Tìm hiểu sự phê phán của các nhà nho tiến bộ đối với tư tưởng nho giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX - Pdf 27

LỜI GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Hệ tư tưởng Nho giáo được du nhập vào Đất Việt khoảng thế kỉ thứ nhất
sau công nguyên, do chính sách đồng hoá người Việt của đế chế Hán trong thời
kỳ Bắc thuộc. Với những ưu thế của nó về các quan điểm chính trị, kinh tế và
văn hoá giáo dục, hệ tư tưởng này đã dần chiếm được ưu thế trong xã hội của
người Việt và trở thành bệ đỡ tư tưởng, tinh thần cho toàn bộ hệ thống chính trị,
xã hội, kinh tế, văn hoá, giáo dục của Việt Nam từ thế kỷ XV. Tuy nhiên, đến
cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trước sự biến đổi to lớn của lịch sử và thời
đại, hệ tư tưởng Nho giáo với những bất cập, hạn chế của nó đã không giải quyết
được những nhiệm vụ của thời đại, đó là việc tìm vạch ra con đường cứu nước
và giải phóng dân tộc cho người Việt. Những nhà nho tiến bộ của Việt Nam sau
khi tiếp cận với dòng tư tưởng dân chủ tư sản phương tây qua các Tân thư, Tân
báo, đã nhận thức được sự bất cập và những hạn chế của Nho giáo và trước sự
đòi hỏi của nhiệm vụ thời đại họ đã tiến hành phê phán hệ tư tưởng Nho giáo.
Tìm hiểu sự phê phán đó là một việc làm bổ ích và khoa học, nó góp phần
vào việc nghiên cứu và đánh giá một cách đúng đắn về tiến trình phát triển tư
tưởng và nhận thức của người Việt những năm đầu thế XX trong tiến trình lịch
sử. Cho đến nay, đã có rất nhiều các công trình khoa học của nhiều học giả trong
và ngoài nước tìm hiểu về vấn đề này, tuy nhiên lại chưa có công trình nghiên
cứu riêng nào về sự phê phán đó với tư cách là một thực thể, một vấn đề khoa
học. Vì thế, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu sự phê phán của các
nhà nho tiến bộ đối với tư tưởng nho giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX” làm đề
tài nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, chúng tôi cũng biết đây là một đề tài rất
khó, muốn đạt được một kết quả nghiên cứu tốt và mang tính khoa học thì người
nghiên cứu nó phải làm việc thật sự nghiêm túc, khoa học. Sau một thời gian
làm việc và nghiên cứu nghiêm túc, được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và
khoa học của Thầy giáo, chúng tôi vui mừng công bố kết quả nghiên cứu của
mình trước hội đồng khoa học. Nhưng chúng tôi chắc rằng báo cáo của chúng
tôi cũng chưa thật sự hoàn mĩ và đạt được kết quả như mong muốn. Chắc chắn
1
trong đó còn có nhiều điều hạn chế và thiếu xót cần được nghiên cứu và bổ sung

Việt. Hệ tư tưởng Nho giáo chỉ thực sự bắt đầu chiếm lĩnh được vị thế trong đời
sống văn hoá xã hội cuả người Việt khi nhà Trần nên nắm quyền cai trị đất
nước. Song ở trong giai đoạn cai trị của nhà Trần, hệ tư tưởng Nho giáo cũng
chưa thực sự chiếm lĩnh được vị thế hàng đầu, nhiều tài liệu về thời kỳ này cho
thấy, lúc này những ảnh hưởng của đạo Phật còn khá lớn mạnh và nó chi phối
rất nhiều tới các mặt chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá của người Việt. Có
điều đó là vì đạo Phật có nhiều điểm tương đồng hay phù hợp với nền văn hoá
truyền thống của người Việt. Mặt khác, đây còn là thời kỳ mà chế độ phong kiến
mới được thiết lập trên đất Việt, nó chưa đủ hoàn thiện để trở thành một chế độ
quân chủ chuyên chế vững mạnh như ở thời đại của vương triều Lê được thiết
1
. Đại Việt sử ký toàn thư – NXBKHXH – Hà nội – 1993, Tr.155.
2
. Đại Việt sử ký toàn thư – NXBKHXH – Hà nội –1993, Tr.166.
3
lập sau đó (thế kỷ XV). Như vậy, có thể nói cho đến cuối thế kỷ XIV và khoảng
một thập kỷ đầu của thế kỷ XV, hệ tư tưởng Nho giáo vẫn chưa thực sự nắm
được vị trí đứng đầu để có thể chi phối các hoạt động chính trị, kinh tế, và văn
hoá xã hội của người Việt. Hay nói cách khác là vào lúc này, hệ tư tưởng Nho
giáo còn phải tranh giành ảnh hưởng với với các dòng tư tưởng khác như: Phật
Giáo, Đạo Giáo, Lão Giáo... Hệ tư tưởng Nho giáo chỉ thực sự chiếm được địa
vị độc tôn khi mà vương triều Lê được thiết lập vào năm 1427.
Hệ tư tưởng Nho giáo có thể chiếm lĩnh được địa vị độc tôn và trở thành
bệ đỡ tư tưởng, tinh thần cho toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế, và văn hoá, xã
hội của Việt Nam là vì, vào cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV chế độ phong kiến
vừa mới thiết lập ở Việt Nam đã bắt đầu đi vào khủng hoảng, dẫn tới sự tan rã
của chính quyền trung ương, một lần nữa đất nước ta lại rơi vào tay của người
Hán. Sự hưng thịnh buổi đầu của chế độ phong kiến Việt Nam đã chấm dứt, nó
đặt ra câu hỏi mà những người con ưu tú của đất Việt thời kỳ đó phải trả lời là:
Tại sao chúng ta lại mất nước? Làm thế nào để giải phóng dân tộc? Làm thế nào

Ngoài ra, chúng ta còn thấy được sự phê phán khá nghiêm túc và sâu cay các trí
thức nho học qua thơ Hồ Xuân Hương như:
“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ,
Lại đây cho chị dạy làm thơ.
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”.
Nhưng sự phê phán một cách có ý thức, có khoa học và có hệ thống thì
phải đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX với cuốn sách “Vũ trung tuỳ bút”
của Phạm Đình Hổ. Với “Vũ trung tuỳ bút”, Phạm Đình Hổ đã phê phán học
thuyết nho giáo về học thuật, về phong cách của nhà nho và văn hoá, giáo dục,
tuy rằng nó chưa thực sự sâu sắc.
Về học thuật ông viết: “Đời nay những kẻ học lỏm được mấy câu mép,
nào có quan hệ gì đến đạo tu, tề, trị, bình, thế mà đã ngàng nhiên tự đắc”
1
; về lối
chữ viết thì: “Còn những giấy tờ ở chốn cửa công thì dùng riêng một lối chữ
“nam”, lúc đầu là phòng dân giả mạo, mới theo hoa văn mà đặt ra một lối chữ
1
1. Vũ Trung tuỳ bút – Phạm Đình Hổ – NXB văn học, Hà Nội- 1972, tr.37.
5
việc quan... Song những cách giả dối là bởi những kẻ nho lại làm ra, càng ngày
càng tệ”
2
; về cốt cách nhà nho: “Ta nghe chuyện trên này, lấy làm quái lạ... Ôi!
Người đời, những kẻ mũ cao áo dài, đứng ngồi chững chạc, mồm vẫn đọc sách
thành hiền, vẫn chen nhau trong hàng mũ áo, ngày thường vô sự vẫn tự nhận là
bậc đạo học, tự đắc là bậc danh giáo; gặp phải sự biến, một mất một còn, một
sống một chết, thì thường tiến thoái hồ đồ, mất cả sở cứ”
3
; về phép tắc thi cử: “

3. Như trên, tr. 88.
4
4. Như trên, tr.97,98.
5
5. Như trên, tr.158.
6
. Vũ trung tuỳ bút - Phạm Đình Hổ,… tr.159, 160.
6
giới trí thức nho học trong nước, những hạn chế của đạo nho cũng chưa bộc lộ ra
một cách rõ nét nhất, chỉ đến khi đất nước ta rơi vào tay thực dân Pháp và phong
trào kháng Pháp, đặc biệt là “Phong trào Cần Vương” do những chí sĩ nho giáo
yêu nước tổ chức bị thất bại, thì những hạn chế đó mới thật sự rõ nét và những
nhà nho tiến bộ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX đã nhận ra nó. Do vậy mà họ đã
tiến hành đánh giá và phê phán học thuyết Nho giáo, nhằm mục đích thức tỉnh
giai cấp và dân tộc, mà tiếng kêu ai oán của “ông đồ mù” Nguyễn Đình Chiểu có
thể nói là phát súng đầu tiên khai màn cho công cuộc đó:
“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này”
1
.
B. Nội dung sự phê phán Nho Giáo của những nhà nho tiến bộ ở Việt
Nam trong những năm đầu thế kỷ XX
1. Sự phê phán Nho Giáo với tư cách là một học thuyết
Với tư cách là một học thuyết, một trường phái tư tưởng của phương
Đông, sau khi du nhập vào Việt Nam, học thuyết Nho giáo đã có những đóng
góp nhất định cho việc ổn định và phát triển nền văn hoá, xã hội Việt Nam. Tuy
nhiên, đến thế kỷ XIX, đứng trước tiếng súng xâm lăng của thực dân Pháp, học
thuyết Nho giáo và những lý luận của nó đã tỏ ra bất cập, không giải quyết được
những nhiệm vụ của thời đại và lịch sử đặt ra, đó là việc tìm vạch ra được một
con đường cứu nước và giải phóng dân tộc đúng đắn cho người Việt.

1
. Còn như trong tác
phẩm Tối tân thời tà khí ca, tác giả của nó viết:
“Mắng chửi sao đáng kể.
Tộc loại nhờ nó mất,
Cừu địch nhờ nó vinh.
Tam cương thảy đổ nát,
Đạo nghĩa nhổ sạch không.
....................
Trời đất có tà khí,
Phú thành vật nhiêu hình.
Dưới thì là cứt đái,
Trên thì là cẩu tinh.
1
. Dẫn theo: Văn thơ yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thé kỷ XX, NXB Văn học, Hà Nôi – 1976, tr.194.
8
Với người là nô tính,
Mờ mịt lấp biển xanh.”
1
Hoặc giả như cụ Phan Bội Châu trong tác phẩm Sùng bái giai nhân viết:
“... Từ khi đạo học của thành hiền không sáng, nhân tài không như xưa, khí lực
đã hèn, óc lão lại mỏng. Vua không biết nuôi dưỡng, thầy không biết dạy bảo.
Vì thế mà người đời như một hình gỗ, một tượng đất,...Thi thư trở thành cái làm
cho người ta ngu dốt? Trung hiếu là vật gây nên mọi tai quái?”
2
. Rồi ông tỏ ra
hối hận khi đã theo học đạo nho, cho đó là: “Đáng tiếc là hồi đó mình chỉ vùi
đầu vào lối hư văn khoa cử”
3
. Chính vì thế, họ – những trí thức nho học đã tiến

tại của cuộc sống mà mất đi phương hướng trong hành động; rằng nó là cái
thuyết tai hại làm cho người ta trở nên ươn hèn, bảo thủ mà không chịu học hỏi
cái mới, không phát huy được khả năng sáng tạo của mình: “Ngày nay, chỉ riêng
cái thuyết mệnh trời cũng đã đủ làm cho dân ta bị trở ngại. Mệnh là cái không
đến mà lại đến. Người quân tử tri mệnh là biết không thể tránh được điều hại,
không thể hưởng được điều lợi, nhưng cái đáng làm thì cứ làm. Cho nên tri
mệnh là để khuyên lập chí, dẫu biết rằng người không có trí thì khi gặp việc là
cầu khấn trời giúp cho, hỏng việc thì lại đổ cho trời làm hại! Cho nên, nước yếu
thì không quy trách nhiệm cho chính sự tồi tệ, quốc dân bất tài, mà lại cứ nói
vận số không phải do con người quyết định. Lụt lội hạn hán thì không trách cứ
là không có kế hoạch tiêu nước kịp thời, không phòng ngừa đói kém, mà lại nói
thiên tai không phải do người gây nên... Than ôi! sao lại có những cách nói tự
hại mình đến thế? Sức người không làm được mà đổ tội cho trời, trời có nhận tội
đâu”
1
.
Thứ đến là những nhà nho tiến bộ đã phê phán cái tư tưởng nội hạ ngoại
di, vì nếu như thuyết thiên mệnh là sự cản trở sự phát triển của nhận thức, thì cái
tư tưởng “nội hạ ngoại di” trọng mình khinh người trong học thuyết Nho giáo
còn tai hại hơn. Nó làm cho người ta chỉ coi trọng bản thân, tự đề cao bản thân
mà coi thường người khác, mà không chịu học hỏi. Đây là sản phẩm của quá
trình tranh giành địa vị độc tôn của Nho giáo với các tôn giáo khác, muốn nắm
được địa vị độc tôn thì phải đề cao cái đạo của mình, phải tỏ ra cái đạo của mình
là cao quý để hạ thấp địa vị của các tôn giáo khác. Vì thế, khi mà Nho giáo đã
nắm được địa vị độc tôn, trở thành đạo cao quý, thì đương nhiên những đệ tử
của học thuyết Nho giáo cũng là những người cao quý, kẻ cả, được coi trọng
trong xã hội. Do vậy mà họ nhiễm cái thói vênh váo, tự cao, tự đại coi khinh hết
1
. Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục – phần Quốc dân độc bản, NXB Văn hoá, HN - 1997, tr. 62, 63.
10

Thứ ba là những nhà nho tiến bộ đả phá cái tư tưởng quý đạo vương khinh
đạo bá. Chính vì coi trọng tư tưởng nội hạ ngoại di, trọng mình mà khinh người
nên cái tư tưởng mù quáng quý đạo vương mà khinh đạo bá của học thuyết Nho
giáo đã ra đời. Đây là cái tư tưởng cực đoan, độc tôn Nho giáo. Vương đạo tức
2
. Như trên, tr. 53.
1
. Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr. 633, 634.
2
. Dẫn theo: Đăng cổ tùng báo, số ra ngày 27 tháng 6 năm 1907. Tư liệu lưu trữ của Thư viện trường
ĐHKHXH&NV.
11
là đạo của nhà vua, mà đã là đạo của nhà vua thì đương nhiên là cao quý nhất.
Mà một khi nó đã trở thành đạo cao quý nhất thì đương nhiên là người ta sẽ coi
thường những thứ đạo khác mà không chịu học hỏi tiếp thu những cái mới, cái
hay. Như vậy là cái tư tưởng quý đạo vương khinh đạo bá lại càng bó hẹp con
người ta hơn, làm cho người ta trở nên bảo thủ hơn, vênh váo hơn, thế cho nên:
“Phàm những kẻ biết được đôi chút từ chương đã vênh vang cho mình là sĩ,
không thèm đứng cùng hàng với nông, công, thương, họ cho là hèn hạ, gọi là
dân buôn, dân thợ, dân cùng, ngu dốt”
3
. Những nhà nho tiến bộ đã cho cái tư
tưởng này là một trong bốn nguyên nhân khởi điểm làm cho dân ta ngày càng
dốt đi, làm cho đất nước ngày càng tiều tuỵ, yếu hèn.
Nhưng nguyên nhân dẫn đến cái sự ngu dốt tai hại ấy còn là nhờ cái tư
tưởng bảo thủ coi xưa hơn nay, cho xưa là phải nay là quấy của đạo Nho. Những
nhà nho tiến bộ đầu thế kỷ XX đã nhận ra cái căn nguyên sai trái ấy khi họ viết
thiên Bàn về văn minh “người nước ta hiếu cổ, coi nhẹ kim, thậm chí có người
muốn sống như đời Hy – Hoàng trở về trước, không biết rằng Hy – Hoàng trở về
trước là thời đại dã man”

12
hơn cả những kẻ ngu si đảo lộn phải trái, trắng đen”
5
. Cái dốt nát, ngu si, bảo thủ
của con người bởi tư tưởng trọng xưa hơn nay thối nát ấy, đã cản trở sự phát
triển về nhận thức của cá nhân và xã hội, nó kìm hãm và trói buộc con người và
xã hội vào những thứ giáo lý cũ rích, làm cho người ta không theo kịp được sự
phát triển của thời đại. Nó hướng người ta chỉ trông vào xưa chứ chẳng biết nay,
không tin vào thực tại, đến nỗi đã trở thành nô lệ mà vẫn không biết, vẫn huyênh
hoang: “Người ngày nay mà không muốn hơn người ngày xưa thì văn minh
không tiến. Nước yếu thì sẽ bị nước văn minh hơn thôn tính. Người nước ta
thích bàn về thời Hổng cổ, hâm mộ Hoàng nông, mà không biết rằng thế đạo
ngày một suy, mà lại than thở phong tục xưa không được phục hồi. Những lời
không phải cổ nhân nói, những việc không phải cổ nhân làm, cũng cho là người
đời phải kinh sợ. Chính cái lòng hiếu cổ ấy làm cản trở trí tiến thủ”
6
.
Tư tưởng trọng quan khinh dân, trong học thuyết Nho giáo cũng là một
trọng tâm mà những nhà nho tiến bộ đầu thế kỷ XX chĩa mũi nhọn vào phê
phán. Nó được coi là nguyên nhân dẫn đến sự hủ hoá, thối nát của bộ máy chính
quyền và thể chế chính trị phong kiến. Nó dẫn đến cái thói vênh váo, tự cao tự
đại của tầng lớp nho sĩ trong xã hội. Tư tưởng đó xuất phát từ đâu, từ cái sự độc
tôn Nho giáo, từ cái sự đề cao cái đạo Tam cương, Ngũ thường với những mối
quan hệ ràng buộc bởi nhiều phép tắc bất di, bất dịch, dẫn đến sự tách bạch, đối
lập một cách tuyệt đối giữa vua, quan và dân. Quan không được vượt quyền,
không được bàn bạc, cãi lệnh vua, vì lệnh vua là thánh chỉ, là lời của thiên tử;
còn dân thì không được cãi lời quan, vì quan là phụ mẫu của dân, là cha mẹ của
dân. Khi mà đạo Nho đã trở lên địa vị độc tôn, thì đương nhiên là muốn làm
quan phải học đạo Nho, và khi ấy được đứng trong hàng ngũ những đệ tử của
Nho giáo là một vinh dự cao xa: “Người nước ta xưa nay chia ra bốn nghề: Sĩ,

ấy đã dẫn đến cái thể chế chính trị bảo thủ, cực đoan “ngoài áp chế không có gì
là tôn chỉ; ngoài phục tòng, không có gì là nghĩ xa”
4
. Nguyên do xuất phát cái
quan điểm chính trị tôn quân ấy là ở cái đạo Tam cương của học thuyết Nho
giáo. Tam cương bao gồm cương vua - tôi, cương vợ - chồng, cương cha – con,
đó là những mối quan hệ rường cột của xã hội phong kiến, được đề ra vào đời
nhà Hán. Nó nhằm mục đích thiết lập nên những phép tắc nhất định hạn chế sự
chỗi dậy làm bạo loạn của những kẻ phản thần tặc tử và chống lại cái đạo pháp
gia đời Tần, tăng uy lực cho ngôi vị thống trị của nhà Hán. Nhưng càng ngày
bọn nho học thống trị phong kiến càng lợi dụng cái ý nghĩa tốt đẹp đó của đạo
Tam cương để đặt ra nhiều phép tắc trói buộc những con dân trong xã hội, vì
chúng sợ bị mất đi địa vị và quyền lợi. Vì thế, nó dẫn đến cái tệ chuyên quyền,
độc đoán của bọn vua quan phong kiến: “Thuở xưa các nước cũng đều có chính
thể rồi. Phàm chính sự trong nước thì chỉ vài vị đại thần được bàn bạc, còn quan
nhỏ thì nghe cũng không được nghe, huống hồ là dân trăm họ! Quyền chuẩn y
hay bác bỏ đều ở trong tay nhà vua, đại thần không được hạn chế, nói gì đến
2
. Như trên, tr. 215.
3
. Như trên, tr. 215.
4
. Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Viẹt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr. 636.
14
những người khác”
1
. Sự chuyên quyền, độc đoán của bọn vua quan đã dẫn đến
tình trạng mất công bằng trong xã hội, dẫn đến sự tách bạch một cách tuyệt đối
giữa vua – quan và dân làm nảy sinh ra cái tư tưởng trọng quan mà khinh dân.
Vì thế mà nó trở thành những điều tệ nhân như Phan Bội Châu đã viết trong Hải

2
. Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr. 61.
3
. Như trên, tr. 61.
1
. Dẫn theo: Văn thơ Đông kinh nghĩa, NXB Văn hoá, HN - 1997, tr.71.
15
mưu sinh của con người. Chúng ta thấy, trong cái tứ dân: sĩ, nông, công, thương,
của xã hội phong kiến lấy học thuyết Nho giáo làm nền tảng tư tưởng thì sĩ là
giai cấp đứng đầu trong cái tứ dân ấy thứ đến là nông, công, thương. Như vậy là
họ đã đề cao cái sự học, coi việc học cũng là một nghề kiếm sống như những
nghề khác. Còn lại thì họ khinh bỉ hết thảy những thứ nghề khác, họ cho đó là
những nghề bỉ lậu, hèn hạ. “Phàm những kẻ biết đôi chút từ chương đã vênh
vang tự cho mình là sĩ, không thèm đứng ngang hàng với nông, công thương, họ
cho là hèn hạ, gọi họ là dân buôn, dân thợ, dân cùng, ngu dốt, thậm chí đã có kẻ
không thèm nói đến vải vóc, thóc gạo nữa”
2
. Nhưng trong số những nghề mà họ
cho là bỉ lậu ấy, thì nghề nông lại đứng đầu tiên, còn thương nghiệp lại xếp cuối
cùng. Tại sao vậy, tại vì cái sự buôn bán mà kiếm lời đã bị Nho giáo coi là thứ
nghề lừa lọc người khác, họ cho như thế là hành động bẩn thỉu, dựa vào đầu lưỡi
và sự nhẹ dạ của người khác để kiếm sống mà xếp nó ở cuối cùng. Họ đâu nhận
ra được cái lợi ích của thương nghiệp là giúp cho hàng hoá được lưu thông, văn
hoá được giao lưu. Thậm chí họ còn tỏ ra sợ hãi khi họ nhận ra cái sự giao lưu
văn hoá qua thương nghiệp, vì như thế thì cái sự cao quý của đạo thánh nhân
cũng sẽ bị đe doạ, người ta sẽ không còn theo đạo của thánh nhân nữa nếu nó
không giúp họ làm giàu. Vì thế mà phải đề cao đạo thánh nhân, đề cao cái nghề
học. Còn nghề thủ công nghiệp được vinh dự đứng sau nông nghiệp là vì nó
cũng mang lại lợi ích bằng sức lao động chân chính của con người, song cái lợi
ích của nó chưa nhiều bằng cái lợi ích của nghề nông là trực tiếp sản xuất ra cái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status