phân tích về những đặc điểm cơ bản của triết học hy lạp cổ đại - Pdf 35

ĐẶT VẤN ĐỀ
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên
thủy được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ. Những triết học đầu tiên trong
lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước công nguyên ở Ấn Độ cổ đại,
Trung quốc cổ đại, Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở các nước khác.
Triết học được xem là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những
nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối với
thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Triết học Phương Tây cổ đại là một bộ phận quan trọng trong hệ thống triết
học thế giới. Đối tượng của triết học phương Tây nói chung ngoài phần siêu hình
học bàn về những ý niệm trừu tượng như bản thể, ý thức, hư vô, còn lại là những
hành trình vào các vấn đề cụ thể có liên quan tới con người như cảm giác, nhận
thức, ký ức, hạnh phúc, đạo đức. Các vấn đề về con người như con người tri thức
thế giới xung quanh như thế nào, vai trò của con người trong quá trình nhận thức
như thế nào hay những vấn đề và xã hội như quan hệ giữa các nhân và xã hội, ai
quan trọng hơn, đạo đức là vấn đề xã hội hay vấn đề cá nhân, quan hệ giữa cá
nhân và nhà nước… là trọng tâm trong quan điểm của các triết gia phương Tây,
trong đó triết học của nhà nước Hy Lạp cổ đại là tiêu biểu cho triết học phương
Tây thời điểm đó.
Bài tiểu luận này sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích về những đặc điểm cơ
bản của triết học Hy Lạp cổ đại, nhằm hướng tới tìm hiểu một cách khái quát về
triết học phương Tây cổ đại.

1


GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Hoàn cảnh ra đời của nền triết học Hy Lạp thời kỳ cổ đại
1.1. Về điều kiện tự nhiên, địa lý
Hy Lạp cổ đại là một quốc gia rộng lớn có khí hậu ôn hòa. Bao gồm miền
Nam bán đảo Ban Căng, miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở miền

hóa ra làm hai giai cấp xung đột nhau là chủ nô và nô lệ. Lao động bị phân hóa
thành lao động chân tay và lao động trí óc. Đất nước bị chia phân thành nhiều
nước nhỏ. Mỗi nước lấy một thành phố làm trung tâm. Trong đó, Sparte và Athen
là hai thành phố cổ hùng mạnh nhất, nồng cốt cho đất nước Hy Lạp cổ đại.
Thành bang Athen nằm ở vùng đồng bằng thuộc Trung bộ Hy Lạp, có điều
kiện địa lý thuận lợi nên đã trở thành một trung tâm kinh tế, văn hóa của Hy Lạp
cổ đại, và là cái nôi của triết học Châu Âu. Tương ứng với sự phát triển kinh tế,
văn hóa là thiết chế nhà nước chủ nô dân chủ Athen.
Thành Sparte nằm ở vùng bình nguyên, đất đai rất thích hợp với sự phát
triển nông nghiệp. Chủ nô quý tộc thực hiện theo lối cha truyền con nối. Chính vì
thế Sparte đã xây dựng một thiết chế nhà nước quân chủ, thực hiện sự áp bức rất
tàn khốc đối với nô lệ.
Chính cuộc đấu tranh giữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc đã là những
điều kiện chính trị quan trọng cho cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng cũng như sự ra đời và phát
triển của triết học Hy Lạp cổ đại nói chung.
Vào khoảng cuối thế kỷ thứ VII – đầu thế kỷ thứ VI TCN, các thị quốc bước
vào thời kỳ phát triển khá thịnh vượng. Sự phân công lao động lần thứ hai (tách
nghề thủ công ra khỏi nghề nông) và xuất hiện đồng tiền kim khí đã tạo nên
những khởi sắc trong các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là sự hình thành các
nhóm người sống bằng lao động trí óc, biết tích hợp những tinh hoa văn hoá, khoa
học vào trong những cách ngôn, những tản văn có giá trị nhận thức cao.

3


Trong thời đại này Hy Lạp đã xây dựng được một nền văn minh vô cùng xán
lạn, là cơ sở hình thành nên nền văn minh phương Tây hiện đại ngày nay với
những thành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau như:
Về văn học: một kho tàng văn học thần thoại rất phong phú, những tập thơ

Độ… Với hệ thống triết học đa dạng, với những nhà triết học đã đạt tới đỉnh cao
trí tuệ của loài người thời cổ đại, Hy Lạp đã trở thành cái nôi của triết học châu
Âu. Nền văn hoá Hy Lạp cổ đại nói chung, cũng như triết học Hy Lạp cổ đại nói
riêng, đã được lịch sử tư tưởng loài người coi là đỉnh cao rực rỡ của nền văn minh
thế giới cổ đại. Ăngghen cho rằng : “ Về mặt triết học cũng như về nhiều lĩnh vực
khác, chúng ta phải luôn luôn trở lại với thành tựu của dân tộc nhỏ bé mà năng lực
và sự hoạt động về mọi mặt đã tạo ra cho nó một địa vị mà không một dân tộc nào
khác có thể mong ước có được trong lịch sử của nhân loại.
II. Những đặc điểm cơ bản của Triết học Hy Lạp cổ đại
1. Tính tổng hợp của nền triết học Hy Lạp cổ đại.
Sự phân công lao động xã hội giữa lao động trí óc và lao động chân tay diễn
ra lần đầu tiên trong xã hội chiếm hữu nô lệ. Kết quả của sự phân công này là
trong xã hội thời cổ đại đã hình thành một bộ phận trí thức chuyên nghiệp.
Lúc đầu, do khoa học chưa phát triển các bộ môn khoa học cụ thể cũng chưa
được hình thành, cho nên các nhà tri thức cũng chưa phân công nghiên cứu
chuyên ngành; họ nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể. Người tri thức hay nhà
khoa học trong xã hội, đó vừa là nhà triết học, đạo đức học, mỹ học vừa là nhà
toán học, thiên văn học hay sinh vật học, vật lý học…Vì lẽ đó triết học thời kỳ cổ
đại là “bộ môn” tổng hợp. Mọi tri thức về tự nhiên đều được tổng hợp trong hệ
thống triết học để vẽ nên bức tranh tổng quát về thế giới.
Trong thời kỳ này không thể không nhắc đến Aristote - bộ óc bách khoa của
nền triết học và khoa học Hy Lạp cổ đại. Aristote (384 - 322 TCN) là học trò xuất
sắc của Platon - sinh tại Sta-gi-re, cách A-ten về phía bắc 300km, một thuộc địa
của xứ Macedoine. Sự nghiệp sáng tác của ông trải qua ba thời kỳ chính: thời kỳ
A-ten lần thứ nhất (367 - 347 TCN) hay thời kỳ Hàn Lâm Viện, chịu ảnh hưởng
5


trực tiếp của Platon; thời kỳ viễn du (những năm 40 - đầu 30 TCN) phê phán một
số luận điểm nền tảng trong triết học Platon, nhất là học thuyết về tồn tại; thời kỳ

văn chương,...
2. Tính đa dạng về trường phái, trào lưu của triết học
Với số lượng phong phú của các trường phái, trào lưu, triết học Hy Lạp cổ
đại là mầm mống, khởi nguyên của tất cả các loại thế giới quan sau này. Các
trường phái muôn vẻ ấy đã hình thành và xuất hiện trong cuộc đấu tranh lâu dài
giữa khoa học và tôn giáo, trong cuộc đấu tranh gay gắt giữa các tập đoàn của giai
cấp chủ nô với nhau và giữa giai cấp chủ nô với giai cấp nô lệ. Nói cách khác,
chính đấu tranh ngày càng căng thẳng diễn ra trong trường kỳ lịch sử của chế độ
chiếm hữu nô lệ Hy Lạp quyết định tính đa dạng của nền triết học này. Đó là cơ
sở xã hội làm xuất hiện nhiều trường phái và trào lưu triết học, trong đó có hai
khuynh hướng cơ bản đối lập nhau: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Tính đa dạng của triết học Hy lạp cổ đại còn được bổ sung do sự mở rộng
quan hệ văn hoá, quan hệ giao thương, giao tiếp với các nước phương Đông. Nhờ
vậy, nhiều nhà triết học cổ đại đă tiếp thu được những thanh tựu khoa học và
những quan điểm triết học từ những nước này.
Các ngành khoa học ở phương Đông như toán học, thiên văn học, địa lý, hệ
thống đo lường, lịch pháp đều có lịch sử lâu đời, ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát
triển của tri thức khoa học Hy Lạp. Người Ai Cập tính được số pi, diện tích hình
tam giác, hình chữ nhật, hình bình hành, hình thang, hình tròn. Hệ thống lịch pháp
được xác lập vào đầu thiên niên kỷ II TCN. Nếu người Ai Cập, theo khẳng định
của sử gia Héradotus, đã phát minh ra tính thời gian một năm (bằng 365 ¼ ngày
đêm) sớm nhất thế giới, thì Babylon lại có công hoàn thiện thêm một bước. Tại
đó, hiện còn lưu giữ được một chỉ dụ của hoàng đế Hammurabi (1792 - 1750) về
tháng bổ sung, để kéo âm lịch (12 tháng với 354, 36 ngày đêm) đến gần với năm
dương lịch (365, 24 ngày đêm). Cách tính giờ hiện nay cũng xuất phát từ cách
tính của Babylon.
Các nhà triết học đầu tiên phần lớn đồng thời là các nhà khoa học, thường
xuyên đi du lịch sang phương Đông, hoặc sinh tại khu vực Cận đông, như Ta-lét,
7


8


Chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại phản ánh thế giới quan đúng đắn, có tác
dụng thúc đẩy toàn bộ xã hội, sản xuất, văn hoá, khoa học trong xã hội chiếm hữu
nô lệ. Nét nổi bật của chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại là tính chất mộc mạc thô
sơ của nó. Nó giải thích tự nhiên trên quan điểm duy vật thô sơ, thuần phác. Theo
Ănghen đó là “Quan niệm về thế giới một cách nguyên thuỷ, ngây thơ, những căn
bản là đúng”. Chủ nghĩa duy vật khẳng định thế giới vật chất tồn tại khách quan.
Thế giới đó không do thần thánh hoặc do một lực lượng siêu nhiên nào đó tạo
nên. Thế giới vật chất xuất hiện từ vật chất, từ những nguyên thể vật chất đầu tiên
như: nước, lửa, không khí, nguyên tử… Song, do trình độ khoa học còn ở mức rất
thấp cho nên các nhà triết học duy vật đương thời chỉ có thể quan sát trực tiếp
những hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận khoa học. Họ chưa có điều
kiện và khả năng đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất
sự vật mà có thể vẽ được bức tranh tổng quát về thế giới, về tự nhiên. Theo
Ăngghen, “Họ hãy còn quan niệm thế giới tự nhiên, như một chỉnh thể và xem xét
chỉnh thể ấy trong toàn bộ của nó. Đó là “bức tranh tổng quát trong đó những chi
tiết còn mờ nhạt ít nhiều”. Tuy vậy, quan niệm duy vật thô sơ này cũng đã có tác
động rất lớn trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, chống tôn giáo,
chống thần học cổ đại, tức là chống lại sự thống trị, áp bức về tinh thần của tập
đoàn chủ nô quý tộc phản động.
Về lý luận nhận thức các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã giải quyết
đúng đắn mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học, họ cho rằng con người có
khả năng nhận thức được thế giới, nhận thức được chân lý khách quan. Đối tượng
của nhận thức, theo họ, không phải là họ là những người đầu tiên nêu lên cảm
giác luận duy vật và cho rằng cảm giác có ý nghĩa bậc nhất trong quá trình nhận
thức. Nhận thức lý tính không tách rời nhận thức cảm tính. Theo họ đó là hai giai
đoạn của quá trình nhận thức. Các nhà khoa học đã đứng trên quan điểm nhận
thức luận duy vật để chống lại chủ nghĩa duy lý duy tâm.

tưởng sâu xa đó. Các nhà triết học càng về sau càng tập trung tranh luận với nhau
về khả năng và giới hạn của nhận thức, về các phương pháp và phương tiện nhận
thức, về nguồn gốc, cơ sở và tiêu chuẩn của chân lý. Triết học Hy Lạp, trong tính
muôn vẻ của nó, đã xét đoán con người từ nhiều góc độ khác nhau, song tất cả
đều quy về một câu hỏi lớn: cần phải xác lập một thiết chế xã hội như thế nào để
10


ở đó con người được sống hạnh phúc, bình yên? Từ Socrate trở đi, vấn đề con
người và xã hội trở thành "điểm nóng", thành mối quan tâm không thể thiếu trong
sáng tác của các triết gia.
Mặc dù các nhà triết học còn có những ý kiến khác nhau về bản chất con
người, nhưng họ đều coi trọng con người, coi con người là tinh hoa cao quý của
tạo hóa, con người cần chinh phục tự nhiên để phục vụ cho mình. Pi-ta-go cho
rằng: “Con người là thước đo của tất thảy mọi vật”.
Các nhà triết học tập trung lý giải bản chất con người, hoạt động sống và
năng lực sáng tạo của họ, những vấn đề xã hội, đạo đức, quan hệ giữa người với
người, vẽ ra một thiết chế nhà nước lý tưởng phục vụ cộng đồng. Con người trong
triết học Hy Lạp cổ đại kết hợp lý trí với đức hạnh, sự khôn ngoan và mực thước,
khát vọng tự do và trách nhiệm công dân. Hoàn cảnh lịch sử không cho phép các
nhà triết học vượt qua những hạn chế nhất định về thế giới quan và phương pháp
luận trong quan niệm về xã hội và con người, nhưng xét đến cùng chính họ đã
khơi dòng cho truyền thống nhân văn hầu như xuyên suốt lịch sử phương Tây .
5. Tư tưởng biện chứng sơ khai
Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nghiên cứu phép biện chứng chỉ cốt nâng
cao nghệ thuật tranh luận, nghệ thuật hùng biện để bảo vệ những quan điểm triết
học của mình và để tìm ra chân lý. Kết quả của quá trình nghiên cứu này, nhiều
nhà triết học đã nhận thức được và phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng
như: mối quan hệ giữa các hiện tượng và sự vật, sự vận động vĩnh viễn của vật
chất, tính thông nhất của những mặt đối lập của sự vật, tính nhân quả của sự phát

- Các vấn đề triết học còn chưa rõ ràng, sơ khai, chưa được hệ thống hóa một
cách chặt chẽ.
- Tuy có đặt vai trò của con người, nhưng chưa hoàn toàn tách khỏi yếu tố
thần linh.

12


KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Trong Triết học Hy Lạp cổ đại, vấn đề con người, xã hội luôn nằm trong số
các vấn đề thu hút sự tham gia nghiên cứu của các triết gia tiêu biểu qua các thời
kỳ và giai đoạn. Tư tưởng của các triết gia về các vấn đề này phản ánh thực tiễn
điều kiện, hoàn cảnh kinh tế xã hội tại Hy Lạp vào giai đoạn này. Tuy còn có
những hạn chế nhất định do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định quy
định tại thời điểm đó cũng như những hạn chế trong phương pháp tiếp cận nhưng
Triết học Hy Lạp cổ đại đã đánh dấu sự xuất hiện và cũng là cơ sở để phát triển
những tư tưởng mới, tiến bộ về con người, xã hội, đặt nền móng cho sự phát triển
nói chung của Triết học phương Tây.

13


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ.........................................................................................................1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.........................................................................................2
1. Hoàn cảnh ra đời của nền triết học Hy Lạp thời kỳ cổ đại........................2
1.1. Về điều kiện tự nhiên, địa lý ....................................................................2
1.2. Về kinh tế..................................................................................................2
1.3. Về chính trị - xã hội .................................................................................3
1.4. Sự giao lưu về văn hoá tây - đông............................................................4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status