Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ứng dụng cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử - Pdf 28



1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta trong
công cuộc đổi mới hiện nay là tiến tới xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; trong đó
điều kiện đặt ra đối với một Nhà nước thực sự dân chủ là Nhà nước không thể
đứng cao hơn và vận hành chỉ trong khuôn khổ của pháp luật dù rằng Nhà
nước là chủ thể duy nhất trong xã hội ban hành pháp luật.
Nhà nước với tư cách là một chủ thể công quyền duy nhất trong xã
hội, được hình thành từ nhân dân và thực hiện quyền điều hành, quản lý xã
hội trong đó có những nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức khi những quyền và lợi ích hợp pháp này bị xâm phạm. Để có
thể thực hiện được những nhiệm vụ này, Nhà nước phải thông qua các cơ
quan đại diện cho mình ở các ngành, các cấp chính quyền mà cụ thể là thông
qua việc thực thi công vụ của công chức nhà nước. Trong quá trình Nhà nước
thực hiện các công việc thuộc thẩm quyền của mình thông qua hành vi của
đội ngũ công chức thì một điều tất yếu là có thể gây thiệt hại cho bất kỳ cá
nhân, tổ chức nào. Ngoài việc gây thiệt hại trong quá trình thực thi công vụ,
thực tiễn còn đặt ra nhiều tình huống cụ thể mà trong đó Nhà nước có thể trực
tiếp hay gián tiếp gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức. Vấn đề đặt ra là nếu cá
nhân, tổ chức bị thiệt hại do nguyên nhân từ phía cá nhân, chủ thể khác thì
được cá nhân, tổ chức đó bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật,
vậy nếu Nhà nước gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước có phải
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không hay Nhà nước được miễn trừ
trách nhiệm? Thực tiễn Việt Nam hiện nay đã có các văn bản quy phạm pháp
luật quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước: cụ thể là các
quy định trong Bộ luật Dân sự 1995 và nay là Bộ luật Dân sự 2005 quy định

pháp lý. 3
- Bài viết "Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
của TS Phùng Trung Tập - Trưởng bộ môn Luật Dân sự, Khoa Luật Dân sự,
Trường Đại học Luật Hà Nội. Trong bài viết này có đề cập đến nhiều vấn đề
trong đó có nội dung có tính chất tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu
đề tài của tác giả như: việc phân tích những hành vi có lỗi trong một số loại
trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng (về cơ sở xác định lỗi, hình thức lỗi),
hay khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần phải
xác định yếu tố lỗi để có căn cứ quy trách nhiệm cho người có hành vi trái
pháp luật.
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Mai Anh: "Bồi thường thiệt hại do
người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra". Nội dung của
Luận án đề cập đến nhiều vấn đề có tính tham khảo quan trọng cho việc thực
hiện đề tài nghiên cứu của tác giả như: đặc điểm, nội dung, bản chất của trách
nhiệm nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng gây ra khi tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử.
Ngoài ra, còn có nhiều chuyên đề, bài viết, bài nghiên cứu của một số
tác giả làm công tác xây dựng pháp luật với nội dung đề cập đến nhiều vấn đề
cơ bản phục vụ cho quá trình soạn thảo Luật Bồi thường Nhà nước (trong
chương trình chuẩn bị trong năm 2006 của Quốc hội khóa 11) cũng là những
tài liệu nghiên cứu quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện
đề tài nghiên cứu.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu những vấn đề sau:
- Một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
Nhà nước cho cá nhân, tổ chức khi cá nhân, tổ chức bị thiệt hại trong quá

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước; 5
- Bước đầu phân tích một số vấn đề lý luận để thừa nhận trách nhiệm
bồi thường thiệt hại của Nhà nước; nêu và đánh giá thực tiễn thi hành pháp
luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước ở Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành của Việt Nam về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước;
- Trình bày, phân tích và so sánh một số chế định cơ bản trong pháp
luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước của một số quốc gia
trên thế giới;
- Kiến nghị để hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của Nhà nước.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Trên cơ sở những phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản, luận văn
khẳng định việc thừa nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là
hoàn toàn phù hợp, đồng thời luận văn đưa ra cách tiếp cận mới về trách
nhiệm của Nhà nước;
- Luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật của
Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
Nhà nước
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của Nhà nước và một số kiến nghị

7
phạm pháp luật của các quan chức nhà nước được nhìn nhận như những hành
vi của cá nhân đơn thuần [5, tr. 452]. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai,
Nhật Bản ban hành Hiến pháp năm 1947, tại Điều 17 có quy định: "Mọi người
có quyền yêu cầu Nhà nước hoặc cơ quan công quyền bồi thường thiệt hại mà
họ phải gánh chịu do những hành vi trái pháp luật của các quan chức nhà
nước gây ra theo quy định của pháp luật". Đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng
để người dân Nhật Bản có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình và cũng như cơ
sở hiến định quan trọng để xây dựng các đạo luật về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của Nhà nước. Cùng trong năm 1947, Nghị viện Nhật Bản đã thông
qua Luật Bồi thường nhà nước. Đạo luật này tuy chỉ có sáu (6) điều luật
nhưng đã khẳng định được ý nghĩa to lớn của nó. Nội dung cụ thể của Luật
bao gồm: Điều 1: Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
Nhà nước và điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi hoàn của công chức nhà
nước (hay trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra do thực hiện công quyền);
Điều 2: Trách nhiệm bồi thường trong trường hợp có thiệt hại xảy ra đối với
người dân do những sai sót trong việc xây dựng hoặc quản lý các con đường,
sông và các phương tiện công cộng khác (hay trách nhiệm bồi thường xảy ra
do khiếm khuyết trong xây dựng và quản lý công trình công cộng); Điều 3:
Trách nhiệm của từng cá nhân cụ thể trong hai trường hợp quy định tại hai
trường hợp trên; Điều 4: Việc áp dụng đồng thời Bộ luật Dân sự khi giải
quyết quan hệ bồi thường nhà nước; Điều 5: Việc áp dụng các đạo luật khác
trong trường hợp những đạo luật đó có quy định về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của Nhà nước trong lĩnh vực riêng biệt; Điều 6: Về nguyên tắc có đi
có lại, cụ thể là trường hợp người nước ngoài bị thiệt hại thì trường hợp nào
sẽ được bồi thường. Các khiếu kiện yêu cầu Nhà nước bồi thường được coi là
các vụ kiện dân sự [5, tr. 454] nên các quy định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản
sẽ được viện dẫn áp dụng trong trường hợp cần thiết. Luật Bồi thường nhà
nước của Nhật Bản tuy đơn giản nhưng việc áp dụng lại rất linh hoạt vì Tòa

Một quốc gia khác - Trung Quốc - nước láng giềng của Việt Nam
cũng có hệ thống pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước
đã được định hình ổn định. Văn bản pháp luật hiện nay được áp dụng để giải 9
quyết các yêu cầu bồi thường nhà nước của Trung Quốc là Luật về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước được Quốc hội Trung Quốc thông
qua năm 1994. Đạo luật này quy định trách nhiệm của Nhà nước Trung Quốc
trong trường hợp các cơ quan nhà nước gây thiệt hại trái pháp luật cho cá
nhân, tổ chức; phạm vi áp dụng của đạo luật này loại trừ lĩnh vực lập pháp,
theo đó chỉ những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hành chính và tư
pháp hình sự mới thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này [17]. Khác với Luật
Bồi thường nhà nước của Nhật Bản, Luật của Trung Quốc lại quy định rất chi
tiết và cụ thể về các vấn đề, ví dụ: các trường hợp được bồi thường do xâm
phạm quyền nhân thân (Điều 3); các trường hợp được bồi thường do xâm
phạm về tài sản (Điều 4); các trường hợp Nhà nước không phải bồi thường
(Điều 5) v.v... [17]. Ngoài ra, để áp dụng Luật này trên thực tiễn, Tòa án nhân
dân tối cao Trung Quốc và Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc cũng
đã có văn bản hướng dẫn để thi hành.
1.1.2. Sơ lược về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
Nhà nước của Việt Nam
Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước đã được Nhà
nước ta ghi nhận từ sau khi thành lập nước. Điều này được thể hiện ngay từ
Hiến pháp năm 1959, Điều 29 Hiến pháp 1959 quy định: "Người bị thiệt hại
về hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được
bồi thường" [23].
Hiến pháp năm 1980 khẳng định pháp luật bảo hộ tính mạng, tài sản,
danh dự và nhân phẩm của công dân bên cạnh việc xác định mọi hành động
xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và

tồn tại trước đây, Bộ luật Dân sự đã quy định trách nhiệm bồi thường do
người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, Điều 624 Bộ luật
Dân sự năm 1995 quy định:
Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do
người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thi hành công vụ;
trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố xét xử và thi hành án. 11
Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người đã
gây ra thiệt hại phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường cho
người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm
quyền đó có lỗi trong khi thi hành công vụ [27].
Cụ thể hóa quy định của Bộ luật Dân sự, ngày 3/5/1997 Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 47/CP về giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức,
viên chức nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.
Ngay sau khi Nghị định 47/ CP ra đời, để quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Nghị định 47/CP, các cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước
trong lĩnh vực có liên quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn quan trọng:
Ngày 4/6/1998 Ban Tổ chức - Cán bộ Chính Phủ (nay là Bộ Nội vụ) đã ban
hành Thông tư số 54/1998 TT-TCCP hướng dẫn thực hiện một số nội dung
Nghị định 47/CP; ngày 30/3/1998 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số
38/1998/TT-BTC hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách nhà nước cho bồi
thường thiệt hại do công chức, viên chức, người có thẩm quyền của cơ quan
nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.
Trong những năm gần đây vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị
oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra được Đảng ta đặc
biệt quan tâm, cụ thể: Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị
chỉ rõ:
Cùng với việc phát hiện và chú trọng giải quyết kịp thời các

tổng rà soát, ngày 1/6/2004 đã có hướng dẫn thống nhất mở sổ thụ lý vụ việc
giả quyết đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại người bị oan và hướng dẫn về các
trình tự thủ tục giải quyết bồi thường; Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành
Công văn số 72/2004/KHXX ngày 21/4/2004 hướng dẫn cụ thể hơn về thẩm
quyền và các thủ tục bồi thường của ngành tòa án theo quy định của Nghị
quyết 388; Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 18/2004/TT-BCA ngày
9/11/2004 hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho các trường hợp bị oan do người
có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc Công an nhân dân gây ra. 13
Ngày 26/11/2003, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003, sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản, toàn diện
các quy định tố tụng hình sự của nước ta cho phù hợp với yêu cầu của thực
tiễn. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề Bồi thường cho người bị oan quy
định tại Nghị quyết 388, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã ghi nhận quyền
được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan trở
thành một nguyên tắc cơ bản của Bộ luật. Điều 29 Bộ luật quy định:
Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố
tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi
danh dự, quyền lợi.
Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã
làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự quyền lợi cho
người bị oan; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ
quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật [28].
Bộ luật Dân sự năm 2005 - Bộ luật điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn
các quan hệ dân sự của cá nhân, pháp nhân, tổ chức và thay thế Bộ luật Dân
sự năm 1995 đã tiếp tục ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cán bộ
công chức và người có thẩm quyền của cơ quan tố tụng. Cụ thể:
Cơ quan tổ chức quản lý cán bộ công chức phải bồi thường

Pháp luật khi điều chỉnh các quan hệ xã hội cũng không loại trừ quan
hệ phát sinh giữa Nhà nước và công dân. Nhà nước và các cá nhân, tổ chức
khác khi là các bên trong một quan hệ pháp luật.
Quá trình chuyển đổi từ xã hội cũ sang xã hội mới, từ xã hội thần dân
sang xã hội công dân kéo theo những quan niệm hoàn toàn mới về mối quan
hệ giữa công dân và Nhà nước, chính những quan niệm này đóng vai trò to
lớn trong việc thay đổi nội dung của pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa Nhà
nước và người dân. Trong xã hội thần dân, quan niệm chính thống, ngự trị
trong nhiều thế kỷ là "Vua không bao giờ sai", theo đó Vua - hay rộng hơn là
Nhà nước không thể làm gì sai trái và do đó không phải chịu trách nhiệm đối 15
với mọi hoạt động của mình. Tuy nhiên, quá trình phát triển của xã hội, sự mở
rộng dân chủ cộng với sự bình đẳng ngày càng thể hiện rõ trong các mối quan
hệ giữa người dân và Nhà nước đang thu hẹp dần chỗ đứng của quan niệm
này trong xã hội. Nhà nước với tư cách là một chủ thể của pháp luật, khi tham
gia vào các quan hệ pháp luật đều có những quyền, nghĩa vụ và phải gánh
chịu những hậu quả pháp lý phát sinh từ những quan hệ pháp luật đó. Như
vậy, việc Nhà nước nếu gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường cho
bên còn lại trong quan hệ pháp luật là "câu chuyện hiển nhiên trong xã hội
mới" [22, tr. 1]. Xét về bản chất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước
thể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:
a) Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là một
cơ chế pháp lý hiệu quả ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực nhà nước
Nhà nước với tư cách là chủ thể duy nhất có quyền quản lý, điều hành
xã hội thông qua quyền lực đã được ghi nhận (dù trực tiếp Nhà nước thực hiện
hoặc thông qua một cơ quan, tổ chức không phải của Nhà nước) thì thường có
xu hướng lạm dụng quyền lực. Sự lạm dụng có nhiều biểu hiện cụ thể, song về
hình thức thường là sự vi phạm pháp luật trong quá trình thực thi quyền lực, về

có trách nhiệm đối với người dân của mình, và do đó "trong trường hợp làm
thiệt hại cho nhân dân, thì phải có sự bồi thường thiệt hại cho nhân dân... hay
nói cách khác, Nhà nước dân chủ là Nhà nước biết bồi thường thiệt hại cho
nhân dân" [9, tr. 1]. Việt Nam là một quốc gia dân chủ, vì vậy việc xác lập
một cơ chế pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là hoàn
toàn cần thiết để đáp ứng đòi hỏi của một Nhà nước dân chủ.
Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là một yêu cầu
cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp
quyền hiện tại đang là một trong những mục tiêu ưu tiên xây dựng và tiến tới
hoàn thiện của nước ta. Trong điều kiện nhà nước pháp quyền, pháp luật luôn
giữ vị trí tối thượng, pháp luật phải được mọi chủ thể tôn trọng. Tồn tại song
song với nền pháp chế đó là một nền dân chủ thực sự, trong đó Nhà nước và
công dân bình đẳng trên nhiều phương diện. Một tiêu chí rất quan trọng để xây 17
dựng và hoàn thiện mô hình mhà nước pháp quyền là Nhà nước không thể
đứng cao hơn và phải vận hành chỉ trong khuôn khổ của pháp luật dù rằng Nhà
nước là chủ thể duy nhất trong xã hội có quyền ban hành pháp luật. Khi quyền,
lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm bởi cá nhân, tổ chức khác
thì những cá nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm phải chịu trách nhiệm bồi
thường theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khi quyền, lợi
ích của cá nhân, tổ chức bị Nhà nước xâm phạm thì liệu Nhà nước có phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại như những chủ thể thông thường khác? Đặt
trong bối cảnh Nhà nước không thể đứng cao hơn và phải vận hành chỉ trong
khuôn khổ của pháp luật thì tất yếu Nhà nước phải có trách nhiệm đối với các
thiệt hại mà mình gây ra cho các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Nhà nước pháp
quyền không phải là "công trình" của riêng ai. Để có được "công trình" này đòi
hỏi không chỉ nỗ lực của riêng những người có thẩm quyền "kiến thiết" mà còn
cần phải có một sự "phản hồi" từ phía xã hội. Sự phản hồi này có thể được thực

quốc gia có luật về trách nhiệm nhà nước như Philippine, Indonesia v.v..).
Đối với trường hợp của Hoa Kỳ - quốc gia giàu có và luôn tự hào về nền dân
chủ của mình - thì hiện vẫn tồn tại nguyên tắc "miễn trừ quốc gia" ở quốc gia
này. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc Nhà nước Hoa Kỳ từ
chối trách nhiệm mà Nhà nước Hoa Kỳ chỉ có thể bị kiện nếu "có sự đồng
thuận của chính quốc gia này" [37, tr. 17] và cơ quan có thẩm quyền thực hiện
"đồng thuận" để Nhà nước bị kiện ở Hoa Kỳ là Quốc hội Hoa Kỳ, theo đó
quyền phủ quyết việc áp dụng hoặc giữ nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm
quốc gia thuộc về Quốc hội Hoa Kỳ. Mặc dù cho đến nay Hoa Kỳ vẫn giữ
nguyên tắc miễn trừ quốc gia đối với việc bồi thường thiệt hại do công chức
gây ra trong hoạt động tư pháp, lập pháp nhưng Hoa Kỳ cũng đã thừa nhận
trách nhiệm trong lĩnh vực hành chính (năm 1946 Quốc hội Hoa Kỳ đã ban
hành Luật bồi thường liên bang quy định phủ quyết nguyên tắc miễn trừ
trách nhiệm quốc gia đối với việc bồi thường thiệt hại do công chức gây ra
trong hoạt động hành chính) [372, tr. 17]. Trong bối cảnh như vậy, không chỉ
hòa vào xu thế chung của khu vực, của thế giới mà việc thừa nhận trách 19
nhiệm của Nhà nước cũng là phù hợp với nền dân chủ mà chúng ta đang tích
cực xây dựng.
1.2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong giới
hạn của chính sách pháp lý
Nhà nước và pháp luật là hai vấn đề không bao giờ tách rời nhau và có
mối quan hệ tác động qua lại. Nhà nước ban hành ra pháp luật và pháp luật
sau đó quay trở lại tác động trở lại Nhà nước. Chính sách của Nhà nước được
thể hiện thông qua công cụ chủ yếu là pháp luật, vì vậy việc mỗi Nhà nước
nhìn nhận như thế nào về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà
nước mà sẽ ban hành chế định pháp luật tương ứng. Ngoài ra, đặt trong bối
cảnh của từng khu vực địa lý cũng như đặc thù truyền thống pháp luật của

đối với hành vi chiếm đoạt [8, tr. 2]. Về nguyên tắc chung, khi tham gia mọi
quan hệ pháp luật thì nếu Nhà nước gây thiệt hại thì đều phải bồi thường. Tuy
nhiên, trong hai loại quan hệ pháp luật nêu trên thì trách nhiệm của Nhà nước
sẽ rất khác nhau và "theo nhận thức chung thì khi tham gia những quan hệ
pháp luật bình đẳng và tự do, Nhà nước được đối xử như bất kỳ một loại chủ
thể pháp luật (dân sự) nào nên vì thế không cần có những quy định pháp luật
riêng rẽ" để điều chỉnh [22, tr. 2]. Chính vì vậy, chế định pháp luật về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước chỉ điều chỉnh trách nhiệm bồi
thường đối với những thiệt hại do Nhà nước gây ra khi tham gia một quan hệ
pháp luật và nhân danh quyền lực công.
b) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong mối quan
hệ với tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của hành vi gây thiệt hại
Như đã phân tích, chế định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại của Nhà nước chỉ điều chỉnh quan hệ bồi thường thiệt hại phát sinh giữa
Nhà nước và bên còn lại bị thiệt hại gây ra bởi hoạt động của Nhà nước khi
nhân danh quyền lực công. Hoạt động của Nhà nước gồm những hoạt động
hợp pháp và hoạt động không hợp pháp; về nguyên tắc, công chức khi thực
thi công vụ của Nhà nước gây thiệt hại trái pháp luật cho cá nhân, tổ chức thì
Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường. Vấn đề đặt ra là nếu việc thực thi 21
công vụ hoàn toàn đúng pháp luật nhưng xét về kết quả thì vẫn gây ra thiệt
hại cho cá nhân, tổ chức thì trong trường hợp này Nhà nước có phải chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại hay không? Nếu Nhà nước phải chịu trách nhiệm
bồi thường thì tính chất của trách nhiệm này có tương tự với tính chất của
trách nhiệm mà Nhà nước phải gánh chịu do gây thiệt hại trái pháp luật hay
không? Về lý luận, việc bồi thường chỉ đặt ra trong trường hợp có hành vi gây
thiệt hại trái pháp luật của bên này đối với một bên khác. Trường hợp bồi
thường không do lỗi cũng chỉ được đặt ra trong một số trường hợp đặc biệt.

lại quy định giới hạn mức bồi thường tổn thất về tinh thần cho nạn nhân của
hoạt động tố tụng hình sự (Điều 5). Pháp luật của Philippine cũng quy định
mức bồi thường tối đa (không quá 10.000 peso) trong mọi trường hợp [4, tr. 22].
d) Về các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước chịu sự điều chỉnh của
pháp luật về trách nhiệm nhà nước
Có thể nói, đây là vấn đề thể hiện rõ nhất chính sách pháp lý của các
quốc gia khi quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Bộ máy
nhà nước của hầu hết các quốc gia tuy có ít nhiều khác nhau song đều được
xây dựng trên cơ sở của học thuyết tam quyền phân lập, vì vậy hoạt động của
Nhà nước về cơ bản cũng được phân chia theo các lĩnh vực hoạt động: lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Nhiều quốc gia không loại trừ bất kỳ lĩnh vực
hoạt động nào ra khỏi phạm vi điều chỉnh của pháp luật bồi thường thiệt hại
của Nhà nước song cũng không ít quốc gia loại trừ một hoặc hai lĩnh vực.
Pháp luật của Nhật Bản không quy định lĩnh vực nào thì chịu sự điều chỉnh
của Luật Bồi thường nhà nước Nhật Bản - điều này đồng nghĩa với việc
"không quy định" tức là "không loại trừ" (xem Điều 1 Luật Bồi thường nhà
nước Nhật Bản). Điều này cũng được các chuyên gia pháp lý Nhật Bản khẳng
định [19, tr. 9]. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng Luật Bồi thường nhà nước Nhật
Bản cho thấy lĩnh vực lập pháp là lĩnh vực rất nhạy cảm, vì vậy, dù không
loại trừ song việc Tòa án khi xét xử các vụ kiện về yêu cầu bồi thường đối với
hoạt động lập pháp cũng là rất hạn chế vì:
(1) hoạt động lập pháp là hoạt động mang tính quốc gia và
về nguyên tắc những hoạt động mang tính quốc gia được loại trừ 23
khỏi sự tác động của hoạt động tư pháp; (2) Về mặt chính trị, Nhà
nước mà cụ thể là Quốc hội ban hành một đạo luật bị coi là vi hiến
thì có thể xác định sự sai sót này của Quốc hội là hậu quả của hoạt
động bầu cử - nói cách khác sai sót không phải do quá trình lập

gánh chịu từ hoạt động của Nhà nước thì việc "đền bù" không thể coi là một
hoạt động dân sự mà là hoạt động hành chính. Qua đó, cơ chế để thực hiện
đền bù cho các nạn nhân sẽ là cơ chế hành chính. Nếu Nhà nước thừa nhận
trách nhiệm bồi thường nhưng việc bồi thường được nhìn nhận chỉ là "trả
thay" cho công chức nhà nước vì trong nhiều trường hợp công chức không thể
thực hiện được việc bồi thường, thì điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi
thường sẽ chỉ đặt ra đối với bản thân công chức mà thôi.
1.3. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA NHÀ NƯỚC
1.3.1. Khái niệm thiệt hại và bồi thường thiệt hại
Thiệt hại được hiểu là "mất mát, hư hỏng nặng nề về người và
của" [45, tr. 1571]. Quan điểm truyền thống của pháp luật dân sự luôn coi
thiệt hại là những tổn thất có liên quan đến tài sản; tuy nhiên theo những quan
điểm hiện nay thì thiệt hại bao gồm không chỉ những tổn thất về tài sản. Theo
Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thiệt
hại là "tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân,
tổ chức được pháp luật bảo vệ" [39, tr. 118]. Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995
quy định tại Điều 310: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm
bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần".
Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 quy định tại Điều 305: "Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách
nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần." Như vậy, về mặt khoa học và
luật thực định thì quan điểm phổ biến hiện nay về thiệt hại là thiệt hại bao
gồm: thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần [2, tr. 12], [45, tr. 713].
Thiệt hại về tinh thần bao gồm "tổn thất về danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc
suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân" và thiệt hại về vật chất bao gồm "tài 25
sản bị mất, hủy hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status