Tiểu luận Triết học
Trờng Đại học Thỷ lợi Khoa Sau Đại học
1. Đặt vấn đề
Xã hội là một bộ phận đặc thù của thế giới vật chất. Nó vận động và phát triển
theo những luật khách quan vốn có. Quy luật xã hội có đợc phải thông qua mối quan
hệ giữa con ngời với nhau trong xã hội. Vì vậy xã hội vận động và phát triển không chỉ
phụ thuộc vào điều kiện khách quan mà còn phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con
ngời. Tức là nếu con ngời nhận thức và vận dụng đúng quy luật thì sẽ làm cho xã hội
phát triển nhanh hơn. Ngợc lại, nếu nhận thức và vận dụng sai quy luật thì sẽ kìm hãm
xã hội phát triển và bị quy luật phá bỏ.
Trong các quy luật xã hội, thì quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lợng sản xuất, là một trong những quy luật cơ bản chi phối sự vận
động và phát triển của xã hội loài ngời. Mặt khác, đây cũng là quy luật cơ bản trong lý
luận hình thái kinh tế xã hội của Mác.
Đảng, Nhà nớc ta đã vận dụng một cách sáng tạo quy luật này vào trong điều kiện
lịch sử đặc thù của nớc ta, nhằm đổi mới về kinh tế. Trong kinh tế, Đảng chủ trơng phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản
lý của nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, kinh tế Nhà nớc giữ vai trò
chủ đạo.
Để định hớng đợc Xã hội chủ nghĩa thì kinh tế Nhà nớc phải giữ vai trò nòng cốt,
dẫn dắt chi phối các thành phần kinh tế khác. Bởi vì đây là thành phần kinh tế xã hội
chủ nghĩa. Nó có vai trò quan trọng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển đúng h ớng,
tránh nguy cơ chệch hớng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên khi chuyển sang cơ chế thị trờng, kinh tế Nhà nớc còn bộc lộ nhiều yếu
kém về năng suất, chất lợng, hiệu quả, đã đánh mất vai trò chủ đạo trong một số lĩnh
vực. Nhiều doanh nghiệp nhà nớc làm ăn thua lỗ kéo dài, chất lợng sản phẩm còn thua
kém nhiều thành phần kinh tế khác, đầu t nhiều nhng hiệu quả kinh tế còn thấp. Việc
doanh nghiệp Nhà nớc làm ăn kém hiệu quả đã làm suy yếu đi vai trò chủ đạo của
thành phần kinh tế quan trọng này đối với việc định hớng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tiểu luận Triết học
Trờng Đại học Thỷ lợi Khoa Sau Đại học
xuất. Chính nhờ có quan hệ song trùng này đợc biểu hiện ra là lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất. Hai mặt này không tách rời nhau mà có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Mối quan hệ đó đợc lặp đi lặp lại nhiều lần qua các thời kỳ của lịch sử tạo thành
quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Đây
là quy luật cơ bản, khách quan chi phối sự vận động và phát triển xã hội loài ngời.
Phơng thức sản xuất gồm hai mặt: Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong
đó lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với giới tự nhiên trong quá
trình sản xuất vật chất. Trình độ của lực lợng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục tự
nhiên của con ngời. Đó là kết quả của năng lực thực tiễn của con ngời trong quá trình
tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất.
Lực lợng sản xuất đợc cấu thành bởi hai yếu tố:
- T liệu sản xuất do xã hội tạo ra trớc hết là công cụ lao động
- Ngời lao động với những kinh nghiệm sản xuất thói quen lao động, biết sử dụng
t liệu lao động để tạo ra của cải vật chất.
Trong các yếu tố đó thì ngời lao động đóng vai trò quyết định. Bởi vì, chính con
ngời tạo ra t liệu sản xuất và luôn luôn cải biến nó cho phù hợp với yêu cầu của mình.
Mặt khác, t liệu lao động dù có hiện đại tới đâu, có ý nghĩa lớn lao đến thế nào nếu
không đợc con ngời dụng thì không thể phát huy đợc tác dụng. Khẳng định vai trò
hàng đầu của con ngời lao động Lê Nin viết: Lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể
nhân loại là công nhân và ngời lao động
T liệu sản xuất bao gồm: Đối tợng lao động và t liệu lao động
T liệu lao động là: Phức hợp các vật thể mà con ngời đặt mình với đối tợng lao
động để biến thành sản phẩm trong quá trình sản xuất. Trong t liệu lao động thì công
cụ lao động có vai trò rất quan trọng vì nó là sức mạnh tri thức đã đợc vật thể hoá có
tác dụng nối dài bàn tay của con ngời.
Tiểu luận Triết học
Trờng Đại học Thỷ lợi Khoa Sau Đại học
triển liên tục từ chế độ xã hội này sang chế độ xã hội khác. Mỗi chế độ xã hội không đợc tự do lựa chọn lực lợng sản xuất cho mình mà bao giời cũng dựa trên lực lợng sản
xuất do chế độ trớc để lại. Mác khẳng định Lực lợng sản xuất là kết quả của năng lực
thực tiễn của con ngời, nhng bản thân năng lực này bị quy định bởi những điều kiện
trong đó ngời ta sống bởi những lực lợng sản xuất đã đạt đợc bởi những hình thái xã
hội có trớc họ, không phải do họ tạo ra mà do thế hệ trớc tạo ra.
Mặt thứ hai của phơng thức sản xuất là quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất đó là quan hệ giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất vật
chất. Trong quá trình sản xuất con ngời không chỉ quan hệ với tự nhiên mà còn quan hệ
với nhau nhằm tạo ra của cải. Mác viết trong sản xuất con ngời ta không chỉ quan hệ
với giới tự nhiên, con ngời ta không thể sản xuất đợc nếu không kết hợp với nhau theo
một cách thức nào đó để hoạt động chung và để trao đổi với nhau.
Cũng nh lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng mang tính khách quan không
phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời. Đó là những quan hệ mang tính vật chất
trong đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế cơ bản của một hình thái
kinh tế xã hội nhất định. Nó quyết định các mối quan hệ khác trong xã hội và là đặc trng cho hình thái kinh tế đó.
Quan hệ sản xuất đợc cấu thành từ ba mặt: Quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất,
quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm xã hội, trong đó quan hệ sở
hữu về t liệu sản xuất đóng vai trò quyết định các quan hệ trong sản xuất.
Quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất là đặc trng cơ bản của một phơng thức sản xuất.
Nó là quan hệ kinh tế cơ bản, trung tâm, chi phối các quan hệ sản xuất khác của xã hội.
Trong quan hệ sản xuất thì quan hệ tổ chức quản lý có vai trò quan trọng ở chỗ nó
có khả năng quyết định một cách trực tiếp tới quy mô, tốc độ, hiệu quả và xu hớng của
một nền sản xuất cụ thể. Nếu quan hệ quản lý, tổ chức mà tốt thì làm cho sản phẩm
phát triển. Ngợc lại, nó sẽ kìm hãm sự phát triển của sản xuất hoặc làm biến dạng quan
Tiểu luận Triết học
Trờng Đại học Thỷ lợi Khoa Sau Đại học
Tính quyết định của lực lợng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
Các Mác cho rằng thích ứng với mỗi trình độ của lực lợng sản xuất chỉ có một
kiểu quan hệ sản xuất đặc trng, tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất nh thế nào
thì nó quy định quan hệ sản xuất nh thế ấy. Lực lợng sản xuất quyết định quan hệ sản
xuất cả về nội dung, tính chất và xu hớng vận động của nó. Điều này có đợc là xuất
phát từ tính luôn vận động biến đổi và tính cách mạng của lực lợng sản xuất. Bởi vì
trong quá trình sản xuất thì con ngời luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao
động và chế tạo ra những công cụ lao động mới. Cùng với sự phát triển biến đổi của
công cụ lao động thì kinh nghiệm, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức
khoa học công nghệ của con ngời càng ngày càng phát triển hơn. Do đó lực lợng sản
xuất trở thành yếu tố động nhất, cách mạng nhất còn quan hệ sản xuất lại có tính chất
ổn định tơng đối có khuynh hớng lạc hậu hơn so với lực lợng sản xuất.
Trong mối quan hệ này thì nội dung quyết định hình thức, hình thức phụ thuộc
vào nội dung, nội dung thay đổi trớc, hình thức biến đổi sau. Khi lực lợng sản xuất phát
triển biến đổi tới một trình độ mới thì quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa,
trở thành sự chớng ngại đối với sự phát triển của lực lợng sản xuất, kìm hãm sự phát
triển của lực lợng sản xuất. Nếu sự phù hợp xảy ra ở giai đoạn cuối của một phơng thức
sản xuất thì phải làm cuộc cách mạng xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ thay thế bằng một
quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản
xuất. Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất xác lập quan hệ sản xuất mới có nghĩa là sự diệt
vong của một phơng thức cũ đã lỗi thời và ra đời một phơng thức mới thay thế nó.
Điều này đã đợc chứng minh trong lịch sử, trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ
trình độ phát triển của lực lợng rất thấp, lao động bằng thủ công, công cụ sản xuất rất
thô sơ, năng suất lao động thấp, thích ứng với nó là quan hệ công hữu về t liệu sản
4
Tiểu luận Triết học
Trờng Đại học Thỷ lợi Khoa Sau Đại học
vào mỗi nớc thì quy luật chung còn có tính đặc thù. Bời vì mỗi nớc trên thế giới ngoài
cái chung là đều phải tiến hành sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội tồn tại và phát
triển, phải tuân theo quá trình phát triển của xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên. Nh ng
các nớc lại tiến hành sản xuất với những đặc điểm riêng của mình nh: Phong tục, tập
quán, nền văn hoá riêng mang tính đặc thù. Vì vậy, khi áp dụng quy luật chung vào nớc
mình thì không hoàn toàn giống nhau. Chẳng hạn cũng là tuân theo sự phát triển của
các hình thái kinh tế - xã hội là quá trinh lịch sử tự nhiên nhng có nớc đi tuần tự từ Nô
lệ Phong kiến T bản - Xã hội chủ nghĩa, có nớc lại bỏ qua một hoặc hai hình
thái, nớc Mỹ bỏ qua một hình thái từ Nô lệ - T bản, nớc Nga từ Nông nô - T bản.
Nớc ta, Đảng xác định bỏ qua chế độ T bản chủ nghĩa tiến lên Chủ nghĩa xã hội.
Chúng ta đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ không
qua giai đoạn T bản chủ nghĩa. Bởi vậy khi áp dụng quy luật của Mác vào nớc ta lại có
những đặc thù riêng. Việc áp dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lợng sản xuất nhiều khi đã bị hiểu sai, hiểu không đúng, chủ quan,
nóng vội, duy ý chí. Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc chúng ta đã mắc không ít
các sai lầm. Song chúng ta đã khắc phục các sai lầm đó, sự nhận thức vận dụng quy
luật ngày càng chính xác đầy đủ và có hiệu quả hơn.
Sự vận dụng quy luật ở nớc ta đã trải qua hai thời kỳ chính, đó là:
Thời kỳ trớc đổi mới
Từ năm 1954 1976, thời kỳ này miền Bắc nớc ta mới đợc giải phóng. Do đó,
khi tiến lên chủ nghĩa xã hội chúng ta đã mắc phải t tởng chủ quan, nóng vội cho rằng
cứ có quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa là có chủ nghĩa xã hội. Trong cải tạo quan hệ
sản xuất, chúng ta tiến hành theo hớng, xoá và chuyển, xoá là xoá bỏ quan hệ
5
Tiểu luận Triết học
Trờng Đại học Thỷ lợi Khoa Sau Đại học
Bằng mọi cách làm cho kinh tế quốc doanh lớn mạnh nhanh chóng, chiếm u thế
trong sản xuất và phân phối.
Xoá bỏ ngay thơng nghiệp t bản chủ nghĩa trên cơ sở phát triển mậu dịch quốc
doanh và các hợp tác xã mua bán.
Tới Đại hội toàn quốc làn thứ V ta tiếp tục quan điểm của Đại hội tr ớc, mục tiêu
là: Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở các tỉnh miền Nam, tiếp tục
hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, củng cố phát triển quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa trong cả nớc.
Tóm lại, qua ba kỳ Đại hội (từ Đại hội III đến đại hội V của Đảng), chúng ta tiến
hành cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới theo hớng xoá bỏ nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Đây là sự vi phạm quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Chúng ta đã hiểu sai lý luận quan
hệ sản xuất mở đờng cho sự phát triển của lực lợng sản xuất. Theo lối t duy này, cứ có
chế độ sở hữu mới thì lực lợng sản xuất tự động phát triển, năng suất lao động tăng
nhanh, cho nên có thể thiết lập bất cứ hình thức nào của quan hệ sản xuất mới không
cần phụ thuộc vào tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Chúng ta đã lạm dụng
quá vai trò mở đờng của quan hệ sản xuất mới đến mức tùy tiện, chủ quan, tách rời
khỏi thực trạng của lực lợng sản xuất. Quan hệ sản xuất chỉ có tác dụng mở đờng khi
lực lợng sản xuất phát triển đến mức quan hệ sản xuất trở thành lỗi thời kìm hãm nó,
khi đó ta xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ xác lập quan hệ sản xuất mới sẽ tạo ra động lực
trong sản xuất. ở đây chúng ta làm ngợc lại, đi xây dựng quan hệ sản xuất mới tiên
tiến vợt quá xa so với lực lợng sản xuất do đó tạo ra sự không phù hợp.
Trang
6
Tiểu luận Triết học
Trờng Đại học Thỷ lợi Khoa Sau Đại học
Khắc phục sai lầm trên Đại hội đề ra:
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần coi đây là đặc trng trong thời
kỳ quá độ ở nớc ta. Điều này bắt nguồn từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin
về thời kỳ quá độ. Theo Lê Nin thì thời kỳ quá độ có nghĩa là trong chế độ hiện nay
có những thành phần, những bộ phận, những mảng của chủ nghĩa t bản và chủ nghĩa
xã hội. Mặt khác theo lý luận hình thái kinh tế xã hội của Mác thì không có một
hình thái nào là thuần nhất chỉ có một kiểu quan hệ sản xuất mà bao giờ cũng có: Quan
hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn d và quan hệ sản xuất mầm mống.
Nớc ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nớc sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu bỏ
qua giai đoạn t bản chủ nghĩa, lực lợng sản xuất của ta phát triển không đều, thích ứng
với một trình độ của lực lợng sản xuất lại có một kiểu quan hệ sản xuất đặc trng. Vì
vậy sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều quan hệ sản xuất là một tất yếu khách
quan. Nhanh chóng xoá bỏ đi các thành phần kinh tế là một sai lầm Mác khẳng định:
không bao giờ xuất hiện tr ớc khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ
đó chín muồi. Do đó không thể xoá bỏ một hình thức quan hệ sản xuất nào khi lực lợng sản xuất tơng ứng với nó đang còn sức sống, đang còn là tất yếu đối với xã hội.
Đại hội VI thừa nhận các thành phần kinh tế tồn tại đó là:
- Kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm có quốc doanh và tập thể
- Các thành phần kinh tế khác gồm có: Kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ
công, nông dân cá thể, buôn bán và kinh doanh dịch vụ) kinh tế t bản t nhân, kinh tế
t bản nhà nớc, kinh tế tự nhiên, kinh tế tự cấp, tự túc.
Trong xây dựng quan hệ sản xuất mới chúng ta đã tiến hành đồng thời trên cả ba
Trang
7
Tiểu luận Triết học
Trờng Đại học Thỷ lợi Khoa Sau Đại học
Mục tiêu của Đại hội là: Xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở
vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với
tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Đại hội đề ra cần phải phát triển lực lợng
sản xuất để đến năm 2020 phần lớn lao động thủ công đợc thay bằng lao động máy
móc. Quan hệ sản xuất phải tiến hành trên cả ba mặt tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy
tăng trởng kinh tế.
Tới Đại hội IX, Đảng, Nhà nớc tiếp tục sử dụng chính sách kinh tế nhiều thành
phần. Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để phát triển sản xuất. Tới
Đại hội IX quan hệ sản xuất tiếp tục đợc đổi mới, đại hội xác định có thêm thành phần
kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài. Với các thành phần kinh tế là: Kinh tế Nhà nớc, kinh tế
tập thể, kinh tế các thể, kinh tế t bản t nhân, kinh tế t bản nhà nớc, kinh tế có vốn đầu t
nớc ngoài.
Nh vậy, qua các kỳ đại hội Đảng quan hệ sản xuất đợc điều chỉnh sao cho có sự
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất.
Tóm lại sự vận dụng quy luật của chủ nghĩa Mác Lê Nin ở nớc ta là một quá
trình, đi từ nhận thức cha đầy đủ tới nhận thức đầy đủ, từ cha hoàn thiện tới hoàn thiện
và ngày càng phát huy hiệu quả.
4. Đổi mới kinh tế nhà nớc là sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất.
Hiện nay, với những trình độ khác nhau của lực lợng sản xuất, chúng ta đã thực
Trang
8
Tiểu luận Triết học
Trờng Đại học Thỷ lợi Khoa Sau Đại học
Các quỹ quốc gia có mục đích bảo đảm cho kinh tế nhà nớc, kinh tế quốc dân
hoạt động bình thờng trong mọi tình huống, các quỹ quốc gia dùng lực lợng vật chất
của mình để điều tiết, quản lý, bình ổn giá cả thị trờng, bảo đảm cho kinh tế xã hội đợc
ổn định.
Hệ thống bảo hiểm chịu trách nhiệm thực hiện chế độ bảo hiểm do nhà nớc quy
định để phục vụ kinh tế xã hội, nhằm cho hoạt động kinh tế xã hội hoạt động bình thờng trong điều kiện bị tổn thất.
Kinh tế nhà nớc là một hệ thống không chỉ bao gồm các doanh nghiệp nhà nớc
mà còn có các bộ phận khác. Tuy mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm vụ cụ thể khác
nhau nhng giữa chúng lại có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, chặt chẽ với nhau, hoạt động
theo một thể thống nhất do nhà nớc quy định nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã
hội do nhà nớc đặt ra.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất
đợc vận dụng vào kinh tế nhà nớc có sự khác nhau qua các thời kỳ của lịch sử.
Thời kỳ trớc đổi mới
Do nhận thức sai lệch về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sai quy luật của chủ nghĩa
Mác Lê Nin. Chúng ta đã tiến hành cách mạng quan hệ sản xuất theo hớng mở rộng
thành phần kinh tế nhà nớc, xoá bỏ sự tồn tại các thành phần kinh tế khác. Kinh tế nhà
nớc đợc mở rộng một cách tràn lan, không chú ý tới chất lợng mà chỉ chú ý mở rộng về
số lợng, vợt quá khả năng về năng lực quản lý, điều hành của nhà nớc.
Sau khi miền Bắc đợc giải phóng, năm 1954 miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội,
miền Nam tiến hành kháng chiến. Kinh tế nhà nớc đợc mở rộng về quy mô bằng cách
Trang
9
Tiểu luận Triết học
Trờng Đại học Thỷ lợi Khoa Sau Đại học
Chính vì vậy Đảng và Nhà nớc ta phải tiến hành đổi mới kinh tế nhà nớc nhằm
giữ đợc vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Thời kỳ đổi mới
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng đối với nền
kinh tế nói chung và kinh tế nhà nớc nói riêng. T duy đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI,
với mục tiêu chung là: Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý
của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Đối với thành phần kinh tế nhà nớc, Đại hội VI cũng khẳng định: làm cho kinh
tế quốc doanh thật sự giữ vai trò chủ đạo, chi phối đợc các thành phần kinh tế khác.
Kinh tế quốc doanh tiến hành đồng thời trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất là quan hệ
sở hữu, quan hệ quản lý, tổ chức sản xuất và quan hệ phân phối.
Trên lĩnh vực quản lý, chúng ta đã tiến hành đổi mới cơ chế quản lý chuyển từ cơ
chế bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh tế theo cơ chế thị trờng. Đại hội xác định:
phải đổi mới cơ chế quản lý, đảm bảo cho các đơn vị kinh tế quốc doanh có quyền tự
chủ thật sự, chuyển sang hạc toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Về mặt lực lợng sản
xuất, Đại hội xác định: tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật và đẩy mạnh tiến bộ kỹ thuật
để nâng cao chất lợng và hiệu quả.
Nhờ có các chính sách trên đã làm cho quan hệ sản xuất phù hợp tính chất và
trình độ của lực lợng sản xuất, kinh tế nhà nớc vững mạnh trở lại đóng vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế. Đại hội VII khẳng định: kinh tế quốc doanh sang nắm giữ những bộ
chủ đạo.
Nguyễn Quang Phi Cao học 12N
Trang 10
Tiểu luận Triết học
Trờng Đại học Thỷ lợi Khoa Sau Đại học
5. Kết luận
Nớc ta quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, lực lợng
sản xuất thấp kém. Muốn thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, phát huy mọi tiềm năng
đòi hỏi chúng ta phải vận dụng lý luận Mác Lê Nin vào điều kiện cụ thể ở n ớc ta.
Mà trớcc hết là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng
sản xuất.
Đây là quy luật chung khi áp dụng vào nớc ta cần phải tính đến các yếu tố đặc
thù, không thể chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
tới nay, Đảng ta đã nhất quán sử dụng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý điều tiết của nhà nớc định hớng xã hội chủ nghĩa.
Đây là một cuộc cách mạng trên lĩnh vực quan hệ sản xuất, nhằm làm cho quan hệ sản
xuất thích ứng lực lợng sản xuất. Nhờ đó, đã khơi dậy đợc tiềm năng sáng tạo của nhân
dân, huy động đợc vốn, kinh nghiệm sản xuất tạo ra nhiều của cải cho xã hội, giải việc
làm ổn định đời sống nhân dân.
Trong các thành phần kinh tế thì kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt, tạo
điều kiện, đi trớc mở đờng và liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác.
Để làm tốt đợc vai trò chủ đạo, định hớng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nớc đã
không ngừng đổi mới để tạo ra sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất. Hơn 10 năm qua
kinh tế nhà nớc liên tục đợc sắp xếp đổi mới, giảm về số lợng, tăng về chất lợng với
nhiều giải pháp: Cổ phần hoá, giao, bán, cho thuê, phá sản, sát nhập... Nhờ đó chất lợng đã đợc nâng lên rõ rệt. Không những thế, kinh tế nhà nớc còn đi đầu trong ứng
4. Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng NXB Sự thật Hà Nội
5. Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng NXB Sự thật Hà Nội
6. Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng NXB Sự thật Hà Nội
7. Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng NXB Sự thật Hà Nội
8. Các Mác t bản quyển 1, tập 1 - NXB Sự thật Hà Nội 1993
9. Mác - ăng Ghen tuyển tập, tập 2 NXB Sự thật Hà Nội 1997
10. Mác - ăng Ghen tuyển tập, tập 6 NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 1993
11. Lê Nin toàn tập, tập 29 - NXB Sự thật Hà Nội năm 1971
12. Lê Nin toàn tập, tập 43 - NXB Tiến bộ Hà Nội năm 1978
13. Góp phần phê phán Kinh tế Chính trị học NXB Sự thật Hà Nội năm
14. Cải cách Doanh nghiệp Nhà nớc NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội năm
Nguyễn Quang Phi Cao học 12N
Trang 12