1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Tín dụng là một hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
và tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng trong giai đoạn hiện
nay. Song hoạt động này chứa đựng rủi ro rất cao, gây ra hậu quả
nặng nề không chỉ đối với bản thân ngân hàng mà còn đối với cả
doanh nghiệp và nền kinh tế. vì vậy, tăng cường quản trị rủi ro tín
dụng tại các ngân hàng thương mại thực sự cần thiết đối với sự tồn
tại và phát triển của các ngân hàng.
Tình hình kinh tế thế giới đang diễn biến phức tạp, kinh tế
Thế giới biến động phức tạp đã ảnh hưởng sâu sắc tới toàn bộ nền
kinh tế Việt Nam. Đứng trước tình hình đó, đòi hỏi các ngân hàng
thương mại Việt Nam trong đó có Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà
Nội càng phải nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng,
hạn chế đến mức thấp nhất có thể những nguy cơ tiềm ẩn gây nên
rủi ro.
Bên cạnh đó, trước những thời cơ và thách thức của tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của
các ngân hàng thương mại trong nước với các ngân hàng thương
mại nước ngoài, mà cụ thể là nâng cao chất lượng tín dụng, giảm
thiểu rủi ro đã trở nên cấp thiết. Mặt khác hoạt động tín dụng cũng
tiềm ẩn nhiều rủi ro, bởi vậy các ngân hàng muốn tồn tại, phát triển
thì cần phải có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác quản trị rủi ro tín dụng thích hợp.
2
Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu hiệu quả quản trị
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng
của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Trung tâm
kinh doanh Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội
Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Trung tâm
kinh doanh Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội
4
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.
1.1.1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trung gian tài chính có
chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi
có nhu cầu về vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư, phát triển kinh tế.
Đây là hình thức tài chính gián tiếp chiếm 2/3 tổng lưu chuyển vốn
trên thị trường tài chính.
Theo luật các tổ chức tín dụng (TCTD) số 47/2010/QH12 ngày
16/6/2010, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định
của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngày nay, có rất nhiều tổ
chức hoạt động trên một hoặc một số khía cạnh của NHTM. Kết quả
của một số cuộc điều tra về dịch vụ ngân hàng đã cho thấy, NHTM
đang trải qua những thay đổi mạnh mẽ trong chức năng và hình thức.
Như vậy, xét một cách chung nhất có thể thấy NHTM là một
hàng thương mại), ngân hàng thương mại phải huy động vốn. Một
trong những nguồn vốn huy động quan trọng của ngân hàng là các
khoản tiền gửi của khách hàng.
Nguồn huy động vốn tiếp theo là ngân hàng thương mại có thể
vay vốn từ ngân hàng Trung ương, các ngân hàng và trung gian tài
chính khác hoặc phát hành các chứng từ có giá để vay từ công chúng.
1.1.2.2 Tín dụng.
Đây là hoạt động cung ứng vốn của ngân hàng trực tiếp cho các
nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thỏa mãn các điều kiện vay
6
vốn của ngân hàng. Tín dụng là hoạt động truyền thống của ngân
hàng thương mại và đến nay vẫn được coi là nghiệp vụ sinh lời chủ
yếu của ngân hàng. Hoạt động này sẽ được trình bày chi tiết ở phần
tiếp theo.
1.1.2.3 Đầu tư.
Bên cạnh việc sử dụng vốn để cho vay, ngân hàng thương mại
còn sử dụng vốn để đầu tư vào trái khoán, góp vốn, mua cổ phần…
hoạt động này góp phần nâng cao khả năng thanh toán cho ngân
hàng, làm đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm
phân tán rủi ro và mang lại lợi nhuận không nhỏ cho ngân hàng.
1.1.2.4 Các dịch vụ khác.
Các dịch vụ truyền thống mà ngân hàng thương mại thực hiện
là dịch vụ thanh toán, kinh doanh ngoại hối, cho thuê tủ két. Ngày
nay, các ngân hàng thương mại cung cấp thêm nhiều dịch vụ mới
như: Tư vấn tài chính, môi giới đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát
hành chứng khoán, bán các dịch vụ bảo hiểm, cung cấp các kế hoạch
hưu trí, quản lý tiền mặt…
- 70% tổng thu nhập của ngân hàng thương mại. Bên cạnh việc mang
lại thu nhập chính cho ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh ngân
hàng cũng có xu hướng tập trung vào danh mục tín dụng. Chính vì
vậy mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các
ngân hàng thương mại cũng như thanh tra ngân hàng.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại có các đặc trưng
sau:
- Tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng là tiền.
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngân hàng khi chuyển
giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cở sở để tin rằng người
đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín
dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước
khi quyết định cho vay.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay,
hay nói các khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần
8
vốn gốc.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ
sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn
bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực
chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện
cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
1.1.4. Phân loại tín dụng
1.1.4.1. Căn cứ theo mục đích cho vay.
Căn cứ vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia
thành:
- Tín dụng công nghiệp và thương mại: Là loại hình cho vay
cầu tiêu dùng cá nhân. Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung
hạn hoặc dài hạn tùy theo mục đích sử dụng vốn vay và nguồn trả nợ
của cá nhân.
- Tín dụng đối với tổ chức/doanh nghiệp: Là loại hình cho vay
để phục nhu cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy vào
nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
1.1.4.4. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, hoạt động tín
dụng có thể chia thành:
- Tín dụng không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản
thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay
chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Loại hình cho vay này
thường chỉ được áp dụng đối với một số khách hàng tốt nhất và đã có
quan hệ tín dụng lâu năm với ngân hàng.
- Tín dụng có bảo đảm: Là loại hình cho vay mà ngân hàng yêu
cầu khách hàng phải có bảo đảm như thế chấp cầm cố tài sản hoặc
phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Loại hình cho vay này thường
áp dụng đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với ngân
hàng. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn
thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
10
1.1.4.5. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả.
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả của khách hàng, hoạt động
tín dụng có thể chia thành:
- Tín dụng có thời hạn: Là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn
trả nợ cụ thể theo hợp đồng, bao gồm: Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả
Thông qua hoạt động tín dụng giúp các doanh nghiệp sử dụng
nguồn lao động và nguyên liệu hợp lý thúc đẩy quá trình tăng trưởng
kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội.
1.1.5.2 Thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Hoạt động của các ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời
nhàn rỗi mà vốn này nằm phân tán khắp mọi nơi, trong tay các doanh
nghiệp, các cơ quan Nhà Nước và cá nhân, trên cơ sở đó cho vay các
đơn vị kinh tế, những người có nhu cầu về vốn và từ đó thúc đẩy nền
kinh tế phát triển.
1.1.5.3 Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém
phát triển và ngành mũi nhọn.
Trong điều kiện nước ta, Nhà Nước tập trung tín dụng để tài trợ
cho các ngành kinh tế mũi nhọn, mà phát triển các ngành này sẽ tạo
cơ sở lôi cuốn các ngành kinh tế khác phát triển như sản xuất hàng
xuất khẩu, khai thác dầu khí…
1.1.5.4 Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán
kinh tế của các doanh nghiệp.
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn
trả và có lợi tức. Nhờ vậy mà hoạt động tín dụng đã kích thích sử
dụng vốn và sử dụng có hiệu quả.
Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng
hợp đồng tín dụng, tức phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, tôn
trọng các điều kiện khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng, bằng các tác
động như vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn
tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp.
12
13
nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất. Nó đòi hỏi ngân hàng
phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn
ngừa bớt rủi ro, giảm tối thiểu những thiệt hại có thể xảy ra.
Rủi ro tín dụng cũng đã được rất nhiều nhà khoa học nghiên
cứu và cũng đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau:
- Rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng
không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những
khoản vay.
- Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không
thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ
gốc và lãi không đúng kỳ hạn.
- Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay
không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời gian đã ấn
định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động
ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ
hơn là không hoàn trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với
dòng chu chuyển tiền tệ, và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản
của ngân hàng.
Nếu coi tín dụng là việc "tin tưởng" mà đưa cho khách hàng sử
dụng giá trị hiện tại với mong muốn nhận được giá trị tương lai trong
1 thời gian nhất định thì rủi ro tín dụng chính là khả năng mong muốn
đó không được đáp ứng hay nói một cách khác đó là khả năng xảy ra
sự khác biệt không mong muốn giữa kết quả thực tế và kết quả kỳ
vọng theo kế hoạch - đúng hạn nhận được đầy đủ gốc và lãi.
Với mục tiêu là đúng hạn theo hợp đồng tín dụng nhận được
đầy đủ gốc và lãi như đã nêu ở trên, thì rủi ro tín dụng có thể được
hiểu là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra do các bên đối tác
a. Chỉ tiêu định tính.
Chúng ta có thể chia chỉ tiêu định tính thành các nhóm sau:
* Nhóm 1: Các chỉ tiêu liên quan tới mối quan hệ với ngân hàng, cụ
thể:
15
Mức độ vay thường xuyên gia tăng, chậm thanh toán các khoản
nợ gốc và lãi, thường xuyên yêu cầu ngân hàng cơ cấu nợ, yêu cầu
các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến.
Xu hướng của các tài khoản của khách hàng: Khó khăn trong
thanh toán lương, giảm sút số dư tài khoản tiền gửi, thường xuyên
yêu cầu hỗ trợ vốn lưu động, gia tăng khoản nợ thương mại, …
Khách hàng thường xuyên sử dụng các khoản tài trợ ngắn hạn
cho các hoạt động dài hạn, chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt
nhất, đồng thời là dấu hiệu về việc vốn điều lệ của khách hàng đang
có xu hướng giảm sút, …
* Nhóm 2: Các dữ liệu sử lý thông tin về tài chính kế toán.
Biểu hiện đầu tiên là việc khách hàng cố tình giả mạo các số
liệu kế toán nhằm làm đẹp cho các báo cáo tài chính trình ngân hàng,
làm gia tăng giá trị thực của các tài sản khác. Hoặc trì hoãn việc trình
các chứng từ tài chính liên quan theo yêu cầu của ngân hàng. Bên
cạnh đó còn có các dấu hiệu phi tài chính khác như sự suy giảm uy
tín, đạo đức của các bộ phận trong bộ máy của khách hàng.
*Nhóm 3: Các chỉ tiêu liên quan đến quản lý khách hàng.
Thể hiện đầu tiên là việc thay đổi thường xuyên chính sách
quản lý khách hàng, thay đổi cán bộ quản lý một cách bất hợp lý, các
chi phí phát sinh trong quá trình quản lý không chính xác, các cán bộ
có trình độ yếu kém không theo kịp sự phát triển của khách hàng, …
của TCTD” đã đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các
TCTD qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ càng cao thì chất lượng tín dụng
càng kém và ngược lại. Nếu tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn 5% thì chấp nhận
được và tỷ lệ này càng nhỏ hơn 5% càng tốt.
Theo quyết định 493 thì dư nợ trong ngân hàng thương mại
được chia làm 5 nhóm và chỉ có nhóm nợ 3,4 và 5 được đưa vào nợ
xấu.
Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn:
17
Các khoản nợ trong hạn, có khả năng thu hồi đủ cả gốc và lãi
đúng thời hạn. Các khoản nợ của khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi
theo kỳ hạn đã được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng 1 năm đối với các
khoản nợ trung và dài hạn, 3 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn và
các kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả nâng trả đầy đủ nợ gốc,
lãi đúng hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại thì phân loại vào nợ
nhóm 1.
Nhóm 2: Nợ cần chú ý:
Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại
thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn trả nợ đã cơ cấu lại được đánh
giá là có khả năng trả nợ đầy đủ, đúng hạn.
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn.
Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày; các khoản nợ
cơ cấu lại có thời hạn trả nợ quá hạn dưói 90 ngày theo thời hạn đã cơ
cấu lại
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ.
Nợ qúa hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại
x 100%
=
tổng dư nợ
NHTM thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng
0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 qui định tại
điều 6 hoặc điều 7 quyết định 493 để đảm bảo an toàn trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng.
* Tỷ lệ bù đắp rủi ro.
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng thì các trường hợp
sau được sử dụng quỹ dự phòng để xử lý RRTD:
- Khách hàng vay là tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể, phá sản
theo qui định của pháp luật, cá nhân bị chết hoặc mất tích.
- Các khoản nợ thuộc nhóm 5 được qui định tại điều 6 và điều 7
quyết định 493.
công thức tính:
Dự phòng rr đã bù
Tỷ lệ bù đắp rủi ro = đắp
x 100%
tổng dư nợ
1.1.6.3. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng.
Tỷ lệ nợ mất vốn =
19
a. Nguyên nhân khách quan.
Các cán bộ tín dụng ngân hàng phải được đặt vào một tình
trạng phân tích người vay tương lai theo các điều kiện hiện tại và quá
khứ: Phân tích các kỹ năng quản lý, tình hình sản xuất kinh doanh và
thuế, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị tác động và có thể
ảnh hưởng đến nguồn thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến
nguồn trả nợ ngân hàng.
Chính sách xuất- nhập khẩu vật tư thiết bị: Khi có bất kỳ sự
thay đổi nào về chính sách xuất nhập khẩu vật tư thiết bị sẽ ảnh
hưởng tức thời và trực tiếp đến chi phí và doanh thu của doanh
nghiệp, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất
kinh doanh và làm giảm doanh thu, từ đó gây khó khăn cho việc trả
nợ ngân hàng và vì vậy rủi ro tín dụng của ngân hàng tăng lên.
Chính sách chung về các yếu tố đầu vào: Chính sách này cũng
gây tác động trực tiếp đến chi phí của doanh nghiệp, có thể đẩy doanh
nghiệp vào khó khăn và dẫn đến mất khả năng trả nợ ngân hàng.
- Môi trường tự nhiên.
Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới
hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xảy ra
bất ngờ với thiệt hại lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì
vậy khi có thiên tai, địch hoạ xảy ra khách hàng cùng ngân hàng sẽ có
nguy cơ tổn thất lớn, phương án kinh doanh không có nguồn thu…
điều đó đồng nghĩa với ngân hàng phải cùng chia sẻ rủi ro với khách
hàng của mình. Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, đặc biệt là
những thảm hoạ tự nhiên là khó dự đoán, khó phòng ngừa và khi rủi
ro xảy ra thì ngân hàng và khách hàng phải gánh chịu tổn thất
- Môi trường kinh tế xã hội.
Môi trường kinh tế xã hội trong nước biến động chịu ảnh hưởng
của những biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm
phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh
hưởng tới các lĩnh vực của nền kinh tế trong đó ngân hàng là ngành
hạn cho ngân hàng
22
- Khách hàng gặp rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh:
Khi người vay gặp những rủi ro từ thị trường (ví dụ nhu cầu về loại
sản phẩm của doanh nghiệp bất ngờ giảm sút do một số thông tin bất
lợi), từ bạn hàng (ví dụ doanh nghiệp bị bạn hàng chiếm dụng vốn và
không hoàn trả đúng thời hạn quy định) hoặc từ những rủi ro không
dự kiến được tác động đến nguồn thu của doanh nghiệp và khả năng
trả nợ ngân hàng.
* Khách hàng chủ định lừa đảo ngân hàng.
Trường hợp này người vay kinh doanh có lãi song vẫn không
trả nợ cho ngân hàng đúng hạn hoặc không muốn trả nợ ngân hàng.
Họ chây ì với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc sử dụng vốn vay càng lâu
càng tốt.
Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo
ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Rủi ro đạo đức phát sinh do các
hành động có tác động đến hiệu quả nhưng lại không dễ dàng quan
sát được và vì thế những người thực hiện các hành động này có thể
chọn theo đuổi những lợi ích cá nhân của mình trên cơ sở gây tổn hại
cho người khác. Rủi ro đạo đức trong lĩnh vực tài chính xảy ra sau
khi cấp tín dụng, những người được cấp tín dụng luôn có xu hướng
muốn thực hiện các đầu tư rủi ro hơn những người cho vay mong đợi,
vì chủ đầu tư sẽ có được những khoản lợi nhuận rất lớn nếu dự án
thành công, trong khi những người cấp tín dụng chỉ nhận được một
khoản lợi ích cố định. Ngược lại, nếu dự án thất bại thì bên cho vay
sẽ bị mất một phần hoặc toàn bộ vốn do không được hoàn trả đầy đủ.
c. Nguyên nhân từ bản thân ngân hàng.
nay. Công nghệ ngân hàng thể hiện ở mức độ tập trung thông tin, ở
khả năng phân tích, xử lý thông tin, từ đó rút các kết luận, nhận định
phục vụ cho quản trị ngân hàng như các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng, tình hình phân bổ tài sản, mức độ tập trung rủi ro.... công nghệ
của ngân hàng còn thể hiện khả năng chi phối, kiểm soát đối với hoạt
động của các bộ phận tác nghiệp. Ở mỗi trình độ công nghệ khác
nhau đều phải đòi hỏi một cơ chế quản lý khác nhau.
24
* Trình độ của cán bộ ngân hàng.
Chất lượng cán bộ tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc
sàng lọc được các khách hàng tốt, dự án tốt. Cán bộ tín dụng phải tiếp
xúc với nhiều khách hàng ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau,
nhiều vùng, lãnh thổ, thậm chí nhiều quốc gia khác nhau, để đánh giá
tốt khách hàng họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng
kinh doanh, môi trường mà khách hàng sống. Cán bộ tín dụng phải có
khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến khách hàng vay. Như vậy,
cán bộ tín dụng phải được đào tạo và tự đào tạo kỹ lưỡng và toàn
diện. Khi cán bộ tín dụng cho vay đối với khách hàng mà họ chưa đủ
trình độ để hiểu kỹ lưỡng rủi ro tín dụng luôn rình rập họ. Nguyên
nhân rủi ro từ sự yếu kém của đội ngũ nhân viên ngân hàng có thể từ
việc:
Không phân tích đầy đủ khả năng quản lý kinh doanh của
doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp vai trò của người lãnh đạo rất
quan trọng, sự thành bại trong hoạt động phụ thuộc rất nhiều vào định
hướng và ra quyết định của người lãnh đạo doanh nghiệp đó. Nếu cho
vay mà không đánh giá đúng khả năng của người quản lý sẽ dễ dẫn
đến tổn thất.
lý khoản vay của khách hàng.
Ở giai đoạn trước khi cho vay việc không chấp hành nghiêm túc
chế độ tín dụng, điều kiện cho vay; xem xét, đánh giá khách hàng,
khoản vay không kỹ, không tốt sẽ dẫn đến khả năng xảy ra rủi ro tín
dụng trong tương lai.
Ở giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoản vay: Giải
ngân không tuân thủ theo điều kiện; yếu kém trong kiểm soát, theo
dõi (không kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, việc
kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của
khách hàng bị buông lỏng, việc kiểm soát, theo dõi danh mục khoản
vay không được thực thi một cách có hiệu quả) sẽ dẫn đến khả năng
xảy ra rủi ro tín dụng trong tương lai.
1.1.6.4. Hậu quả của rủi ro tín dụng.