TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
==***==
BÙI THỊ NHINH
SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA DÂN,
DO DÂN, VÌ DÂN Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
HÀ NỘI - 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
==***==
BÙI THỊ NHINH
SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA DÂN,
DO DÂN, VÌ DÂN Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học
THẦY NGUYỄN CÔNG TIẾN
là phương hướng của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong xây dựng nhà nước xã hội
chủ nghĩa hiện nay. Việc nghiên cứu, học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác - LêNin
và tư tưởng Hồ Chí Minh vào tổ chức, kiện toàn, xây dựng nhà nước pháp
quyền việt nam xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân trở thành
yêu cầu bức thiết, đòi hỏi triển khai một cách toàn diện sâu sắc, và có hệ thống.
Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đối với sự
phát triển của đất nước ta.
Đến nay, dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, từ yêu cầu của nhiệm vụ
xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc tìm
hiểu, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp luật lại càng có ý
nghĩa quan trọng và cấp thiết. vì vậy tôi chọn đề tài
để nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp.
•
Tình hình nghiên cứu đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà chính trị, tư tưởng vĩ đại. Hiện nay tư
tưởng của Người là một vấn đề lớn, được đưa vào một trong những chương
trình quốc gia, và nó đã trở thành một bộ môn khoa học thực sự.
độ, bình diện khác nhau. Vấn đề nhà nước, pháp luật trong tư tưởng của người
cũng được đề cập, nghiên cứu. Song cho đến nay, chúng ta chưa làm được bao
nhiêu trong việc nghiên cứu vấn đề này.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, và dân đã trở thành
kim chỉ nam định hướng quá trình xây dựng, thể chế quản lý nà nước của Đảng
Cộng Sản Việt Nam. Vì vậy, đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
nghiên cứu với nhiều sản phẩm khoa học ở các mức độ khác nhau; có thể kể đến
một số đề tài cấp nhà nước “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do
dân, vì dân”do TS. Nguyễn Đình Lộc chủ trì; các tác phẩm như “tìm hiểu tư
•
Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của khóa luận gồm 2 chương và 5 tiết:
Chương 1:
.
•
.
Chương 1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN
.
1.1.1. Cơ sở lý luận
, phương Tây.
.
:
. Đó là tinh thần “nhân
nghĩa”, đạo “tu thân”, cách “đối nhân xử thế”, có lý, có tình; là “lợi lạc quần
sinh vô ngã vị tha” (Đem lại lợi ích vui sướng cho mọi người, quên mình vì
người khác). Những tư tưởng xem dân là gốc: “Dân duy bang bản” (Dân là gốc
nước), “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (dân quý nhất, thứ hai là xã
tắc tiếp đến mới là vua), “quân dĩ dân vi thiên” (vua lấy dân làm trời)…
Người đã tiếp thu, kế thừa có phê phán tư tưởng dân chủ, nhân văn của
văn hóa phục hưng, của các nhà tư tưởng ở thế kỷ Ánh sáng, của cách mạng tư
của học thuyết Mác về Nhà nước” [10,tr. 43-44].
Đó là nguồn gốc lý luận trực tiếp hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước của dân, do dân, vì dân.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Chủ nghĩa Mác-LêNin đã chỉ rõ: vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng
xã hội là vấn đề chính quyền; vấn đề cơ bản của chính quyền; là chính quyền đó
thuộc về ai. Đó là cốt lõi của các cuộc cách mạng xã hội. Vì vậy qua trình tìm
đường cứu nước của Hồ Chí Minh là quá trình khảo cứu để lựa chọn một mô
hình nhà nước kiểu mới, phù hợp với sự phát triển và điều kiện thực tế của cách
mạng Việt Nam.
:
-
. Dân
.
-
.
.
:
-
.
-
:
Với thực tế hoạt động mấy chục năm trong phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế, Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn kiểu nhà nước theo học
thuyết Mác -LêNin. Như vậy điều mà Hồ Chí Minh quan tâm bậc nhất khi tìm
một hình mẫu chính quyền nhà nước là nhân dân có
.
.
.
.
.
.
:
Cùng với cơ sở lý luận và thực tiễn, còn phải kể đến nhân tố chủ quan đã
góp phần quan trọng hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do
dân, vì dân. Tư chất thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo, tính ham hiểu biết và
nhạy bén với cài mới là những đức tính của người thanh niên yêu nước Nguyễn
Tất Thành. Phẩm chất đó được rèn luyện, phát huy trong suốt cuộc đời hoạt
động cách mạng của Người. Nhờ vậy, giữa thực tiễn phong phú và sinh động,
giữa nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau, giữa biết bao tình huống phức tạp,
Hồ Chí Minh đã tìm hiểu, phân tích, tổng hợp, khái quát thành những luận
điểm, những quyết sách đúng đắn và sáng tạo, từ đó hình thành nên nét độc đáo,
sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh.
chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược, đề ra chương trình Việt Minh.
Về vấn đề chính quyền, Hội nghị chủ trương “Không nên nói công nông liên
hiệp và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hiệp lập
chính phủ dân chủ cộng hòa” [3, tr.127]. “Chương trình Việt Minh” cũng ghi rõ
“Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật sẽ thành lập một chính phủ nhân
dân của Việt Nam Dân chủ cộng hòa… chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử
ra”.
Khi thời cơ giải phóng dân tộc đã đến gần, trong “Thư gửi đồng bào toàn
quốc” (tháng 10/ 1944) Hồ Chí Minh cũng nói rõ: Trước hết cần có một chính
phủ đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn bộ quốc
dân, gồm tất cả các đảng phái cách mệnh, các đoàn thể ái quốc trong nước bầu
cử ra. “Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công
việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”.
Từ mô hình nhà nước công nông binh chuyển sang mô hình nhà nước đại
biểu cho khối đại đoàn kết của toàn thể quốc dân là một bước chuyển sáng suốt
của Hồ Chí Minh, phản ánh nét đặ thù của thực tiễn dân tộc, phù hợp với sự
chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam.
Sang năm 1945 phong trào phát triển mạnh, căn cứ địa cách mạng được
mở rộng, hình thành một vùng rộng lớn gồm sáu tỉnh: Cao- Bắc- Lạng, HàTuyên- Thái và một số vùng ngoại vi thuộc các tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú
Thọ, Yên Bái…
Trước tình đó, Hồ Chí Minh đã đưa ra chỉ thị thành lập “Khu giải
phóng”, cử ra Ủy ban chỉ huy lâm thời, thực hiện chức năng của chính quyền
cách mạng. Tại các địa phương trong khi giải phóng, các Ủy ban nhân dân cách
mạng cũng được thành lập, do nhân dân cử ra, để thi hành 10 chính sách của
Việt Minh. Khu giải phóng là hình ảnh “nước Việt Nam mới phôi thai”, các Ủy
ban nhân dân cách mạng vừa lãnh đạo nhân dân vừa chuẩn bị khởi nghĩa, vừa
tập cho nhân dân cầm chính quyền [1, tr.134-135].
Tiếp theo, từ ngày 13 đến ngày 14/ 08/ 1945: Hội nghị toàn quốc của
từ đó rút kinh nghiệm khẳng định tư tưởng lý luận của mình.
Cả cuộc đời hoạt cách mạng của Bác, những bài viết, nói, những tác
phẩm của Người thể hiện rõ những nét tư tưởng đúng đắn về xây dựng một nhà
nước kiểu mới ở Việt Nam. Nhà nước của dân, do dân, vì dân đối với mục tiêu:
Độc lập, tự do, hạnh phúc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
1.3.1. Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động
Nam được xây dựng sau khi cách
mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản thành công. Nhà
nước phải đại biểu quyền “cho số đông người”, và chủ trương xây dựng một
nhà nước công nông binh, được thể hiện trong “Chính cương vắn tắt của
Đảng”, k
,
một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Trong bài báo “Dân vận” 1949, Hồ Chí
Minh khẳng định: “Nước ta là một nước dân chủ”; bao nhiêu quyền hạn đều
“
”.
Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng
chiến, kiến quốc là công việc của toàn dân. Chính quyền từ xã đến chính phủ
trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức lên. Nói
tóm lại quyền hành cả lực lượng đều ở nơi dân.
:
•
đồng thời cũng là quyền kiểm soát của nhân dân thể hiện ở chỗ: nhân dân có
quyền bãi miễn những đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nào
nếu những đại biểu đó tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
Hồ Chí Minh đã nêu lên quan điểm “dân là chủ” và “dân làm chủ”. Dân
là chủ có nghĩa là xác định vị thế của dân, còn dân làm chủ có nghĩa là xác định
quyền và nghĩa vụ của dân. Trong nhà nước của dân, với ý nghĩa đó, người dân
được hưởng mọi quyền làm chủ. Bằng thiết chế dân chủ, Nhà nước phải có
trách nhiệm bảo đảm quyền làm chủ của dân, để cho dân thực thi quyền là chủ
của mình trong hệ thống quyền lực của xã hội. Người dân được hưởng mọi
quyền dân chủ, nghĩa là quyền làm bất cứ việc gì pháp luật không cấm và có
nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Quyền lực của nhân dân được đặt ở vị trí tối
thượng. Điều này có ý nghĩa thực tế nhắc nhở những người lãnh đạo, những đại
biểu của nhân dân làm đúng chức trách và vị thế của mình. Không phải là đứng
trên nhân dân, coi khinh nhân dân, “cậy thế” với dân, “quên rằng dân bầu mình
ra là để làm việc cho dân”. Một nhà nước như thế là một nhà nước tiến bộ trong
bước đường phát triển của nhân loại. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do
Hồ Chí Minh khai sinh 2/9/1945 chính là nhà nước tiến bộ chưa từng có trong
lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam bởi vì nhà nước đó là nhà nước
của dân, nhân dân có vai trò quyết định mọi công việc của đất nước.
•
Nhà nước do dân
mình; Nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước chi tiêu,
hoạt động; nhà nước đó lại do dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ. Do đó, Người
yêu cầu: Tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ
với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Hồ Chí Minh
thường nhấn mạnh nhiệm vụ của những người cách mạng là phải làm cho dân
đến công chức bình thường đều phải là công bộc, làm đầy tớ cho nhân dân chứ
không phải “làm quan cách mạng” để “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”. Như dưới
thời đế quốc thực dân và ngay như chức vụ của mình (Chủ tịch nước) Hồ chí
Minh cũng quan niệm là do dân ủy thác cho và như vậy phải phục vụ nhân dân,
tức là làm đầy tớ cho nhân dân. Hồ Chí Minh nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham
muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức chủ tịch là vì
đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh
của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi thì tôi rất vui lòng
lui… Riêng phần tôi thì làm một cái nàh nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để
câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu,
không dính líu đến vòng danh lợi” [5, tr. 161].
Để xây dựng một nhà nước của dân theo Hồ Chí Minh, Người đại diện
cho dân phải có đạo đức phẩm chất, nhận thức đúng vị trí, trách nhiệm của
mình, tránh để rơi vào tình trạng lạm dụng quyền đứng trên nhân dân, đối lập
với nhân dân. Như thế mới có thể đảm bảo được tính dân chủ của nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mới thực sự là nhà nước của dân, do dân,
vì dân…
1.3.2. Bản chất giai cấp của nhà nước Việt Nam
1.3.2.1. Bản chất của giai cấp công nhân
Nhà nước là một phạm trù lịch sử, nó chỉ ra đời và tồn tại khi giai cấp và
đấu tranh giai cấp xuất hiện. Do đó, nhà nước là sản phẩm của một xã hội có
giai cấp, nó bao giờ cũng mang bản chất một giai cấp nhất định. Không có một
nhà nước nào là phi giai cấp, không có nhà nước đứng trên giai cấp. Như vậy
không phải lịch sử nhân loại xuất hiện là có nhà nước ngay và nhà nước không
phải tồn tại mãi mãi.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước ta được coi là nhà nước của dân,
do dân, vì dân nhưng bản chất giai cấp của nhà nước ta là mạng bản chất giai
định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển của đất nước. Điều này được thể
hiện ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời ngày 2/9/1945
trong bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.
Ba là: Bản chất của giai cấp công nhân của nhà nước ta thể hiện ở nguyên
tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí
Minh rất chú ý đến tính dân chủ trong tổ chức và hoạt động của tất cả bộ máy,
cơ quan nhà nước, nhấn mạnh đến việc phát huy cao độ, dân chủ, đồng thồi phát
huy cao độ tập trung. Nhà nước phải tập trung thống nhất quyền lực để tất cả
mọi quyền lực vào tay nhân dân.
1.3.2.2. Sự thống nhất giữa bản chất giai cấp và tính nhân dân của
nhà nước
Hồ Chí Minh là người giải quyết rất thành công mối quan hệ giữa các vấn
đề giai cấp- dân tộc trong xây dựng nhà nước Việt Nam kiểu mới. Hồ Chí Minh
đã giải quyết hài hòa thống nhất giữa bản chất giai cấp với tính nhân dân tính
dân tộc và được biểu hiện rõ trong những quan điểm sau:
•
Nhà nước ta ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của rất
nhiều thế hệ người Việt Nam từ quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của
dân tộc. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dân tộc Việt Nam rơi vào cuộc khủng hoảng
đường lối cách mạng. Trong cuôc đấu tranh trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc
ta, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của các nhà cách mạng tiền bối rất
oanh liệt. Đó là các phong trào Văn Thân, Cần Vương, Đông Du, Duy Tân, và các cuộc
khởi nghĩa yêu nước khác nhau như: Yên Bái, Nam Kỳ, Bắc Sơn, Thái Nguyên… Các
phong trào này đã tô thắm cho truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân
tộc, nhưng độc lập, tự do cho dân tộc vẫn chưa trở thành hiện thực. Từ 3/2/1930 Đảng ra
đời thì sự lớn mạnh của giai cấp công nhân với đội tiên phong của nó là Đảng Cộng Sản
Việt Nam đã vượt qua được tất cả các hạn chế và đã lãnh đạo thắng lợi các cuộc cách
mạng tháng Tám 1945 đấu tranh giành chính quyền, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân
1.3.3.1. Xây dựng một nhà nước lập hiến
Sau khi giành chính quyền trong cả nước, chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay
mặt chính phủ lâm thời đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”. Tuyên bố với quốc dân
đồng bào và với thế giới về sự khai sinh của nhà nước Việt Nam mới. Nhờ đó
mà chính phủ lâm thời do cuộc cách mạng của nhân dân lập nên có được địa vị
hợp pháp.
Tiếp đó trong phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời (3/9/1945) trong
6 nhiệm vụ cấp bách, Hồ Chí Minh đề ra nhiệm vụ thứ ba: “Chúng ta phải có
một Hiến pháp dân chủ, tôi đề nghị chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc
tổng tuển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”. Để sớm có một nhà nước lập
hiến do nhân dân bầu ra. Ngày 17/9/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ấn
định thể lệ tổng tuyển cử. Ngày 20/9/1945 ký sắc lệnh thành lập ủy ban dự thảo
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa để chuẩn bị đề trình Quốc hội, Ủy
ban gồm 7 đơn vị, do Hồ Chí Minh làm trưởng ban.
Mặc dù có những khó khăn dồn dập do thù trong giặc ngoài gây ra, cuộc
tổng tuyển cử trong cả nước đã được tiến hành vào ngày 6/1/1946, với chế độ
phổ thông đầu phiếu. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử hàng nghìn năm của dân
tộc Việt Nam cũng như lần đầu tiên ở Đông Nam Á, tất cả mọi người dân từ 18
tuổi trở lên, không phân biệt nam, nữ, giàu nghèo, dân tộc, đảng phái, tôn
giáo… đều đi bỏ phiếu bầu những đại biểu của mình vào trong Quốc hội. Kết
quả: hơn 90% cử tri đã đi bỏ phiếu và 330 đại biểu được trúng cử.
Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I đã họp phiên đầu tiên lập ra các tổ chức,
bộ máy và các chức vụ chính phủ của nhà nước. Hồ Chí Minh được bầu làm chủ
tịch Chính phủ liên hiệp đầu tiên. Đây là chính phủ có đầy đủ giá trị pháp lý để
giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề đối nội và đối ngoại ở nước ta.
1.3.3.2. Quản lý nhà nước bằng pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào
đời sống
Quản lý nhà nước là quản lý bằng bộ máy và bằng nhiều biện pháp khác
nước, biết thực hành dân chủ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về sống và làm việc theo
hiến pháp và pháp luật. Người tự giác khép mình vào pháp luật, vào gương mẫu
chấp hành hiến pháp và pháp luật. Sống và làm việc theo pháp luật đã trở thành
nề nếp thành thói quen, thành lối ứng xử tự nhiên của Hồ Chí Minh.
1.3.3.3. Tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước có đủ
đức, đủ tài
Để xây dựng một nhà nước pháp quyền vững mạnh, vấn đề xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức này vừa có đức, có tài, trong đó đức là gốc, đội nguc này
phải được tổ chức hợp lý, có hiệu quả.
Một số yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức theo tư tưởng Hồ Chí
Minh:
Một là: Tuyệt đối trung thành với cách mạng. Đây là yêu cầu đầu tiên cần
có đối với đội ngũ này. Họ phải là những người kiên cường bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ nhà nước và lòng trung thành đó phải được thể hiện hằng
ngày, hàng giời trong mọi lĩnh vực.
Hai là: Hăng hái, thành thạo trong công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp
vụ. Theo Người, lòng nhiệt tình cùng lắm chỉ phá được cái xấu, cái cũ mà
không xây dựng được cái mới, cái tốt. Yêu cầu tối thiểu của đội ngũ này là phải
hiểu biết công việc của mình, biết quản lý nhà nước, do đó mà buộc họ phải tự
học hỏi và nâng cao trình độ.
Ba là: Phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân: Vì theo Hồ Chí Minh
thì đội ngũ cán bộ, công chức là những ăn lương từ nguồn ngân sách của nhà
nước, mà nguồn ngân sách này do nhân dân đóng góp. Vì vậy, Hồ Chí Minh
nhắc nhở mọi cán bộ, công chức không được lãng phí của công, phải sẵn sàng
phục vụ nhân dân, luôn nêu cao đạo đức cách mạng. Sẵn sàng hi sinh và lấy lợi
ích của nhân dân làm mục tiêu hoạt động của mình. Đặc biệt chống bệnh tham
ô, lãng phí, quan liêu, luôn gần dân, hiểu dân và vì dân.