Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biên chứng về phạm trù Vật Chất. Ý nghĩa phương pháp luận. - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT TPHCM
KHOA: ĐÀO TẠO CHUẤT LƯỢNG CAO

Tiểu luận môn:
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC-LENIN.
Đề tài: Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biên chứng về phạm trù
Vật Chất. Ý nghĩa phương pháp luận.
Sinh viên:
1.
TP HCM, tháng 5 năm 2015
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT TPHCM
KHOA: ĐÀO TẠO CHUẤT LƯỢNG CAO

Tiểu luận môn: NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA
CHỦ NGHĨA MÁC-LENIN.
Đề tài: Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biên chứng về phạm trù
Vật Chất. Ý nghĩa phương pháp luận.
TP HCM, tháng 5 năm 2015
2
MỤC LỤC
Trang
I. Phần mở đầu 4
II. Phần nội dung 5
Chương 1: Quan điểm vật chất của các trường phái triết học 5
1.1. Phạm trù vật chất. 5
1.2. Theo quan niệm về vật chất thời cận đại Tây âu 6
Chương 2: Quan điểm vật chất trong triết học Mác-Lênin Vật chất
không bị tiêu tan 8
2.1. Định nghĩa về vật chất của Lênin ,,, 8

luận của chủ nghĩa Mac-Lenin nói chung và triết học Mac-Lenin nói riêng. để vận
dụng nó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục thực
hiện kế hoạch hiện đại hoá công nghiệp hoá đất nước theo định hướng Xã hội chủ
nghĩa, vì vậy việc nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhất là nắm vững bản
chất của phép biện chứng duy vật là một đòi hỏi cần thiết và quan trọng. Để làm rõ
những vấn đề cần nghiên cứu đó thì đề tài: “Quan điềm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng về phạm trù Vật Chất. Ý nghĩa phương pháp luận . ” đã được chọn để làm
tiểu luận này.
4
5
Phần II: NỘI DUNG
Chương 1: QUAN NIỆM VỀ VẬT CHẤT CỦA CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT
HỌC.
1.1. Phạm trù vật chất.
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2500 năm. Ngay từ
lúc mới ra đời xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan
nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủa nghĩa duy tâm. Đồng thời, giống như mọi phạm
trù khác, phạm trù vật chất có quá trình phát sinh và phát trine63 gắn liền với hoạt động
thực tiễn của con người và với sự hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên.
Theo quan điểm của chù nghĩa duy tâm thì thực thể của thế giới tự nhiên của thế
giới, cơ sơ của mọi tồn tại là một bảng nguyên tinh thần nào đó, có thể là “ý chí” của
thượng đế, “ ý niệm tuyệt đối” vv chẳng hạn, Platon nhà triết học duy tâm khách quan lớn
nhất thời cỗ đại cho rằng vật chất bắt nguồn từ “ ý niệm”, sự cảm tính là cái bóng của “ ý
niệm”. Mặt khác, ông tỏ ra căm thù chủ nghĩa duy vật, kết tội các nhà duy vật, nhất là các
môn đồ của Đemô out là vị thần – một tội kết án tử hình theo luật của Aten thời bấy giờ,
và đã đốt hết tác phẩm của Đêmôrit. Hêghen nhà duy tâm khách quan của triết học cổ điển
Đức cho rằng “ Vật chất là do ý niệm tuyệt đối sinh ra”. Mặt khác, ông có thái độ thiên
lịch đối với chủ nghĩa duy vật, đã cố tình xuyên tạc, vu khống triết học duy vật của
Heraclit và Epiquya. Beccli đã hệ thống một số quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ
quan đưa ra một số công thức chung “ tổ tại tức là được tri giác”. Ý nghĩa của công thức là

động để giải thích thế giới. Xpinôza cho rằng chỉ có tự nhiên là tồn tại, tự nhiên là nguyên
nhân tự nó, để tồ tại thì tự nhiên chẳng cần cái gì khác. Ông cho rằng thực thể là thống
nhất còn vật hữu hạn thì nhiều vô kể .
Vào thế kỷ XVIII các nhà duy vật Pháp đã phát triển phạm trù vật chất lên một
bước mới. Điđrô cho rằng, trong vũ trụ, trong con người, trong mọi sự vật chỉ chỉ có thực
thể duy nhất là vật chất vật chất là nguyên nhân duy nhất của máy móc về vân động, ông
nêu lên tư tưởng biện chứng rằng bản tính cố hữu của vật chất là vận động, vận động là
năng lực sống động của vật chất vận động có cả ở vật chất đang vận động lẫn đứng yên.
Ông coi quá trình vận động và phát triển của vật chất, giới tự nhiên sẽ chọn lọc những gì
giúp cho ngày càng hoàn thiện, đồng thời đào thải những vật không thích nghi Honbach
khẳng định rằng tự nhiên là nguyên nhân đầu tiên của vạn vật.
Vật chất theo honbach đó là tất cả những gì tác động bằng cách nào đó vào cảm
giác của chúng ta tuy vậy khoa học thời kỳ này chỉ có cơ học cổ điển phát triển nhất, còn
7
các ngành khoa học khác như vật lý học, hoá học, sinh học, địa chất học còn ở trình độ
thấp khoa học lúc này chủ yếu dừng lại ở trình độ sưu tập mô tả. Tương ứng với trình độ
trên của khoa học thì quan điểm thống nhất trong triết học và khoa học tự nhiên thời bấy
giờ đó đã chi phối triết học về vật chất. Người ta giải thích mọi hiện tượng tự nhiên bằng
sự tác động qua lại của lực hấp dẫn và lực đẩy củacác phân tử vật tư, theo đó các phần tử
của các phân tử vật thể, theo đó các phần tử của vật trong quá trình vận động là bất biến
còn cái thay đổi chỉ là trạng thái không gianvà tập hợp của chúng.
Mọi phân biệt về chất giữa vật thể đều bị quy giảm về sự phân biệt về lượng, mọi sự
vận động đều bị quy giảm về sự phân biệt về lượng, sự dịch chuyển vị trí trong không
gian, mọi hiện tượng phức tạp đều bị quy về cái giản đơn mà từ đó chúng được thành
thành. Niềm tin vào các chân lý trong cơ học Niutơn đã khiến các nhà khoa học đồng nhất
vật chất với khối lượng, coi vận động của vật chất chỉ là biểu hiện của vật động cơ học,
nguồn gốc vận động nằm ngoài vật chất. Kế thừa quan điểm nguyên tử luận cổ đại, các
nhà triết học duy vật cận đại vẫn coi nguyên tử là phần tử nhỏ nhất, không thể phân chia
được, tách rời nguyên tử với vận động, không gian với thời gian.v.v
Đến cuối thế XIX đầu thế kỷ XX khi xuất hiện những phát minh mới trong khoa

người khi chuyển từ thế giới vĩ mô sang thế giới vi mô. Trên cơ sở phân tích ấy Lênin đưa
ra định nghĩa về phạm trù vật chất, một định nghĩa mà cho tới nay các khoa học hiện đại
vẫn thừa nhận.
2.1. Định nghĩa về vật chất của Lênin.
Theo Lênin vật chất là một phạm trù rộng đến cùng cực, rộng nhất mà cho đến nay
thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt quá quá được. Khi định nghĩa phạm trù này không
thể quy nó về vật thể hoặc một thuộc tính cụ thể nào đó, cũng không thể quy về phạm trù
cụ thể rộng hơn vì đến nay chưa có phạm trù nào rộng hơn phạm trù vật chất. Do vậy chỉ
có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với ý thức, phạm trù đối lập với nó và
trong quan hệ ấy, vật chất là tính thứ nhất ý thức là tính thứ hai.
Bằng phương pháp như vậy định nghĩa phạm trù vật chất của Lênin được diễn đạt
như sau: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại chụp lại, phản ánh và
tồn tại khong lệ thuộc vào cảm giác".
Ở định nghĩa trên Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng: Trước hết cần phân biệt
vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu
9
tạo và những thuộc tính cụ thể của đối tượng các dạng vật chất khác nhau. Vật chất với tư
cách là phạm trù triết học nó chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận không sinh ra, không
mất đi, còn các đối tượng các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn nó
sinh ra và mất đi để chuyển hoá thành cái khác. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất nói
chung với những dạng cụ thể của vật chát như các nhà duy vật trọng lịch sử cổ đại, cận đại
đã làm.
Thứ hai là trong nhận thức luận, khi vật chất đối lập với ý thức, cái quan trọng để
nhận biết vật chất chính là những thuộc tính khách quan khách quan theo Lênin là "cái
đang tồn tại độc lập với loài người với cảm giá của con người". Trong đời sống xã hội "vật
chất là cái tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người". Về mặt nhận
thức luận thì khái niệm vật chất không có gì khác hơn". Thực tại khách quan tồn tại độc
lập với ý thức con người và được ý thức con người phản ánh".
Như vậy định nghĩa phạm trù vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản

sắc hơn nhờ sự phát triển của các khoa học cụ thể. Khác với khoa học chuyên biệt, triết
học không nghiên cứu những biểu hiện cụ thể của các phương thức tồn tại của vật chất mà
chỉ làm sáng tỏ một số đặc trưng phổ quát nhất của cuộc vận động của vật chất trong
không gian và thời gian.
Trước hết ta cần xem khái niệm vận động là gì ? . Theo quan điểm của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, vận động không chỉ là sự thay đổi vị trí trong không gian (hình thức
vận động thấp, giản đơn của vật chất) mà theo định nghĩa chung "vận động là mọi sự biến
đổi nói chung. Ph.Anghen viết: "vận động hiểu theo nghĩa chung nhất bao gồm tấ cả mọi
sự thay đổi (theo) và quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho
đến tư duy".
Khi định nghĩa vận động là sự biến đổi nói chung thì vận động là "thuộc tính cố
hữu của vật chất" là phương thức tồn tại của vật chất"
Điều này có nghĩa là vật chất tồn tại bằng cách vận động. Trong vận động và thông
qua vận động mà các dạng vật chất biểu hiện bộc lộ sự tồn tại của mình chỉ rõ mình là cái
gì. Không thể có vật chất mà không có vận động. Một khi chúng ta nhận thức được những
hình thức vận động của vật chất thì chúng ta nhận thức được bản thân vật chất. Với tính
11
cách là thuộc tính cố hữu của vật chất, theo quan điểm của triết học Mác Lênin vận động
là sự tự thân vận động của vật chất được tạo nên từ sự tác động lẫn nhau của các thành tố
nội tại trong cấu trúc vật chất.
Quan điểm này đối lập với quan điểm duy tâm hoạc siêu hình về vận động. Những
người theo quan điểm duy tâm hoặc siêu hình không đi tìm nguồn gốc của vận động ở bên
trong bản thân của sự vật, mà đi tìm nguồn gốc ở ngoài sự vật. Quan điểm sự tự thân vận
động của vật chất đã được chứng minh bởi những thành tựu của khoa học tự nhiên và
ngày càng những phát kiến mới của khoa học tự nhiên hiện đại càng khẳng định quan
điểm đó.
Vật chất là vô hạn, vô tận không sinh ra không mất đi mà vận động là thuộc tính
không thể tách rời vật chất nên bản thân sự vận động cũng không thể tách rời vật chất nên
bản thân sự vận động cũng không thể bị mất đi hoặc sáng tạo ra. Kết luận này của triết học
Mác Lênin đã được khẳng định bởi định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng theo

giải các chất.
4. Vận động sinh học: Trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường.
5. Vận động xã hội: Sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các hình thái kinh
tế xã hội.
Đối với sự phân loại vận động của vật chất thành 5 hình thức xác định như trên, cần
chú ý nguyên tắc quan hệ giữa chúng là:
Các hình thức vận động nói trên khác nhau về chất. Từ vận động cơ học đến vận
động xã hội khác nhau về trình độ của sự vận động, những trình độ này tương ứng với
trình độ của các kết cấu vật chất.
Các hình thức vận đọng cao dựa trên cơ sở các hình thức vận động thấp, bao hàm
trong nó tất cả các hình thức vận động thấp hơn. Trong khi đó, các hình thức vận động
thấp không có khả năng bao hàm các hình thức vận động ở trình độ cao hơn. Bởi vậy, mọi
sự quy giảm các hình thức vận động thấp đều là sai lầm.
Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức vận động
khác nhau. Tuy nhiên bản thân tồn tại của sự vật đó bao giờ cũng đặc trưng bằng những
hình thức vận động cơ bản. Ví dụ trong cơ thể sinh vật có các hình thức vận động khác
nhau như vận động cơ học, vận động vật lý, vận động hoá học, vận động sinh học, nhưng
hình thức vận động sinh học mới là đặc trưng cơ bản của (loài người) sinh vật. Vận động
xã hội là hình thức đặc trưng cho hoạt động của con người.
13
Chính bằng sự phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ph.Anghen đã đặt cơ sở
cho sự phân loại các khoa học tương ứng đối với nghiên cứu của chúng và chỉ ra cơ sở của
khuynh hướng phân ngành và hợp ngành của các khoa học. Ngoài ra tư tưởng về sự khác
nhau về chất và thống nhất của các hình thức vận động cơ bản còn là cơ sở để chống lại
khuynh hướng sai lầm trong nhận thức là quy hình thức vận động cao vào các hình thức
vận động thấp và ngược lại.
Ví dụ từ giữa thế kỷ XIX, những người theo chủ nghĩa Đacuyn xã hội" muốn quy
vận động vật chất thành vận động sinh học, xem con người như một sinh vật thông thường
giải thích hoạt động của xã hội loài người trong phạm vi tác động của quy luật sinh học là
đấu tranh để sinh tồn. Họ cho rằng đấu tranh để sinh tồn dẫn đến tiêu diệt lẫn nhau trong

của sự vật còn ổn định, chưa thay đổi. Thứ tư, là vận dộng ổn định nào đó, còn vận động
nói chung tức là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa sự vật và hiện tượng làm cho tất cả
không ngừng biến đổi. Vì thế đứng im chỉ là một hiện tượng tạm thời. Ph.Anghen chỉ rõ:
"vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ phá hoại sự
cân bằng riêng biệt" và "mọi sự cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời".
15
Chương 3: Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN.
 Ý nghĩa phương pháp luận.
Thứ nhất, định nghĩa vật chất của Lênin đã tiếp thu có tính phê phán những quan điểm
của chủ nghĩa duy vật trước đây và chống lại quan niệm sai lầm của triết học duy tâm, về
vật chất. Định nghĩa vật chất của Lênin cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực
xã hội để có thể giải thích nguồn gốc, bản chất và các quy luật khách quan của xã hội.
Thứ hai, định nghĩa vật chất của Lênin đã giải đáp một cách khoa học về vấn đề cơ
bản của triết học từ quan điểm đến thực tiễn.
Đối với chủ nghĩa duy vật trước Mác về cơ bản có những quan điểm đúng về mặt tự
nhiên nhưng lại duy tâm về mặt xã hội, nên nó rất hạn chế và không có ý nghĩa cách mạng
triệt để đối với quá trình cải tạo hiện thực khách quan của con người. Mác khẳng định
nhiệm vụ của triết học phải có ý nghĩa cải tạo thế giới. Tính chất siêu hình máy móc và
trực quan của chủ nghĩa duy vật trước Mác không thấy được tính năng động và sáng tạo
của ý thức.
Trong triết học trước Mác vế cơ bản đều không thấy được vai trò của thực tiễn đối với
nhận thức và đối với sự phát triển của xã hội. Cơ sở lý luận của các hệ thống triết học
trước kia, nhất là triết học duy tâm không phải quan điểm từ vật chất, từ hoạt động thực
tiễn, mà chủ yếu là sự nhấn mạnh đến vai trò quyết định của cái tinh thần, của lực lượng
siêu nhiên,…
Việc đưa quan điểm thực tiễn vào lý luận, triết học Mác không những thực hiện một
cuộc cách mạng trong lĩnh vực triết học mà còn tạo cơ sở để khắc phục những hạn chế của
chủ nghĩa duy vật trước Mác, phê phán những quan điểm sai lầm của triết học duy tâm.
Giải quyết khoa học vấn đề cơ bản triết học, triết học Mác được coi là cơ sở lý luận về
thế giới quan và lý luận để nghiên cứu những vấn đề chung của triết học và khoa học.

nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí,
đó là những hành động lấp ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý
muốn chủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách
lược,… Đây cũng phải là quá trình chống chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thường tri thức
khoa học, xem thường lý luận, bảo thủ, trí tuệ, thụ động, … trong mọi hoạt động nhận
thức và thực tiễn.

17
III. PHẦN KẾT LUẬN.
Qua các định nghĩa này đã giải quyết được một cách duy vật và khoa học cả hai mặt
của vấn đề cơ bản trong Triết học. Quan niệm về vật chất trong định nghĩa này của Lênin
là cơ sở khoa học và vũ khí tư tưởng của chủ nghĩa duy vật bác bỏ chủ nghĩa duy tâm và
thuyết không thể biết dưới mọi hình thức, khẳng định sự đúng đắn của chủ nghĩa duy vật
trước sự phát triển của các khoa học khác.
Định nghĩa này đã khắc phục được những hạn chế trong quan điểm về vật chất trước
Mác làm cho chủ nghĩa duy vật phát triển lên một trình độ cao hơn, tạo cơ sở cho các
quan niệm của chủ nghĩa duy vật về lịch sử và xã hội, thể hiện sự thống nhất giữa chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, nó cũng xây dựng được
thế giới quan đúng đắn, cổ vũ các nhà khoa học tiếp tục đi sâu vào thế giới vật chất.
18
Tài liệu tham khảo.
1. Giáo trình: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lenin. Nxb . Chính
trị Quốc Gia (3/2011).
2. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1994.
3. V.I.Lenin: toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Matxcova,1980.
4. Và những tài liệu khác
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status