ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HOÀI
SỰ PHÊ PHÁN CỦA C.MÁC ĐỐI VỚI TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC
CỦA PRU-ĐÔNG TRONG TÁC PHẨM
“SỰ KHỐN CÙNG CỦA TRIẾT HỌC”
Chuyên ngành:
Mã ngành:
Triết học
60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đỗ Minh Hợp
Hà Nội - 2015
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .............................................................. 4
5. Cơ cở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu ............................................... 4
6. Đóng góp của đề tài ..................................................................................... 5
7. Ý nghĩa của đề tài ........................................................................................ 5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Được đánh giá là một trong những sự kiện nổi bật nhất của thế kỷ XIXsự ra đời của chủ nghĩa Mác đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử nhân
loại. Trên cơ sở tổng kết, kế thừa những thành tựu của khoa học và lịch sử tư tưởng
nhân loại C.Mác và Ph.Ănghen đã xây dựng nên học thuyết mang tính khoa học,
cách mạng và nhân văn sâu sắc. Nó không chỉ đóng vai trò là thế giới quan mà còn
là phương pháp luận cho khoa học và hoạt động của con người. Bởi vậy, tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng ta xác định “Đảng ta lấy chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hoạt
động”.
Hơn 100 năm trôi qua chủ nghĩa Mác-Lênin luôn chứng tỏ được sức sống
mãnh liệt cũng như vai trò định hướng của mình. Vì vậy, để hiểu thực chất tính
cách mạng và vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong thực
tiễn thì một trong nhiệm vụ quan trọng nhất là chúng ta phải đi sâu tìm hiểu cội
nguồn tư tưởng mà cụ thể là những tư tưởng được thể hiện trong các tác phẩm
kinh điển của chủ nghĩa Mác.
Lịch sử hơn 100 năm qua cũng chứng minh quá trình xây dựng và phát
triển của chủ nghĩa Mác là quá trình thường xuyên và liên tục đấu tranh chống lại
sự chống phá của các lực lượng phản động, thù địch. Điều này được thể hiện qua
hàng loạt các tác phẩm bút chiến trong hệ thống kinh điển của chủ nghĩa Mác.
Tiêu biểu trong hàng loạt các tác phẩm kinh điển mang tính bút chiến đó là tác
phẩm “Sự khốn cùng của triết học” được viết vào giai đoạn đề xuất những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác. Với ngòi bút phê phán quyết liệt, sâu cay
C.Mác đã đấu tranh chống lại trào lưu vô chính phủ Pru-đông bởi những luận
điểm mang nặng tính duy tâm, tư biện, không tưởng, những luận điểm là sự lừa
bịp trong khoa học và là sự dung hòa trong chính trị và qua đó C.Mác cũng trình
bày một cách hệ thống những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác về triết học,
1
Tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học” được C.Mác viết trong giai
đoạn đầu - giai đoạn đề xuất những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác và nó
được đánh giá là một tác phẩm quan trọng trong hệ thống kinh điển của chủ
nghĩa Mác, là sự chuẩn bị cuối cùng cho sự ra đời “Tuyên ngôn Đảng cộng
sản”- cương lĩnh của giai cấp vô sản. Bởi vậy, nghiên cứu chủ nghĩa Mác có khá
nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới tác phẩm này như:
Trong cuốn “Lịch sử triết học Mác” của Học viện Báo chí và Tuyên
truyền do TS. Trương Ngọc Nam chủ biên. Trong đó tác giả đã giới thiệu
những nét khái quát nhất về hoàn cảnh ra đời, những nội dung lớn và ý nghĩa
của tác phẩm “Sự khốn của triết học” trong giai đoạn đầu - giai đoạn đề xuất
những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác.
Các tác giả viết cuốn “Giới thiệu tác phẩm kinh điển Mác-Lê nin” của
trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội. Cuốn
sách cũng đã chỉ ra những nét cơ bản nhất của tác phẩm về bối cảnh ra đời, nội
dung khái quát, giá trị của tác phẩm..
Cuốn “Giáo trình triết học Mác-Lê nin” của Bộ Giáo dục và Đào tạo
cũng bàn về tác phẩm “sự khốn cùng của triết học”. Qua việc trình bày những
nét chính và vị trí, ý nghĩa của tác phẩm đối với sự hình thành và phát triển của
chủ nghĩa Mác.
Ngoài ra tác phẩm “sự khốn cùng của triết học” còn được giới thiệu
nhiều trong các cuốn “Giới thiệu tác phẩm kinh điển Mác-Lênin”, trong một số
tiểu luận, khóa luận về quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác hay
trong một số bài báo, tạp chí bàn về lý luận hình thái kinh tế-xã hội, lý thuyết giá
trị…
Tuy vậy, các công trình trên mới chỉ dừng lại ở giới thiệu những nét
khái quát nhất về hoàn cảnh ra đời, nội dung chính cũng như ý nghĩa lớn của tác
phẩm. Như vậy, vấn đề C.Mác phê phán những tư tưởng triết học của Pru-đông
trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học” là một vấn đề mới chưa có công
trình nào nghiên cứu.
4
6. Đóng góp của đề tài
Luận văn góp phần phân tích một cách hệ thống nội dung phê phán của
C.Mác đối với những quan điểm phản khoa học của Pru-đông trong tác phẩm
“Sự khốn cùng của triết học”.
7. Ý nghĩa của đề tài
“Sự khốn cùng của triết học” là một tác phẩm lớn trong hệ thống kinh
điển của chủ nghĩa Mác- Lê nin. Bởi vậy, luận văn có thể là tài liệu tham khảo
cho việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác-Lênin nói
riêng.
Bên cạnh đó luận văn góp phần làm rõ vai trò của việc đấu tranh chống
những lực lượng phản động để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác Lê-nin.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận
văn có kết cấu gồm 2 chương và 5 tiết.
5
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ KẾT CẤU
CỦA TÁC PHẨM “SỰ KHỐN CÙNG CỦA TRIẾT HỌC”
1.1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội Tây Âu đầu thế kỷ XIX
“Sự khốn cùng của triết học” là tác phẩm được C.Mác viết năm 1847
trong giai đoạn đề xuất những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác, trong một
bối cảnh hết sức nóng bỏng của kinh tế- xã hội Tây Âu.
Từ thế kỷ XV, hàng loạt các phát kiến địa lý ra đời, rất nhiều các phát
phát triển của đường sắt thúc đẩy sự phát triển của thị trường trong nước và tăng
cường sự liên hệ giữa các trung tâm công nghiệp. Ngành hàng hải cũng có
những biến đổi quan trọng nhờ việc ứng dụng máy hơi nước với nhiều công ty
hàng hải lớn được thành lập. Sự phát triển của giao thông vận tải ảnh hưởng đến
ngoại thương, số lượng hàng xuất khẩu ngày càng nhiều. Sự phát triển công
nghiệp cũng ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp. Máy móc và phương pháp canh
tác mới được sử dụng trong nông thôn, do đó năng suất nông nghiệp tăng cao.
Anh là một nước có trình độ nông nghiệp tiên tiến thời bấy giờ.
Như vậy, cách mạng công nghiệp hoàn thành tạo nên sự phát triển mạnh
mẽ trong cả công nghiệp, nông nghiệp và đã hoàn toàn thay đổi bộ mặt kinh tế
của nước Anh, đưa nước Anh lên địa vị hàng đầu của thế giới.
Sau những khởi đầu ở Anh, cách mạng công nghiệp nhanh chóng lan
rộng ra phạm vi thế giới và nó trở thành hiện tượng phổ biến đồng thời mang
tính tất yếu với các quốc gia tư bản còn lại. Nếu như Anh mất gần một thế kỷ để
hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp của mình thì cách mạng công nghiệp
diễn ra ở một số nước tư bản khác diễn ra với tốc độ khẩn trương hơn, sôi động
hơn và thời gian hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp cũng ngắn hơn. Như
cách mạng công nghiệp ở Pháp, nước Pháp có nền kinh tế kém phát triển hơn
Anh nhưng mạnh hơn so với các nước Châu Âu lúc bấy giờ. Cách mạng công
nghiệp đang trên đà phát triển, hoàn thành vào những năm 60 của thế kỷ XIX.
Việc sử dụng máy móc ngày càng rộng rãi trong các ngành công nghiệp nhẹ và
7
nặng. Năm 1830, Pháp có 616 máy hơi nước đến năm 1847 tăng lên 4.853 cái.
Sản lượng công nghiệp các ngành cũng tăng lên rõ rệt. Công nghiệp dệt, đặc biệt
là dệt bông phát triển khá nhanh, sản lượng tăng gấp đôi từ 1816-1830. Năm
1832, Pháp sản xuất 225.000 tấn gang và 148.000 tấn sắt. Năm 1846, số gang
tăng lên 586.000 tấn và sắt tăng 373.000 tấn.
Trong nền kinh tế Pháp, hệ thống tín dụng phát triển khá mạnh, đây là
hội, đặc biệt là sự xuất hiện và ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng
của giai cấp công nhân- giai cấp có tính tổ chức, kỷ luât và ý thức giác ngộ. Với
điều kiện sống cực khổ, lương thấp, điều kiện làm việc nguy hiểm luôn xảy ra
tai nạn, bóc lột và mỗi ngày họ phải làm việc từ 12 đến 15 giờ nên những cuộc
đấu tranh của họ đã sớm nổ ra.
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Anh nảy sinh sớm nhất
vào năm 60 của thế kỷ XVIII. Ngay trong những cuộc đấu tranh đầu tiên hiện
tượng đập phá máy móc xuất hiện. Cao trào này phản đối việc sử dụng máy dệt
bằng hơi nước, nhưng bị chính quyền ra sắc lệnh xử tử những người đập phá
máy móc. Sau năm 1815, do khuynh hướng phản động của chính quyền nên
những cuộc đình công đòi phổ thông đầu phiếu và cải thiện đời sống lại bùng lên
sôi nổi và trở nên quyết liệt vào 1819. Phong trào đập phá máy móc lại nổ ra
mạnh hơn trước. Năm 1822, 1823 công nhân lại nổi dậy đập phá máy móc, thiêu
hủy những trang viên của địa chủ, đốt nhà người giàu, những cơ quan của chính
quyền.
Phong trào công nhân Pháp phát triển muộn hơn ở Anh, bắt đầu nảy
sinh từ những năm đầu thế kỷ XIX, bằng việc lập những hội tương tế, nhưng
những hội này ngày càng thiếu tính chất giai cấp. Phong trào đập phá máy móc
nổ ra và phát triển mạnh ở Pháp vào những năm 20 của thế kỷ XIX.
Phong trào công nhân Ðức phát triển muộn hơn ở Anh và Pháp. Nó
diễn ra vào những năm 30 của thế kỷ XIX ở hai vùng công nghiệp quan trọng là
Rhin và Saxe, giai cấp vô sản Ðức đấu tranh đòi cấm sử dụng máy móc, họ còn
đập phá xí nghiệp.
Thông qua những phong trào này, giai cấp vô sản ở các nước được tôi
luyện và thu được những kinh nghiệm đấu tranh, thúc đẩy họ ngày càng trưởng
9
thành, đưa phong trào phát triển lên một bước. Từ những năm 30 trở đi, ý thức
chính trị của giai cấp công nhân tuy còn mơ hồ nhưng đã tiến bộ hơn trước, hiện
chức mang tên Hội công nhân Luân đôn thành lập năm 1836 do Lowet đứng
đầu.
Hội đã thảo ra một yêu sách gồm sáu điểm trình lên nghị viện: Thực
hiện phổ thông đầu phiếu đối với nam giới từ 21 tuổi trở lên, phân chia khu vực
tuyển cử, xóa bỏ mọi hình thức thuế với điều kiện nghị viện, trả lương cho nghị
viên, tuyển cử hàng năm vào Quốc Hội và bỏ phiếu kín. Ðây là một cương lĩnh
mang tính dân chủ của công nhân, nó trở thành cương lĩnh hành động của phong
trào.
Diễn biến phong trào trải qua ba cao trào với ba cuộc biểu tình ủng hộ cho
các bản kiến nghị với cao trào lần 1 diễn ra năm 1839, thu được trên 1 triệu chữ
ký của công nhân, cao trào lần 2 diễn ra năm 1842, thu trên 3 triệu chữ ký và cao
trào lần 3 diễn ra năm 1848 với trên 5 triệu chữ ký.
Tuy vậy, tư tưởng hòa bình của Lowet, họ chủ trương thỏa hiệp với giai
cấp tư sản, cho rằng bất đắc dĩ mới dùng đến biện pháp cách mạng, vì vậy họ
không dám phát động phong trào đấu tranh của quần chúng để chống đối giai
cấp tư sản khi chúng từ chối không chấp nhận các yêu cầu của công nhân. Phong
trào tuy thất bại nhưng có một ý nghĩa lịch sử rất lớn, nó là một phong trào
mang tính chất quần chúng rộng rãi với một qui mô đấu tranh lớn.
Khởi nghĩa của công nhân Ðức nổ ra vào 1844 ở Silêdi. Công nhân đòi
tăng lương, phá hủy nhà cửa của tư sản. Chính quyền địa phương cho quân đến
đàn áp cuộc khởi nghĩa. Trong cuộc đàn áp này có nhiều chết và bị thương.
C.Mác đánh giá cao cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt Silêdi, xem đó là
một hiện tượng có ý nghĩa chính trị lớn lao, mở đầu cho phong trào công nhân
có tính chất quần chúng, chứ không phải là "một cuộc khởi nghĩa vì đói" như tư
sản cố tình xuyên tạc.
Các phong trào công nhân trong những năm 30-40 của thế kỷ XIX ở
Anh, Pháp, Ðức có những đặc điểm chung là những khẩu hiệu chính trị đã được
nêu lên bên cạnh những khẩu hiệu về kinh tế, phong trào mang tính chất quần
chúng rộng rãi và quy mô đấu tranh ngày càng lớn. Những đặc điểm này chứng
11
12
1847, C.Mác đã viết “Sự khốn cùng của triết học” để trả lời tác phẩm “Triết học
về sự khốn cùng” của P.J.Pru-đông.
Pie Jo-dep Pru-đông (PierreJoseph Proudhon) sinh năm 1809, mất năm
1865. Ông là một nhà chính luận người Pháp, nhà xã hội học, kinh tế học tầm
thường, nhà tư tưởng của giai cấp tiểu tư sản, một trong những cha đẻ của “chủ
nghĩa vô chính phủ”.
Pru- đông sinh ra ở Besancon, trong một gia đình sản xuất bia rượu.Lúc
nhỏ ông làm việc trong quán rượu gia đình, giúp những công việc cơ bản, sống ở
nông thôn và ít nhận được sự giáo dục tiên tiến. Ông được dạy đọc bởi người mẹ
của mình, biết đánh vần từ năm 3 tuổi và đến năm 10 tuổi ông ông có thể đọc
được một số niên giám địa phương.. Năm 1820, ông được nhận vào đại học
Besacon, gia đình nghèo nhưng Pru-đông luôn thể hiện một ý chí mạnh mẽ
thường xuyên tìm hiểu, đọc sách ở thư viện trường...
Năm 1827, Pru-đông bắt đầu học nghề in tại Battant, năm sau ông
chuyển sang làm báo ở Besacon-trung tâm quan trọng của tư tưởng tôn giáo thời
điểm đó. Pru-đông trong quá trình làm việc của mình đã dành ra rất nhiều thời
gian để đọc các tác phẩm văn chương Kitô giáo và cũng trong thời gian đó ông
cũng sửa được rất nhiều ấn phẩm báo chí. Từ năm 1829, ông bắt đầu quan tâm
đến các vấn đề xã hội hơn là các lý thuyết tôn giáo.
Đến năm 1830, ông thất nghiệp và đi vòng quanh nước Pháp với những
công việc không ổn định trong nghề in ấn, làm giáo viên.. Trong thời gian này
Fallot-một người bạn của ông đã hỗ trợ tài chính với điều kiện Pru-đông phải
đến Pari nghiên cứu triết học. Nhận lời đó, ông đã đến Pari và bắt đầu công việc
học thuật của mình, nhưng vì không thích lối sống đô thi, các cuộc tranh luận
triết học nên khi dịch tả bùng phát ở Pari ông đã về nhà ở Besacon. Năm 1838
sau một kinh doanh in ấn không thành công, Pru-đông quyết tâm dấn thân hoàn
toàn vào học thuật và ông nhận được học bổng của Học viện Besacon để đến
Chương 2: Phản đối của giá trị trong sử dụng và giá trị trong trao đổi
Chương 3: Diễn biến kinh tế - giai đoạn đầu - phòng lao động
Chương 4: Thời kỳ thứ 2 - máy móc
Chương 5: Giai đoạn thứ 3 - cạnh tranh
14
Chương 6: Giai đoạn thứ 4 - độc quyền
Chương 7: Giai đoạn thứ 5 - cảnh sát hoặc thuế
Chương 8: Trong trách nhiệm của con người và của Thiên Chúa, theo luật
của mâu thuẫn, hoặc một giải pháp của vấn đề mệnh trời.
Trong cuốn sách này, Pru-đông có những quan điểm phản khoa học,
tuyên truyền cho chủ nghĩa vô chính phủ và cản trở việc truyền bá tư tưởng cộng
sản chủ nghĩa vào phong trào công nhân. Vì vậy, để bóc trần quan điểm phản
động của Pru-đông, C.Mác đã viết tác phẩm này. Và cũng thông qua đó để làm
sáng tỏ một loạt các vấn đề của phong trào cách mạng vô sản.
1.2 . Kết cấu của tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”
C.Mác hoàn thành tác phẩm “sự khốn cùng của triết học” vào năm
1847, in lần đầu tiên ở Pari và Brúc-xen bằng tiếng Pháp, khi C.Mác còn sống
tác phẩm không được tái bản thêm. Năm 1885, tác phẩm lần đầu được xuất bản
bằng tiếng Đức, Ph.Ănghen viết lời tựa, hiệu đính và viết thêm nhiều chú thích.
Năm 1886, tác phẩm được dịch và in bằng tiếng Nga. Năm 1892 tác phẩm lần
thứ 2 được xuất bản bằng tiếng Đức, lần này F.Ănghen có viết một lời tựa đề
cập đến việc sửa chữa một chỗ không chính xác trong nguyên bản mà một luật
sư người Áo lợi dụng sự nhầm lẫn đó để cho rằng C.Mác vô căn cứ. Sau khi
F.Ănghen mất, năm 1896 con gái C.Mác cho in tác phẩm này bằng tiếng Pháp.
Trong tác phẩm này C.Mác phê phán quan điểm phản khoa học và phản
động trong những quan điểm của Pru-đông và qua đó C.Mác cũng đề cập đến bộ
ba cấu thành nên chủ nghĩa Mác, tiếp tục đề xuất những nguyên lý triết học, chủ
nghĩa xã hội khoa học và kinh tế chính trị học. Nội dung đó được thể hiện trong
Như vậy, bằng văn phong sắc sảo, lập luận đanh thép, tinh thần đấu
tranh trướng những tư tưởng phản khoa học, phản động của Pru-đông, C.Mác đã
phân tích làm rõ những sai lầm của Pru-đông trong quan niệm cũng như trong
hoạt động về kinh tế.
Chương 2- Phép siêu hình của khoa kinh tế chính trị, gồm 5 tiết
I - phương pháp.
16
II - Phân công lao động và máy móc
III - Cạnh tranh và độc quyền
IV - Quyền sử hữu ruộng đất hay địa tô
V – Những cuộc bãi công và những liên minh của công nhân.
Trong chương này, thông qua 7 nhận xét quan trọng C.Mác đã đấu tranh
quyết liệt với những luận điểm mang tính duy tâm, siêu hình của Pru-đông.
Đồng thời với việc phê phán các quan điểm đó, C.Mác còn trình bày những
nguyên lý triết học để bổ sung và phát triển những nguyên lý duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác.
Tiếp sau phần phương pháp với 7 nhận xét đó, C.Mác tiến hành phê
phán hàng loạt các quan điểm sai lầm của Pru-đông trong vấn đề phân công lao
động, độc quyền, phong trào công nhân mà Pru-đông trình bày trong “Hệ thống
những mâu thuẫn kinh tế hay sự khốn cùng của triết học”.
Cũng chính từ sự phê phán này, C.Mác trình bày các nguyên lý về
phương thức sản xuất, biện chứng của tồn tại xã hội, ý thức xã hội, mối quan hệ
lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, về vai trò sứ mệnh của giai cấp công
nhân...
Đáp lại các quan điểm của các nhà kinh tế học tư sản coi phương thức
sản xuất tư bản là vĩnh viễn, C.Mác đã chứng minh xã hội tư bản cũng là hình
thức tạm thời trong lịch sử, lịch sử loài người là quá trình hợp quy luật trong đó
sự phát triển của lực lượng sản xuất quy định sự thay thế quan hệ sản xuất này
18
CHƢƠNG 2
SỰ PHÊ PHÁN CỦA C.MÁC ĐỐI VỚI TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC
CỦA PRU-ĐÔNG VÀ Ý NGHĨA CỦA SỰ PHÊ PHÁN ĐÓ.
2.1. Sự phê phán của C.Mác đối với tƣ tƣởng triết học của Pru-đông
trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”
2.1.1. Sự phê phán của C.Mác đối với tư tưởng triết học mang tính duy tâm của Pruđông.
Tác phẩm được C.Mác viết trong giai đoạn đề xuất những nguyên lý của
chủ nghĩa Mác. Vào đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản thông qua cách mạng
công nghiệp đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ, cùng với đó là sự lớn mạnh của
phong trào công nhân, nhiều thành tựu của khoa học, lý luận đặc biệt là những
thành tựu trong lĩnh vực tư tưởng. Mà không thể không kể đến đó là nền triết
học cổ điển Đức với thành tựu nổi bật là hệ thống triết học hết sức đồ sộ của Hêghen.
Tuy là triết học duy tâm nhưng tinh hoa trong nó chính là phép biện
chứng. Chính bởi vậy mà tư tưởng triết học của Hê-ghen ảnh hưởng mạnh mẽ
đến rất nhiều nhà triết học sau đó. Nhiều người kế thừa những điểm hợp lý,
những hạt nhân của hệ thống đó để phát triển nó lên để tạo nên những hệ thống,
những quan điểm hết sức đúng đắn, khoa học. Ngược lại, có nhiều nhà triết học,
chính trị học lợi dụng sức ảnh hưởng, lợi dụng yếu tố duy tâm trong hệ thống ấy
để thực hiện những mục đích chính trị khác nhau, gây ảnh hưởng xấu, kìm hãm
sự phát triển của khoa học, của lịch sử xã hội loài người và còn để chống đối,
xuyên tạc những quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác. Bởi vậy,
trong quá trình hình thành, phát triển những nguyên lý của mình thì chủ nghĩa
Mác luôn phải đấu tranh chống lại những luận điểm phản khoa học, phản động
đó.
Trong tác phẩm này, C.Mác đã đấu tranh trực diện, luận chiến một cách
quyết liệt trước những luận điểm phản khoa học, phản động của chủ nghĩa vô
chính phủ Pru-đông, trước những ảnh hưởng nguy hiểm của nó đối với phong
mỗi thế kỷ ấy, những lực lượng sản xuất của họ, phương thức sản xuất của họ,
những nguyên liệu dùng trong sản xuất của họ là những gì. Cuối cùng, những
quan hệ giữa người và người do tất cả những điều kiện sinh tồn ấy sản sinh ra là
những quan hệ nào. Nghiên cứu sâu tất cả những vấn đề ấy, chính là theo dõi
lịch sử hiện thực, trần tục của con người trong mỗi thế kỉ đó..
22