế, củng cố vững chắc quan hệ sản xuất thống trị . Các yếu
tố khác của kiến trúc thượng tầng như đạo đức, triết học, tôn giáo, nghệ
thuật,… cũng đều tác động mạnh mẽ đến cơ sở hạ tầng dưới những hình
thức khác nhau, nhưng sự tác động này phải thông qua sự chi phối, điều tiết
của nhà nước, pháp luật và các thiết chế tương ứng thì mới phát huy được
hiệu lực.
Trong mỗi chế độ xã hội, sự tác động của các bộ phận của kiến trúc
thượng tầng đẽn cơ sở hạ tầng không phải bao giờ cũng theo một xu hướng
nhất định. Chức năng xã hội cơ bản của kiến trúc thượng tầng thống trị là xây
dựng, bảo vệ và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó, chống lại mọi nguy cơ
làm suy yếu hoặc phá hoại chế độ kinh tế đó. Một giai cấp chỉ có thể giữ vững

6


được sự thống trị về kinh tế chừng nào xác lập và củng cố được sự thống trị
về chính trị, tư tưởng.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra
theo hai chiều hướng khác nhau. Xét về chiều hướng tích cực, nếu kiến trúc
thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó là



CHƯƠNG II: GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH
TRỊ LÀ VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở
VIỆT NAM
2.1. Xây dựng kiến trúc thượng tầng chính trị phù hợp với cơ sở hạ tầng
là yêu cầu cấp bách của công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Việt Nam đã phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa trên 40 năm nay ở
miền Bắc và hơn 20 năm trong cả nước. Sự nghiệp xây dựng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam cũng đã thu được những thành tựu quan trọng. Đất nước
trải qua gần 100 năm bị đô hộ và bị hai cuộc chiến tranh khốc liệt tàn phá nay
đã được hồi sinh. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước
đây đã tạo ra những điều kiện vật chất và tinh thần cho công cuộc giải phóng
miền Nam thống nhất đất nước. Nước Việt Nam sau biết bao vất vả và hy
sinh, biết bao sự tìm kiếm, thể nghiệm đã xác định được các bước đi của
mình và có vị trí nhất định trên trường quốc tế.
Hơn mười năm đổi mới đã đem lại những kết quả không nhỏ. Đất
nước đã thoát khỏi khủng hoảng và đã có những tiền đề về vật chất và tinh
thần để có thể tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ đầy thử thách và khó khăn. Trong điều
kiện thế giới có những diễn biến phức tạp, sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện
đại hóa chỉ có thể được hoàn thành khi giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn
đang nảy sinh, trong đó có mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng chính trị.
Trước thời kì đổi mới, ở nước ta tồn tại chủ yếu là quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa với hai hình thức cơ bản là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Các loại hình kinh tế khác vẫn tồn tại, nhất là ở miền Nam, nhưng vai trò của
chúng dần bị thu hẹp.
Từ khi đổi mới, nước ta phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần. Những hình thức kinh tế mới nảy sinh làm xuất hiện các loại hình quan

xem nhẹ.
Sự lãnh đạo của Đảng chưa được tăng cường đúng mức. Có nơi vẫn
còn tình trạng Đảng bao biện làm thay, có nơi vai trò lãnh đạo của Đảng lại
mờ nhạt.
Ý thức chính trị giảm sút do sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị
trường. Đã có những biểu hiện thiếu niềm tin vào sự phát triển đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Ý chí phấn đấu cho lí tưởng cộng sản chủ
nghĩa của một số đảng viên, của công nhân, thanh niên,… giảm sút.
Chính từ mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng chính
trị mà những kẻ thù của chủ nghĩa Mác đã lợi dụng ngay cả những luận điểm
cơ bản của chủ nghĩa Mác để chống chủ nghĩa Mác.
Có một số người cho rằng, thực chất của mâu thuẫn giữa cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng chính trị là mâu thuẫn giữa cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần với nhất nguyên chính trị. Mục đích của lập luận này không phải
là đòi hỏi thu hẹp kinh tế để giữ vững chính trị mà đòi hỏi phải đa nguyên
chính trị để phá vỡ hệ thống chính trị và xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Dù
là do nhận thức hay do ý đồ chính trị, lập luận này hoàn toàn sai trái và phải
được bác bỏ dứt khoát.
Cũng có người cho rằng, sự tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn tới sự phân
hóa giàu - nghèo. Sự phân hóa giàu - nghèo sẽ mâu thuẫn với việc thực hiện
công bằng xã hội. Như vậy, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội không
thể đi liền được với nhau. Lập luận này đã đi đến khẳng định rằng, kinh tế thị
trường và chủ nghĩa xã hội không phải là một. Muốn có chủ nghĩa xã hội thì
phải bỏ kinh tế thị trường, và ngược lại, muốn có kinh tế thị trường phải bỏ
chủ nghĩa xã hội. Dựa vào cách lập luận đó, người ta muốn bỏ chủ nghĩa xã
hội để giữ lại nền kinh tế thị trường theo kiểu tư bản chủ nghĩa. Thực chất
của tư tưởng này là muốn xóa bỏ vai trò định hướng chính trị cho quá trình
phát triển kinh tế, xóa bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa của cách mạng Việt Nam.
Đó là thứ lập luận vừa bảo thủ, vừa phản động.
Còn có nhiều cách lập luận khác nhau nhưng mọi lập luận chống chủ

đồng thời tác động tích cực trở lại cơ sở hạ tầng. Điều đó sẽ làm cho cơ sở
hạ tầng phát triển đúng hướng, mạnh mẽ, đất nước sẽ từng bước đi lên theo
hướng xã hội chủ nghĩa một cách vững chắc.
Xu hướng thứ hai là kiến trúc thượng tầng biến đổi quá chậm so với
cơ sở hạ tầng làm cho cơ sở hạ tầng bị cản trở, phát triển khó khăn. Sự
nghiệp phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ chậm chạp, qua nhiều
quanh co, phức tạp.
Xu hướng thứ ba là kiến trúc thượng tầng chính trị chệch hướng. Các
nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh bị vi
phạm. Nhiều cán bộ bị thoái hóa biến chất. Chiến lược diễn biến hòa bình
của thế lực thù địch giành ưu thế. Định hướng xã hội chủ nghĩa mờ nhạt dần
và cuối cùng bị chuyển hóa.
Tất cả những khả năng nêu trên đây đều là những khả năng hiện thực.
Kinh nghiệm ở Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã cho ta
thấy rõ điều này.
Hoạt động của con người không thể loại bỏ được những khả năng
khách quan. Nhưng những hoạt động này có tính năng động, tác động trở lại
những khả năng đó, tạo ra những điều kiện cho các khả năng tích cực, tiến
bộ trở thành hiện thực và tìm cách ngăn chặn rút bỏ các điều kiện để các khả
năng tiêu cực, lạc hậu không trở thành hiện thực.
Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải tìm mọi cách để đổi mới kiến trúc
thượng tầng chính trị, làm cho nó phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, làm cho chính trị vừa phản ánh được nhu cầu
phát triển của kinh tế vừa định hướng được cho sự phát triển kinh tế.
Ăngghen chỉ rõ: “Sau khi bạo lực chính trị đã trở thành độc lập đối với xã hội,
sau khi đã từ đầy tớ mà trở thành người chủ rồi, thì nó có thể tác động theo
hai chiều hướng. Hoặc nó tác động theo ý nghĩa và chiều hướng của sự phát
triển kinh tế có tính chất quy luật. Như thế thì giữa bạo lực chính trị và sự
phát triển kinh tế không có một sự xung đột nào và sự phát triển kinh tế được
đẩy nhanh hơn. Hoặc nó chống lại sự phát triển kinh tế, và khi đó trừ một vài

Đất nước ta đang phấn đấu vì mục tiêu xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”. Để đạt
được mục tiêu chính trị đó cần phải có một quá trình phấn đấu nỗ lực phi
thường của toàn Đảng, của Nhà nước, và của toàn dân. Trong đó, Nhà nước
đóng vai trò vô cùng quan trọng, góp phần lãnh đạo, tổ chức và quản lí xã hội
theo định hướng và mục tiêu chính trị mà Đảng đã đề ra.
Trong hai cuộc trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mĩ đầy gian lao khó khăn, Nhà nước dân chủ nhân dân đã thể hiện vai
trò tác dụng vô cùng to lớn của mình, lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi
hai cuộc chiến tranh, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc, đồng thởi bước đầu
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc gặt hái được nhiều kết quả đáng khích
lệ.
Sau chiến thắng mùa Xuân 1975, cả nước ta bước vào thời kì xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tổ chức lãnh
đạo toàn dân tộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu thu được sau
khi cả nước thống nhất đó là: tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam,
đưa nông dân vào con đường làm ăn hợp tác, xây dựng quốc phòng vững
mạnh, đánh bại cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, giữ vững toàn vẹn
chủ quyền dân tộc, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Song, thiếu sót lớn nhất đó là, tư tưởng chủ quan duy ý chí, muốn có
ngay chủ nghĩa xã hội. Về kinh tế, Nhà nước ta đã đẩy quan hệ sản xuất đi
quá xa so với lực lượng sản xuất dẫn đến vi phạm quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Hậu quả là sản xuất
bị trì trệ, người lao động không chú ý đến nhà máy và hợp tác xã của họ.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó, suy cho cùng là do quá đề cao
lợi ích xã hội và tập thể còn lợi ích cá nhân người lao động bị coi nhẹ.
Về mặt xã hội, do chủ quan duy ý chí nên Nhà nước còn duy trì cơ chế
quan liêu bao cấp quá lâu. Đất nước đã hòa bình, nhưng phương thức hoạt
động của Nhà nước chưa vận động theo quy luật của hòa bình xây dựng. Một
lí do không kém phần quan trọng là đội ngũ cán bộ phần đông trưởng thành

là chủ yếu thì những hình thức trung gian quá độ là rất cần thiết, và thường
có tác dụng cực kì quan trọng. Vì vậy, Lênin viết: “Chúng ta phải hiểu những
đường lối, thể thức, thủ đoạn và phương sách trung gian cần thiết để chuyển
từ những quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội. Đó là mấu chốt
của vấn đề”. Đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định rằng: “Phải coi trọng
những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ lên
quy mô lớn”.
Từ điểm xuất phát thấp đi lên chủ nghĩa xã hội, đất nước ta trải qua
một xã hội quá độ, mang trong mình nó cả những yếu tố của một xã hội tiền
tư bản, tư bản và các yếu tố định hướng xã hội chủ nghĩa. Các yếu tố đó đan
xen vào nhau cùng phát triển. Để định hướng được mục tiêu xã hội chủ nghĩa
thì vai trò to lớn quyết định đó là sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lí của
Nhà nước và cơ chế làm chủ của nhân dân phải được thực hiện. Vai trò quản
lí điều hành của Nhà nước là quan trọng, có tính chất quyết định đối với nền
kinh tế -xã hội. Tính chất trung gian quá độ được thể hiện trước hết và rõ nét
nhất trong lĩnh vực kinh tế. Danh từ “quá độ” áp dụng vào kinh tế, theo Lênin
có nghĩa là: “trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận,
những mảnh chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội”.
Nhận thức và áp dụng vào thực tiễn Việt Nam, Đảng ta đã đưa ra
đường lối chung cho cách mạng Việt Nam là phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, hoạt động trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa có sự quản lí, điều tiết của Nhà nước.

CHƯƠNG III: VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ
CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THỜI KÌ ĐỔI
12


MỚI ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC NHIỀU THÀNH TỰU KHẢ QUAN, TUY NHIÊN
VẪN CÒN MỘT SỐ THIẾU SÓT TỒN TẠI. KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI

Sản xuất phát triển chậm, không tương xứng với sức lao động và vốn
đầu tư bỏ ra. Sản xuất không đủ tiêu dùng, làm không đủ ăn, nền sản xuất
trong nước không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của dân cư, phải
dựa vào nguồn viện trợ bên ngoài ngày càng lớn. Trong 10 năm 1976-1985,
thu nhập quốc dân sản xuất trong nước chỉ bằng 80-90% thu nhập quốc dân
sử dụng. Toàn bộ quỹ tích lũy (rất nhỏ bé) và một phần quỹ tiêu dùng phải
dựa vào nguồn nước ngoài (trong 10 năm riêng lương thực đã phải nhập 5,6
triệu tấn). Năm 1985, nợ nước ngoài lên tới 8,5 tỉ rúp-USD. Cái hố ngăn cách
giữa nhu cầu và năng lực sản xuất ngày càng sâu.
Phân phối lưu thông bị rối ren, thị trường tài chính - tiền tệ không ổn
định. Ngân sách Nhà nước bị bội chi liên tục và ngày càng lớn. Mặc dù nguồn
thu từ viện trợ và nước ngoài không nhỏ, nhưng ngân sách vẫn trong tình
trạng thiếu hụt và phải bù đắp bằng phát hành. Bội chi ngân sách năm 1980
là 18,1%, năm 1985 là 36,6%, dẫn đến bội chi tiền mặt. Trong nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung bao cấp ở miền Bắc trước năm 1975, giá cả ổn định và
không có khái niệm về lạm phát ngay cả trong những năm chiến tranh.
Nhưng ngay từ năm 1976, trên phạm vi cả nước, lạm phát đã xuất hiện và
13


ngày càng nghiêm trọng, giá cả tăng nhanh, đặc biệt là sau đổi tiền (tháng
9/1985), làm vô hiệu hóa ngay tác dụng của đổi tiền và làm rối loạn điều hành
kinh tế của Nhà nước trên bình diện vĩ mô và hạch toán kinh tế của các
doanh nghiệp. Giá cả leo thang từng ngày, điều đặc biệt là không chỉ tăng ở
thị trường tự do mà còn tăng rất nhanh ở thị trường có tổ chức. Nếu lấy chỉ
số giá cả năm 1975 là 1 lần thì năm 1980 là 2,5 lần và năm 1985 là 38,5 lần.
Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn, nhất là đối với cán bộ công
nhân viên, lực lượng vũ trang và một bộ phận nông dân. Tiền lương thực tế
bình quân hàng tháng của cán bộ công nhân viên chức so với năm 1975 thì
năm 1980 chỉ bằng 51,1%; năm 1984 chỉ bằng 32,7%. Do đó, tiêu cực và bất

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đại hội đánh dấu cho thời kì
đổi mới toàn diện ở nước ta, đến nay, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã tổ chức điều hành, quản lí nền kinh tế xã hội vượt qua khó khăn,
đạt được nhiều thành tựu mới cả về kinh tế lẫn chính trị - xã hội.
Về kinh tế, sau gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế
nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong suốt thời kì đổi mới từ năm 1986 đến nay nền kinh tế Việt Nam
liên tục tăng trưởng, đặc biệt tốc độ tăng trưởng nhanh và liên tục ở mức cao
trong suốt thời gian từ 1986-1997, các ngành công nghiệp và xây dựng cơ
bản có mức tăng trưởng từ 6,08-7% một năm; các ngành dịch vụ có mức

14


tăng trưởng mạnh nhất, từ trên 10% đến 14,5% một năm. Trong kế hoạch 5
năm 1991-1995, lần đầu tiên ta đã hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu chủ
yếu của kế hoạch này. Tất cả các mục tiêu kinh tế - xã hội của kế hoạch 5
năm 1996-2000 và chiến lược 10 năm 1991-2000 đều đạt và vượt kế hoạch;
GDP trong 10 năm này tăng bình quân hàng năm 7,56%, nhờ vậy GDP năm
2000 đã gấp 2,07 lần năm 1990 (vượt so với mục tiêu tăng 2 lần mà Đại hội
VII của Đảng đã đề ra trong “chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
1991-2000”). Riêng hai năm 1998-1999, nền kinh tế tăng trưởng có phần
chậm lại do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực
và thiên tai lũ lụt liên tiếp xảy ra trong nhiều vùng của đất nước. Nhưng năm
2000-2002 tốc độ tăng trưởng lại tăng lên đạt 6,7-7%. Chúng ta đã ngăn chặn
được đà giảm sút tốc độ tăng trưởng kinh tế xuất hiện từ mấy năm trước.
Bắt đầu có sự tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Vốn đầu tư cơ bản toàn xã
hội năm 1990 chiếm 15,8% GDP, năm 1995 là 27,4% (trong đó nguồn đầu tư
trong nước chiếm 16,7% GDP). Đến cuối năm 1995, tổng vốn đăng kí của
các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt trên 19 tỉ USD đã được thực

đầy đủ công suất. Quan trọng hơn là do có sự đổi mới cơ chế chính sách
quản lí của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước được giải phóng, có quyền tự
chủ sản xuất, kinh doanh, từng bước xóa bỏ bao cấp, buộc các doanh nghiệp
nhà nước phải tham gia cạnh tranh trên thị trường; Các thành phần kinh tế

15


ngoài quốc doanh, trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
cùng được phát triển…
Thời kì này ta đã hoàn thành một số công trình lớn: thủy điện Hòa
Bình, Trị An, Yaly, đường dây 500KV Bắc - Nam, nhiệt điện Phả Lại, Phú Mỹ,
… Sản lượng điện đã tăng từ 5,7 tỉ Kwh năm 1986 lên 26,6 tỉ Kwh năm 2000.
Nhờ đó, lưới điện quốc gia đã phủ tới 98% số huyện, 70% số xã, 98% số hộ
thành thị, 60% số hộ nông thôn.
Hoạt động thương mại và dịch vụ có nhiều khởi sắc. Cơ chế cung cấp
theo tem phiếu và thu mua theo nghĩa vụ bị bãi bỏ, thay vào đó là tự do lưu
thông, thống nhất một giá. Thị trường đầy ắp hàng hóa và dịch vụ, giá cả ổn
định, chất lượng ngày càng cao, phương thức mua bán thuận tiện.
Cơ cấu kinh tế cũng đã có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Về cơ
cấu ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng khu vực I (gồm nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản) tuy vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao liên tục,
nhưng tỉ trọng đã giảm xuống, trong khi đó tỉ trọng của khu vực II (gồm công
nghiệp và xây dựng cơ bản) và khu vực III (gồm các ngành dịch vụ) đã tăng
lên. Cơ cấu các thành phần kinh tế cũng đã có sự chuyển dịch theo hướng
đa dạng hóa các thành phần kinh tế, nhưng vẫn lấy kinh tế quốc doanh làm
chủ đạo. Các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp tổ chức lại theo hướng
tinh giảm về số lượng, tăng cường về chất lượng; tổ chức giải thể, giao,
khoán, bán các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả và các doanh nghiệp
có quy mô nhỏ, thành lập các tổng công ty lớn trên nhiều lĩnh vực then chốt,



xuống còn 1,135 tỉ USD năm 2001. Ta có một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực
như dầu thô, than đá, gạo, dệt may, giày dép, thủy sản, cao su, cà phê với số
lượng lớn và chất lượng ngày càng tăng. Sản xuất hàng hóa hướng về xuất
khẩu là một hướng đi mới làm cho các ngành sản xuất thoát ra khỏi tình trạng
tự cấp tự túc, tăng dần tích lũy.
Hoạt động đầu tư nước ngoài cũng được đẩy mạnh với những chính
sách khuyến khích đầu tư nhằm thu hút nguồn vốn nước ngoài (FDI), làm
tăng ngân sách và giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn lao động. Năm
2000, cả nước cấp phép 3.209 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn
đăng kí 39,4 tỉ USD, vốn thực hiện khoảng 18,9 tỉ USD, chiếm 30% tổng số
vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, nộp vào ngân sách hơn 1,52 tỉ USD(khoảng
20% thu ngân sách), tạo hơn 21,6 tỉ USD hàng hóa xuất nhập khẩu và giải
quyết việc làm cho 32 vạn lao động trực tiếp và hơn 1 triệu lao động gián tiếp.
Ngoài ra còn có nguồn vốn tài trợ quốc tế ODA cam kết lên tới 17,5 tỉ USD và
1,2 tỉ USD hỗ trợ cải cách kinh tế. Nguồn vốn nước ngoài, trong đó có vốn
đầu tư trực tiếp đã đi kèm với công nghệ tiên tiến, đã góp phần đáng kể vào
sự phát triển kinh tế nước ta trong thời kì đổi mới.
Về đời sống xã hội, tuy còn nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân đã được cải thiện một bước rõ rệt.
Thu nhập của dân cư tăng bình quân 10% một năm, GDP bình quân đầu
người hiện nay đạt trên 400USD/năm. Số hộ có thu nhập trung bình và số hộ
giàu tăng lên, đến nay số hộ giàu đã đạt trên 10%. Số hộ nghèo giảm từ 55%
năm 1989 xuống còn 11,4% vào năm 2000. Những hộ có thu nhập tương đối
cao, đã có tích lũy, xây dựng được nhà kiên cố, mua sắm những đồ dùng lâu
bền và đắt tiền. Trung bình mỗi năm giải quyết việc làm cho hơn một triệu lao
động. Nhiều công trình cơ sở hạ tầng và đường giao thông được nâng cấp và
xây dựng mới ở cả nông thôn và thành thị.
Cùng với đời sống vật chất, đời sống tinh thần của nhân dân cũng

huy động thêm vốn đóng góp của nhân dân theo phương thức “Nhà nước và
nhân dân cùng làm” đạt kết quả tốt, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm, phát triển sản xuất nông
nghiệp, cải thiện một bước đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân, nhất
là các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa, tạo tiền đề để thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Nếu chỉ tính riêng những vùng
khó khăn, vùng núi trong những năm 1995-1996, GDP tăng trưởng trên 10%.
Vùng Tây Nguyên có mức tăng trưởng khá, GDP bình quân hàng năm của
Lâm Đồng tăng 13,5%, Kon Tum tăng 9,2%, Đắc Lắc tăng 7,7%, Gia Lai tăng
6,8%. Nhiều vùng trước đây sản xuất mang tính tự nhiên, du canh, du cư nay
đã được ổn định với kinh tế đồi rừng, vườn rừng,… Đã hình thành một số
vùng sản xuất hàng hóa tập trung, nhiều tỉnh đã giải quyết tốt vấn đề lương
thực trên quan điểm sản xuất hàng hóa tập trung thâm canh vào từng vùng,
những cây trồng có điều kiện mang lại kết quả kinh tế lớn như vùng chuyên
canh cây quế, cây hồi, cà phê, cao su, chè, vải thiều,… Đã góp phần giải
quyết việc làm cho hàng vạn lao động và giúp cho hàng vạn hộ thoát khỏi
nghèo đói. Chỉ tính riêng các tỉnh phía Bắc, số hộ có mức sống khá chiếm
trên 50%, cả nước có từ 40% đến 50%. Số hộ nghèo đói giảm từ 2% đến 4%.
Nhà nước đầu tư nguồn vốn cho giáo dục, y tế, phát triển công nghiệp
nặng, công nghiệp chế biến, khai thác dầu khí, điện… Riêng Nhà nước đầu
tư cho ngành điện nông thôn tính đến năm 1997 là 365 tỉ đồng, cộng với dân
tự đóng góp 2210 tỉ đồng, điện đã đến hầu khắp các tỉnh, các thôn bản trong
cả nước mang đến sự nhận thức và hiệu quả sản xuất cao hơn.
Về quản lí nền kinh tế - xã hội, Nhà nước đã sửa đổi và ban hành Hiến
pháp, các Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Hình sự… và các pháp lệnh
khác. Điều đó cho chúng ta thấy sự phát triển của Nhà nước trong tổ chức và
quản lí xã hội đã có những bước tiến rõ rệt.
Bên cạnh sự phát triển của kinh tế, nền tảng chính trị của nước ta
cũng được củng cố ổn định vững vàng hơn. Niềm tin của nhân dân vào
đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước đã được nâng cao rõ rệt,

năng suất, chất lượng và hiệu quả còn thấp.
Vai trò quản lí của Nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội còn yếu, khả
năng kiềm chế lạm phát còn chưa vững chắc, ngân sách thu không đủ chi, tỉ
lệ bội chi ngân sách còn cao. Nước ta còn nghèo nhưng chưa thực hiện tốt
cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, tích lũy từ nội bộ nền kinh
tế và đầu tư phát triển còn thấp. Tình trạng bất công xã hội, tham nhũng,
buôn lậu, vi phạm kỉ cương còn nặng và phổ biến.
Về chính trị, hệ thống pháp luật vẫn chưa đồng bộ, các văn bản luật,
pháp lệnh, pháp quy để làm căn cứ cho các hoạt động kinh tế - xã hội còn
thiếu thống nhất, lại chậm được bổ sung sửa đổi làm cho các ngành, các cấp
khi thực hiện còn lúng túng, hoặc vận dụng không thống nhất nên dẫn đến
những hạn chế về mặt kinh tế - xã hội.
Một bộ phận cán bộ quản lí nhà nước trong lề lối làm việc còn mất dân
chủ, quan liêu xa rời quần chúng, vi phạm pháp luật, tiêu cực, tham nhũng
trong quản lí kinh tế - tài chính. Dẫn đến niềm tin của quần chúng vào Nhà
nước bị giảm sút.
Về đời sống xã hội, do tác động của cơ chế thị trường và mở cửa của
nền kinh tế đã làm nảy sinh vấn đề phân hóa giàu - nghèo và nhiều hiện
tượng tiêu cực liên quan đến một bộ phận dân cư như tệ nạn xã hội, lối sống
thiếu lành mạnh, đạo đức xã hội và văn hóa truyền thống giảm sút, tội phạm
gia tăng,… Ngoài ra, một số phúc lợi xã hội nhờ cơ chế bao cấp được chia
đều như học tập miễn phí, chữa bệnh tật không mất tiền… không còn được
duy trì như trước. Dù rằng, trong cơ chế cũ chỉ là sự chia đều nghèo khổ và
thiếu thốn, nhưng tính công bằng trong cơ chế đó đối với một số ít người vẫn
cảm thấy dễ chịu hơn là sự phân hóa mức sống và điều kiện hưởng thụ giữa
các tầng lớp dân cư như hiện nay.
Thực tế cho thấy, sự phân hóa giàu - nghèo trong xã hội đang là vấn
đề đáng quan tâm. Qua số liệu của Tổng cục Thống kê điều tra năm 1993
cho thấy:
+Có 4,1% dân cư được xếp là tầng lớp giàu (thu nhập bình quân

kiếm được không tương xứng với công sức của mình, trong đó có những
người do làm ăn bất chính, lợi dụng khe hở của cơ chế quản lí, do tham
nhũng, buôn lậu… mà trở nên giàu có, tiêu xài phung phí, sống xa hoa càng
đè nặng lên tâm lí phản ứng về sự bất công của đa số dân nghèo, tầng lớp
cán bộ hưu trí, những viên chức thuần túy sống bằng đồng lương cố định,…
Các hiện tượng có thật nêu trên chính là mặt trái của cơ chế thị trường.
Nguyên nhân của những yếu kém, sai sót trên một mặt là do hậu quả
của nhiều năm trước đây để lại và do những tác động bất lợi của tình hình
thế giới; mặt khác, còn do những khuyết điểm trong công tác lãnh đạo của
Đảng và quản lí của Nhà nước. Để khắc phục hiện tượng đó, đòi hỏi Nhà
nước phải tăng cường vai trò điều tiết, dẫn dắt, kiểm soát của mình đối với xã
hội trong cơ chế kinh tế thị trường. Có như vậy mới thực hiện được mục tiêu
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
3.3.Các giải pháp và phương hướng đề nghị
Trước những thành tựu đã đạt được và những hạn chế, thiếu sót còn
tồn tại trong những năm đầu của thời kì đổi mới ở Việt Nam, Đảng và Nhà
nước cần phải đề ra những phương hướng và giải pháp phát triển đúng đắn,
toàn diện, triệt để hơn. Nhằm tiếp tục phát triển nền kinh tế, củng cố chế độ
chính trị, đồng thời có biện pháp khắc phục những mặt hạn chế, thiếu sót,
tiếp tục công cuộc xây dựng đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa trong những
năm tiếp theo.
Về vấn đề phát triển kinh tế, cần tiếp tục duy trì và tăng nhịp độ tăng
trưởng kinh tế so với hiện nay, tăng thu ngân sách, tối đa kiềm chế và đẩy lùi
lạm phát. Cần có các chính sách điều hành và phát triển kinh tế hợp lí, hiệu
quả, khuyến khích lao động sản xuất, cân đối về tỉ trọng kinh tế, đảm bảo sự
tăng trưởng vững chắc. Đẩy mạnh phát triển sản xuất, phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, trong đó vẫn lấy kinh tế Nhà nước làm chủ đạo,
cơ chế khuyến khích và hỗ trợ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát
triển nhằm huy động nguồn vốn trong nhân dân, một phần giải quyết vấn đề
việc làm cho lao động. Đẩy mạnh đầu tư về vốn và kĩ thuật cho các ngành

xu thế phát triển của đất nước. Về bộ máy của Đảng, cần vận dụng đúng đắn,
linh hoạt, hiệu quả tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh vào điều kiện thực tế của Việt Nam trong thời kì đổi mới. Từ đó đề ra
những phương hướng và đường lối đúng đắn, làm cơ sở cho quá trình phát
triển. Đồng thời, cần tránh những tư tưởng sai lệch, chủ quan duy ý chí làm
ảnh hưởng đến quá trình phát triển của đất nước. Cần tích cực phát triển hệ
thống của Đảng, phát huy tinh thần sáng tạo, trung thực, liêm khiết, tiết kiệm
trong nội bộ Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ Đảng. Tuyên dương những
cán bộ Đảng gương mẫu, trách nhiệm; thẳng thắn phê bình, xử lí kỉ luật
những cán bộ có sai phạm. Chống nạn cửa quyền, tham nhũng, thái độ làm
việc quan liêu, tiêu cực trong bộ máy của Đảng và Nhà nước.
Về đời sống xã hội, cần tích cực nâng cao đời sống nhân dân cả về
vật chất lẫn tinh thần. Cần có các chính sách về lương và trợ cấp, phụ cấp
hợp lí, để giải quyết cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên chức. Thực
hiện một số hoạt động phúc lợi xã hội và từ thiện, đảm bảo công bằng xã hội
như: chữa bệnh miễn phí và giảm viện phí cho người nghèo; phong trào “lá
lành đùm lá rách”; phong trào đền ơn đáp nghĩa, xây dựng các nhà tình nghĩa
cho các mẹ Việt Nam anh hùng và các gia đình có công với cách mạng; xây
dựng các nhà tình thương cho trẻ em lang thang, không nơi nương tựa; xây
dựng các trại dưỡng lão cho người già neo đơn;… Bên cạnh đó thực hiện
việc phát triển toàn diện, tăng đầu tư cho các vùng nông thôn, miền núi, hải
đảo, vùng sâu, vùng xa để phát triển kinh tế ở các vùng này, cải thiện đời
sống nhân dân, làm giảm sự mất cân đối về kinh tế và thu nhập bình quân
giữa nông thôn và thành thị. Có các chính sách tư vấn và hỗ trợ cho vay vốn
để phát triển kinh tế; phát triển các làng nghề, hợp tác xã thủ công; hướng
dẫn nông dân kĩ thuật canh tác, phát triển cây trồng vật nuôi theo các mô hình

21



Với bản chất là mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, việc nắm vững
mối quan hệ này và vận dụng vào việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế với
chính trị ở Việt Nam trong thời kì đổi mới là rất quan trọng. Điều này góp phần
giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị, từ đó
đưa ra được đường lối và chính sách điều hành, quản lí nền kinh tế - xã hội
một cách đúng đắn, thực hiện đổi mới toàn diện, triệt để trên mọi lĩnh vực của
đời sống, phát triển đời sống xã hội, tạo dựng nền tảng tiền đề cho xã hội xã
hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, đây là một vấn đề tương đối khó khăn và phức tạp, đòi hỏi
phải nghiên cứu kĩ lưỡng, vận dụng linh hoạt sáng tạo, phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh Việt Nam trong thời kì quá độ. Do đó, không nên nóng vội, chủ
quan duy ý chí mà phải nghiên cứu, tìm hiểu rõ vấn đề này một cách toàn
diện từ nhiều khía cạnh. Chỉ khi nắm rõ được bản chất của vấn đề mới có thể
đề ra được phương hướng đổi mới, phát triển toàn diện, triệt để một cách
hiệu quả nhất, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng thành công
xã hội xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.

23


PHỤ LỤC: MỘT SỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nhà xuất bản chính trị quốc gia,
2003.
• Chương X: Hình thái kinh tế - xã hội, III - Biện chứng giữa cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trang 358.
2. Giáo trình lịch sử kinh tế, Bộ môn Lịch sử kinh tế - Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân, Nhà xuất bản thống kê, 2003.
• Chương XIII: Kinh tế Việt Nam thời kì 10 năm đầu sau khi đất
nước được thống nhất (1976-1985), Khó khăn, hạn chế của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status