MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................139
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắtDiễn giải
VIB
VietNam International Join - stock Commercial Bank
Ngân hàng Quốc Tế
SMEs
Small Medime Enterprises (Doanh nghiệp vừa và nhỏ)
NHTM
Ngân hàng Thương mại
NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần
NH
Ngân hàng
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
TCTD
Tổ chức tín dụng
KH
Khách hàng
VLĐ
Vốn lưu động
VKD
Vốn kinh doanh
SXKD
Sản xuất kinh doanh
CIC
Error: Reference source not found
Bảng 2.3: Cơ cấu dư nợ khách hàng SMEs tại VIB qua
các năm Error: Reference source not found
Bảng 2.4: Phân chia dư nợ Khách hàng SMEs theo kỳ
hạn Error: Reference source not found
Bảng 2.5: Dư nợ khách hàng SMEs của VIB phân theo
nhóm nợ qua các năm.
Error: Reference source not
found
Bảng 2.6: Tình hình nợ xấu của các khách hàng SMEs
tại VIB qua các năm Error: Reference source not found
Bảng 2.7: Bảng xếp loại doanh nghiệp Error: Reference
source not found
Bảng 2.8 : Một số chỉ tiêu kinh doanh năm 2011 Error:
Reference source not found
BIỂU ĐỒ
1.4.4.3. Tổ chức thực hiện kế hoạch quản trị rủi ro tín dụng......................38
Lựa chọn khách hàng...........................................................................38
1.4.4.4 Xử lý nợ có vấn đề..................................................................40
Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro..........................................................41
Tổ chức Bộ máy kiểm tra giám sát tín dụng độc lập của VIB....................97
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................139
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ngân hàng là ngành kinh tế trọng điểm, là mạch máu của toàn
bộ nền kinh tế. Trong các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
lọc các doanh nghiệp là rất nhiều, rất nhiều doanh nghiệp vừa và
nhỏ (khách hàng SMEs) làm ăn yếu kém, thiếu tầm nhìn đã rơi vào
phá sản. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng. Nợ quá hạn, nợ
xấu tăng lên, hậu quả của thời kỳ phát triển tín dụng bằng mọi giá
và thiếu kiểm soát rủi ro tín dụng. Lúc này cần thiết phải nhìn lại
cách quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng để ngân hàng có thể phát
triển một cách bền vững
Chính từ những suy nghĩ đó, việc tổng hợp đánh giá các biện
pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Quốc tế đang là vấn đề
bức xúc cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Qua đó định dạng
được những mặt mạnh, những mặt còn hạn chế để tìm kiếm những
giải pháp, những công cụ mới nhằm tăng cường và hoàn thiện quy
trình quản trị rủi ro tín dung tại Ngân hàng Quốc Tế. Thực trạng đó
của ngành ngân hàng nói chung và tại Ngân hàng Quốc tế nói riêng
trong thời gian qua là tiền đề cho quyết định lựa chọn đề tài “Quản
trị rủi ro tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
3
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam” cho luận văn thạc sỹ của
mình. Bằng đề tài này tác giả mong muốn đánh giá được thực trạng
quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Quốc tế đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, qua đó đánh giá nguyên nhân, hạn chế để từ đó
có thể đưa ra được những giải pháp để quản trị tốt hơn rủi ro tín
dụng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của
Ngân hàng thương mại.
ro tín dụng, từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hạn chế rủi
ro tín dụng tại VIB.
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham
khảo và các danh mục khác, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng
các doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM.
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại VIB.
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại VIB.
5
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1 Các vấn đề cơ bản về Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)
1.1.1.Khái niệm về SMEs
Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước
phát triển đều thấy rõ vai trò và vị trí của các SMEs trong tiến trình
phát triển kinh tế - xã hội của mình. Tuy nhiên, chưa có một khái
niệm thống nhất cho các nước để xác định SMEs. Một doanh nghiệp
được xem là vừa và nhỏ ở một quốc gia này lại có thể xem là doanh
nghiệp lớn hoặc quá nhỏ ở một quốc gia khác. Thậm chí, trong bản
thân mỗi quốc gia, tùy vào mục đích mà người ta có thể sử dụng các
tiêu chí khác nhau để phân loại doanh nghiệp. Điều này đã và đang
gây khó khăn trong hoạch định và triển khai các chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, chiến lược khuyến khích và hỗ trợ SMEs.
Là một doanh nghiệp với quy mô nhỏ và vừa nên bên cạnh
7
những đặc điểm cơ bản của một doanh nghiệp thông thường, SMEs
còn một số đặc điểm sau:
Đây là loại hình doanh nghiệp có thể được tạo lập dễ
dàng. Để thành lập loại hình doanh nghiệp này chỉ cần một số vốn
đầu tư ban đầu tương đối ít, với một mặt bằng sản xuất hàng hóa
nhỏ, quy mô nhà xưởng không lớn nên doanh nghiệp có thể giảm
được chi phí cố định, tận dụng được lao động thay thế cho vốn với
giá công lao động thấp, hơn nữa khả năng thu hồi vốn của loại hình
doanh nghiệp này khá nhanh, tăng tốc độ vòng quay vốn để đầu tư
vào các công nghệ tiên tiến hơn, hiện đại hơn, bước đầu đã mang
lại hiệu quả kinh tế cho cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng.
Mô hình quản lý gọn nhẹ, có mối quan hệ nội bộ dễ điều
chỉnh. Các SMEs có tính linh hoạt cao, có khả năng quan tâm trực
tiếp tới thị trường và người tiêu thụ nên dễ dàng tìm kiếm và đáp
ứng các nhu cầu, thị hiếu trong thị trường chuyên môn hóa. Đồng
thời, mô hình quản lý gọn nhẹ, ít trung gian đầu mối thì sẽ giúp
doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí, tận dụng được các cơ hội
kinh doanh. Mặt khác, khi gặp những biến cố của môi trường kinh
doanh, loại hình doanh nghiệp này dễ xoay chuyển bằng cách
chuyển đổi hoặc thu hẹp quy mô sản xuất của mình vì vậy mà tổn
thất giảm đi rất nhiều.
SMEs hoạt động đa dạng, phong phú trong mọi lĩnh vực,
mọi thành phần kinh tế. Không chỉ thuận lợi trong việc tạo lập và dễ
thích nghi mà SMEs còn có thể phát triển rộng khắp các vùng của đất
mà thường xuyên thay đổi ngành nghề, cơ cấu mặt hàng, đa dạng về
chủng loại hàng hóa dịch vụ nhưng không lớn về số lượng
Nội dung và phương pháp hạch toán kế toán của SMEs
thường không đầy đủ, không chính xác và thiếu minh bạch. Khả
năng lập các phương án sản xuất kinh doanh còn yếu, tính thuyết
phục chưa cao. Doanh nghiệp chưa chỉ cho ngân hàng thấy được lợi
thế cạnh tranh của doanh nghiệp mình so với các doanh nghiệp
khác, không dự trù được đầy đủ các chi phí cũng như các khoản thu
để từ đó ước tính lợi nhuận mà phương án đem lại.
1.2 Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
1.2.1. Khái niệm chung về tín dụng ngân hàng
Tín dụng nói chung được hiểu là quan hệ vay mượn, quan hệ sử
dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay theo nguyên
tắc hoàn trả. Quan hệ này được xác lập trên cơ sở lòng tin hoặc tín
nhiệm lẫn nhau giữ các chủ thể trong quan hệ đó.
Đối với ngân hàng nói riêng và đối với các tổ chức trung gian
tài chính nói chung, tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỷ
trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và
cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất.
Tín dụng hiểu theo nghĩa rộng là quan hệ vay mượn, bao gồm
cả đi vay và cho vay. Tuy nhiên, khi gắn tín dụng với chủ thể nhất
10
định là ngân hàng (hoặc các trung gian tài chính khác) thì tín dụng
chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay. Việc xác định như thế này
là rất quan trọng để định lượng tín dụng trong các công tác nghiên
cứu cũng như các hoạt động kinh tế.
Kỳ hạn
Thanh toán
Các điều khoản
Bảo đảm tiền vay
Các vấn đề khác
Phê duyệt
Cán bộ quản trị rủi
ro
Giám đốc/Tổng
giám đốc
THỦ TỤC HỒ SƠ & GIẢI NGÂN
Thủ tục hồ sơ
Dự thảo hợp đồng
Xem xét hồ sơ
Kiểm tra tài sản bảo đảm
Miễn bỏ giấy tờ pháplý
Các vấn đề khác
Giải ngân
Thủ tục hồ sơ hoàn tất
Chuyển tiền
QUẢN LÝ DANH MỤC
1.2.2. Quy trình cho vay của ngân hàng đối với SMEs
Quản lý tín dụng
12
1.3. Các vấn đề về rủi ro tín dụng đối với SMEs
1.3.1. Quan niệm về rủi ro tín dụng.
Có rất nhiều học giả nghiên cứu về rủi ro và đã đưa ra những
khái niệm rủi ro như “Rủi ro là bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại” ;
“Rủi ro là bất trắc cụ thể liên quan đến nhiều biến cố không mong
đợi”. Tuy nhiên hầu hết các quan điểm đều thống nhất quan điểm:
“Rủi ro là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước và thường
gây ra hậu quả xấu”. Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe doạ sự
sống còn của doanh nghiệp. Thường thì những hoạt đông kinh
doanh mang lại lợi nhuận càng cao thì ẩn chứa rủi ro càng lớn, mâu
thuẫn này luôn luôn tồn tại. Vì vậy muốn có lợi nhuận cao thì cần
phải chấp nhận rủi ro. Do vậy để tồn tại và phát triển trong môi
trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, các doanh nghiệp cần phải
đương đầu với rủi ro bằng cách dự đoán rủi ro có thể xảy ra để tìm
những biện pháp hạn chế, phòng ngừa nhằm giảm thiểu thiệt hại do
rủi ro gây ra .
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc
biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, luôn phải đối mặt với nhiều
loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi
ro thị trường, rủi ro hoạt động….
Ở các Ngân hàng thương mại của Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay thì hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động mang lại doanh thu
13
Như vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong
các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng
nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ
trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu
công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo
lãnh, bao thanh toán của ngân hàng. Đây còn được gọi là rủi ro mất
khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất
lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.
1.3.2 .Phân loại rủi ro tín dụng.
Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau, có thể chia rủi ro tín dụng
thành nhiều loại khác nhau tùy theo mô hình hoạt động và mục tiêu
quản lý rủi ro của mỗi ngân hàng.
1Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được
phân chia thành các loại sau đây:
- Rủi ro giao dịch (Transaction risk): là một hình thức của rủi ro
tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá
trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro
giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và
rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro phát sinh trong quá trình đánh giá
các chỉ tiêu của khách hàng và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa
chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho
vay.
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các
15
điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ
+ Rủi ro chủ quan: là rủi to tín dụng xảy ra do người vay hoặc
người cho vay vô tình hay cố ý làm cho thất thoát vốn vay.
a. Căn cứ vào thời hạn khoản vay:
Theo cách phân loại này thì rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro theo
khoản vay ngắn hạn và rủi ro theo khoản vay trung dài hạn.
1.3.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.3.3.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
b. Do nguồn nhân lực của ngân hàng còn kém
Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng của bất kỳ một hoạt
động kinh doanh nào và nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh
doanh, ở đây là lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Rủi ro này phát sinh
do năng lực của nguồn nhân lực tín dụng hạn chế, không dự báo,
phân tích được tình hình thực tế, không am hiểu luật ngân hàng,
ngành nghề kinh doanh, khả năng điều tra, phân tích yếu kém...
Cũng có khi đó là do sự yếu kém về đạo đức của cán bộ tín dụng,
cho vay chỉ mưu lợi cá nhân mà không quan tâm hoặc lường trước
hậu quả nên gây tổn hại đến ngân hàng. Như vậy chất lượng nhân
viên ngân hàng bao gồm trình độ và đạo đức nghề nghiệp không
đảm bảo là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng.
c. Chính sách tín dụng không đúng đắn
Chính sách tín dụng thiếu hay chưa đúng đắn sẽ dẫn đến cán bộ
thực thi thiếu cơ sở để thực hiện tín dụng và dựa chủ yếu vào cảm
tính dẫn đến rủi ro tín dụng. Thiếu chính sách cho vay, thiếu tiêu
17
chuẩn rõ ràng, đúng đắn sẽ gây khó khăn cho cán bộ tín dụng để cấp
tín dụng, gây thiếu nhất quán, đồng bộ trong quá trình cho vay dẫn
đến cấp tín dụng sai sót và gây nên rủi ro tín dụng làm ảnh hưởng
cạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu trình độ quản lý yếu kém đặc biệt
là quản lý tài chính kém thì sẽ dẫn tới việc kinh doanh thua lỗ, phá
sản gây mất khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết với ngân hàng tức
là không có khả năng trả nợ ngân hàng đầy đủ và đúng hạn.
Bên cạnh đó còn có một số khách hàng chủ động thực hiện
những hành vi lừa đảo, thủ đoạn tinh vi, cung cấp thông tin sai lệch
và cố tình không trả nợ cho ngân hàng gây thiệt hại cho ngân hàng.
1.3.3.3.Các nguyên nhân bất khả kháng
Đó là các yếu tố khách quan gây nên mà ngân hàng và người đi
vay không lường trước được như thiên tai, địch họa và nếu xảy ra thì
cả ngân hàng và người đi vay cùng phải chịu tổn thất lớn, yếu tố này
khó phòng ngừa và hậu quả thì nghiêm trọng.
Ngoài ra còn do các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ,
các biến động về kinh tế chính trị của thế giới như chu kỳ kinh tế,
lạm phát, thất nghiệp…những yếu tố này tác động trực tiếp tới các
lĩnh vực của nền kinh tế, ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của
người vay và ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thanh toán nợ vay.
Môi trường kinh tế xã hội trong nước biến động chịu ảnh hưởng của
19
những biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát
sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh
hưởng tới các lĩnh vực của nền kinh tế trong đó ngân hàng là ngành
chứa đựng nguy cơ rủi ro lớn nhất. Môi trường kinh tế có ảnh
hưởng rất lớn đến sức mạnh tài chính của người vay và thiệt hại hay
thành công của người vay. Các khoản cho vay khó được thu hồi
trong trường hợp khủng hoảng kinh tế xảy ra.
Bên cạnh đó hoạt động kinh doanh tín dụng phụ thuộc rất nhiều
hàng. Rủi ro tín dụng nếu xảy ra sẽ có thể gây nên các thiệt hại sau
đây:
Thứ nhất, đối với nền kinh tế : hoạt động ngân hàng có liên
quan đến hoạt động của nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh
tế. Bởi vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra đối với một ngân hàng nào đó
thì sẽ tác động đến tâm lý những người gửi tiền ở những ngân hàng
khác và nghiêm trọng nhất là tình trạng đổ xô đến ngân hàng rút
tiền. Như vậy, chỉ một ngân hàng phá sản cũng có thể gây ra hội
chứng Domino khiến một loạt các ngân hàng khác gặp khó khăn.
Ngoài ra, ngân hàng phá sản sẽ tác động đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công
nhân viên gặp khó khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng
ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế
bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất
21
ổn định. Thêm nữa, với xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì nền kinh tế
của một quôc gia có vấn đề còn có thể tác động xấu đến nền kinh tế
thế giới, bời mỗi quốc gia đều có sự phụ thuộc hay liên hệ với một
vài quốc gia nào đó trong khu vực hoặc trên thế giới.Hãy nhìn lại
cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997) hay gần hơn là cuộc
khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) đã làm rung chuyển
toàn cầu.
Thứ hai, đối với ngân hàng: khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng
không thu được vốn và lãi của khoản cho vay nhưng vẫn phải trả
vốn và lãi cho khoản tiền đã vay từ người gửi khi đến hạn, điều này
làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Nợ không thu
được làm giảm vòng quay vốn tín dụng và do đó việc kinh doanh
rủi ro đối với các nhà quản trị ngân hàng là phải nhận biết “rủi ro
cho phép”.Việc chấp nhận mức độ rủi ro tín dụng chính là điều
kiện quan trọng để điều tiết những tác động tiêu cực của chúng
trong quá trình quản lý rủi ro.
- Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép.
Nguyên tắc này đòi hỏi phần lớn rủi ro tín dụng trong gói
"rủi ro cho phép" phải có khả năng điều tiết trong quá trình quản
lý mà không phụ thuôc vào hoàn cảnh khách quan hay chủ quan
của nó. Chỉ có những loại rủi ro như vậy thì nhà quản trị mới có
thể sử dụng tất cả "vũ khí", "nghệ thuật" của mình để điều tiết