Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về các giai đoạn cơ bản của quá trình nhận thức và mối quan hệ giữa chúng - Pdf 35

A. MỞ ĐẦU
Hoạt động nhận thức là hoạt động phản ánh sự vật, hiện tượng trong thế giới
khách quan. Có thể nói nhờ có hoạt động nhận thức mà con người làm chủ được tự
nhiên, làm chủ được xã hội và làm chủ được chính bản thân mình. Quan niệm về
nhận thức, quá trình nhận thức và bản chất và bản chất của nhận thức, trong lịch sử
triết học từ trước đến nay đã xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau hết sức phong
phú và đa dạng. Tuy nhiên, những quan điểm này phần lớn đều mắc phải những sai
lầm, phiến diện khi nhìn nhận về nhận thức. Kế thừa, sửa chữa và phát triển những
quan điểm sai lầm về nhận thức của các nhà triết học đi trước, chủ nghĩa duy vật
biện chứng đã có quan điểm đúng đắn về các giai đoạn cơ bản của quá trình nhận
thức và mối quan hệ giữa chúng. Để tìm rõ hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng
em xin lựa chọn đề tài: “Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về các
giai đoạn cơ bản của quá trình nhận thức và mối quan hệ giữa chúng”.
B. NỘI DUNG
I.
Khái quát chung các quan điểm về nhận thức trong lịch sử hình
thành và phát triển triết học
1. Khái quát chung về nhận thức
Lý luận nhận thức được coi là học thuyết về khả năng nhận thức của con
người, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức cũng như về con đường, phương
pháp nhận thức…Từ trước đến nay, vấn đề nhận thức luôn là một trong những bộ
phận cơ bản của khoa học triết học. Tất cả các trào lưu triết học đều xuất phát từ
thế giới quan của mình để đưa ra những hệ thống quan điểm nhất định về vấn đề
nhận thức.
Khi trình bày quan niệm về nhận thức, trong lịch sử triết học đã xuất hiện
nhiều quan niệm khác nhau. Nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất
phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu và hình thức khác nhau.
1


Song đây chính là con đường biện chứng của quá trình nhận thức: “đi từ trực quan

và Ăngghen đánh giá rất cao cũng không thoát khỏi những quan niệm phiếm diện,
hẹp hòi về nhận thức. Chính vì vậy mà trong "Luận cương về Phơ – bách”, C. Mác
đã nêu lên một nhận định có tính tổng kết về hạn chế của chủ nghĩa duy vật và triết
học trước đó về nhận thức rằng: "Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy
vật từ trước tới nay - kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơ - bách là sự vật, hiện thực
khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm
giác của con người, là thực tiễn, không nhận thức được về mặt chủ quan".
Đối với các quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật thừa nhận khả năng nhận thức
của con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu
óc của con người. Tuy nhiên do hạn chế bởi tính trực quan, siêu hình nên chủ nghĩa
duy vật trước Mác đã coi nhận thức là sự phản ánh trực quan, là bản sao chép
nguyên xi trạng thái bất động của sự vật. Họ chưa thấy được vai trò của thực tiễn
đối với nhận thức.
Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước Mác – Lê Nin đều
quan niệm sai lầm hoặc phiến diện về nhận thức, những vấn đề về lý luận nhận
thức chưa được giải quyết một cách khoa học, đặc biệt chưa thấy được vai trò của
thực tiễn đối với nhận thức.
3. Quan điểm về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tạo ra cuộc cách mạng trong
lý luận nhận thức. Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý, phát triển một cách sáng
tạo và được chứng minh bằng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, của thực

3


tiễn xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết biện chứng duy vật
về nhận thức. Học thuyết này ra đời dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với cảm giác,
tư duy và ý thức của con người.
Hai là, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người. Không có

"Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến
thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức
hiện thực khách quan".
Theo Lênin, quá trình nhận thức trải qua hai giai đoạn là nhận thức cảm tính
(trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng).
a. Giai đoạn nhận thức cảm tính (còn gọi là trực quan sinh động)
Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Nhận thức
cảm tính là mức độ nhận thức đầu tiên, thấp nhất của con người. Trong đó con
người phản ánh những thuộc tính bên ngoài, những cái đang trực tiếp tác động đến
giác quan của họ. Ở giai đoạn này tri thức mang tính hiện tượng, bề ngoài, chưa đi
sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng nhưng là cơ sở cho giai đoạn nhận thức cao
hơn. Giai đoạn nhận thức cảm tính có các hình thức: cảm giác, tri giác và biểu
tượng.
Cảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện
tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người. Cảm
giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự chuyển hóa những năng
lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tố của ý thức. Chính vì thế mà Lênin đã
viết: "Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan". Nếu dừng lại ở
cảm giác thì con người mới hiểu được thuộc tính cụ thể, riêng lẻ của sự vật. Điều
5


đó chưa đủ; bởi vì, muốn hiểu biết bản chất của sự vật phải nắm được một cách
tương đối trọn vẹn sự vật. Vì vậy nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao
hơn.
Tri giác là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang trực tiếp
tác động vào các giác quan. Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảm giác, là sự
tổng hợp của nhiều cảm giác. So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức
cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn về sự vật. Trong tri giác chứa đựng cả những
thuộc tính đặc trưng và không đặc trưng có tính trực quan của sự vật. Trong khi đó,

Giai đoạn nhận thức lý tính là giai đoạn tiếp theo của quá trình nhận thức, là
mức độ nhận thức cao ở con người, trong đó con người phản ánh những thuộc tính
bên trong, những mối quan hệ có tính quy luật của hiện thực khách quan một cách
gián tiếp. Nhờ các thao tác này mà quá trình nhận thức tách khỏi đối tượng nhưng
vẫn bảo đảm tính chân lý của tri thức. Giai đoạn này có các hình thức: khái niệm,
phán đoán, suy lý.
Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc
tính bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng
hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp sự vật. Vì vậy, các
khái niệm vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có mối quan hệ tác
động qua lại với nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển. Nó chẳng những
rất linh động, mềm dẻo mà còn là "điểm nút" của quá trình tư duy trừu tượng, là cơ
sở để hình thành phán đoán. Ví dụ: khái niệm dân tộc có nhiều nghĩa, trong đó có
hai nghĩa chính: nghĩa rộng và nghĩa hẹp (nghĩa khoa học, hiện đại). Theo nghĩa
rộng dân tộc là khái niệm dùng để chỉ các tộc người. Theo nghĩa hẹp, dân tộc là
hình thức cộng đồng người ổn định, bền vững, được hình thành trong lịch sử lâu

7


dài, trên cơ sở cộng đồng về ngôn ngữ, về lãnh thổ, về kinh tế và về văn hoá biểu
hiện trong tâm lý, tính cách dân tộc.
Phán đoán là hình thức của tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau để
khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng. Ví
dụ câu: "Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng" là một phán đoán. Bởi vì ở đó
có sự liên kết khái niệm "dân tộc Việt Nam" với khái niệm "anh hùng". Sự liên kết
ấy khẳng định thuộc tính "anh hùng" trong dân tộc Việt Nam.
Theo trình độ phát triển của nhận thức, phán đoán được phân chia làm ba
loại là phán đoán đơn nhất (ví dụ: đồng dẫn điện), phán đoán đặc thù (ví dụ: đồng
là kim loại) và phán đoán phổ biến (ví dụ: mọi kim loại đều dẫn điện). Phán đoán

Hai giai đoạn nhận thức này có sự thống nhất với nhau. Sự thống nhất của cả
hai giai đoạn nhận thức này thể hiện ở việc chúng đều nhằm mục đích phục vụ cho
việc nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, toàn diện hơn. Chúng đều cùng phản ánh
thế giới vật chất, có cùng cơ sở sinh lý duy nhất là hệ thần kinh của con người và
đều cùng chịu sự chi phối của thực tiễn xã hội.
Nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ
chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau. Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý
tính. Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự
vật. Nhận thức cảm tính là cơ sở, là nơi cung cấp nguyên liệu cho nhận thức lý
tính. Lê Nin nói: “không có cảm giác thì không có quá trình nhận thức nào cả”.
Nhận thức lý tính phải dựa trên nhận thức cảm tính, gắn chặt với nhận thức cảm
tính, thường bắt đầu từ nhận thức cảm tính. Dù nhận thức lý tính có trừu tượng và
khái quát đến đâu thì nội dung của nó cũng chứa đựng các thành phần của nhận
thức cảm tính. Bởi vì nhận thức cảm tính phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các
giác quan của chủ thể nhận thức, phản ánh bề ngoài phản ánh cả cái tất nhiên và
ngẫu nhiên, cả cái bản chất và không bản chất. Những nhận thức này đã trở thành
9


nguyên liệu cho nhận thức lý tính trong quá trình nhận thức đối với sự vật, hiện
tượng đi sâu vào bản chất. Ngược lại, nhận thức lý tính chi phối nhận thức cảm
tính làm cho nhận thức cảm tính tinh vi, nhạy bén và chính xác hơn. Nhận thức
cảm tính chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ bản chất, tất yếu
bên trong của sự vật mà chỉ nhận thức được những phản ảnh bề ngoài. Khi quá
trình nhận thức lặp lại với nhiều sự vật, hiện tượng qua quá trình cảm tính và lý
tính, dần dần sẽ khiến nhận thức cảm tính trở nên nhạy bén hơn đối với từng sự
vật, hiện tượng nhất định.
Tuy nhiên, giữa nhận thức lý tính và nhận thức cảm tính có sự khác nhau để
chúng ta có thể phân biệt được hai giai đoạn này, đó là nhận thức cảm tính là giai
đoạn thấp, là cơ sở của nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính là sự phản ánh mang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status