PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài.
Nguồn tài nguyên cơ bản để xây dựng một đất nước phồn vinh đó là những
con người có trí tuệ, có sức khỏe. Trong “sức khỏe cho mọi người vào năm 2014” tại
tuyên ngôn Alma Alta đã yêu cầu mỗi người phải tự chăm lo cho sức khỏe của mình,
mỗi cộng đồng phải tự chăm lo cho sức khỏe của mỗi cộng đồng. Dinh dưỡng là một
nhân tố trọng yếu, giúp tạo lên và duy trì không chỉ thể lực mà cả trí lực cho con
người. Chính vì vậy, vấn đề giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe luôn được đưa lên
hàng đầu. Đặc biệt trong thời kỳ đầu của mỗi con người – thời kỳ đạt tốc độ phát
triển cao về mọi mặt, tạo ra nhiều bước đột biến về chất nên nhu cầu của mỗi con
người - nhu cầu dinh dưỡng rất cao, vấn đề dinh dưỡng lại càng phải được quan tâm
một cách đúng mức.
Hiện nay, tỷ lệ trẻ tuổi mầm non bị suy dinh dưỡng còn cao, trẻ mắc bệnh béo
phì ngày càng gia tăng, một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng này là do
thiếu kiến thức về dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho mọi người. Vì vậy, giáo
dục dinh dưỡng – sức khỏe đang là mối quan tâm của toàn xã hội. Thực tế cho thấy,
sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng của trẻ phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng, chăm sóc
của người mẹ và những người đóng vai trò thay thế như giáo viên nhà trẻ, mẫu giáo.
Đã có nhiều tài liệu, nhiều nguồn thông tin trang bị cho cha mẹ và giáo viên về chế
độ dinh dưỡng cho trẻ em. Một câu hỏi đặt ra: có thể giáo dục dinh dưỡng – sức
khỏe cho chính những đứa trẻ đang hoc lớp mẫu giáo được không? Và UNICEF đã
chứng minh “ngay cả trong trường hợp nguồn thực phẩm chưa được cả thiện, giáo
dục dinh dưỡng đã giúp cho tình trạng dinh dưỡng được nâng lên đáng kể”.
Trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo rất nhạy cảm và mau chóng tiếp thu những điều
học được và hình thành dấu ấn lâu dài. Tiến hành giáo dục dinh dưỡng ngay từ bậc
học mầm non sẽ góp phần quan trọng trong chiến lược con người, tạo ra một lớp
người có sự hiểu biết đầy đủ về dinh dưỡng, biết lựa chọn thông minh và tự giác
1
2
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
cao chất lượng giáo dục trong nhà trường và nâng cao chất lượng cuộc sống trong
cộng đồng.
Các nghiên cứu khoa học đã cho rằng trong các trò chơi thì trò chơi học tập
đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ. Trò chơi học tập đòi hỏi
sự hoạt động trí tuệ rất phức tạp, trẻ phát huy và huy động trí tuệ của mình đến mức
tối đa để giải quyết nhiệm vụ mà trò chơi học tập đưa ra. Qua đó, trẻ sẽ củnSg cố
những kỹ năng, kiến thức đã tiếp nhận. Đồng thời đó cũng là điều kiện để nâng cao
tính tích cực nhận thức của trẻ. Trẻ 5 – 6 tuổi thích khám phá thế giới xung quanh và
trong một giới hạn nào đó trẻ sẽ tìm ra những ý tưởng sáng tạo cho riêng mình trong
hoàn cảnh có ý nghĩa, có mục đích đối với trẻ. Hoạt động chủ đạo của trẻ em giai
đoạn này là hoạt động vui chơi, thông qua chơi sẽ thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, khám
phá của trẻ. Qua đó hình thành đặc điểm tâm lý mới nhất về chất đặc trưng cho lứa
tuổi và phát triển toàn diện về đặc điểm tâm lý của trẻ.
Trẻ em rất thích các trò chơi và thông qua chơi để học. Trẻ đặc biệt thích trò
chơi học tập vì trò chơi học tập không chỉ thỏa mãn nhu cầu chơi mà còn thỏa mãn
nhu cầu nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh. Trong các trò chơi trẻ là chủ thể
tích cực hoạt động, trẻ khám phá và tìm hiểu cùng với các bạn, giải quyết vấn đề qua
việc tiếp xúc với các hiện tượng xung quanh trẻ.
Là một giáo viên tương lai, em nhận thấy rằng việc lồng giáo dục dinh dưỡng
- sức khỏe cho trẻ vào các trò chơi học tập để thông qua đó giáo dục trẻ được tầm
quan trọng của dinh dưỡng là vô cùng thiết thực và bổ ích. Nhất là dinh dưỡng của
các loại rau, củ, quả rất tốt cho cơ thể của bé và không thể thiếu trong mỗi bữa ăn
hằng ngày giúp trẻ ngày càng lớn lên khỏe mạnh và thông minh hơn. Vì vậy em đã
chọn đề tài: Thiết kế trò chơi học tập giáo dục dinh dưỡng - sức khỏe cho trẻ 5 – 6
tuổi trong chủ đề “Thế giới thực vật”.
5.2.2. Phương pháp đàm thoại: Tìm hiểu nhận thức của giáo viên trong việc thiết kế
ra các trò chơi học tập giáo dục dinh dưỡng - sức khỏe cho trẻ 5 – 6 tuổi với chủ đề
“ Thế giới thực vật”; trò chuyện cùng giáo viên, chia sẻ những vướng mắc, kinh
nghiệm khả năng truyền đạt và cách thiết kế ra những trò chơi học tập nhằm giáo
dinh dưỡng sức - khỏe cho trẻ.
5.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát các trò chơi học tập giáo dục dinh
dưỡng sức khỏe cho trẻ 5 – 6 tuổi trong các hoạt động để nắm được việc thực hiện
và tổ chức trò chơi này ở trường mầm non.
5.2.4. Phương pháp thực nghiệm: tiến hành tổ chức các trò chơi học tập giáo dục
dinh dưỡng – sức khỏe trong các hoạt động học có chủ đích cho trẻ để xem sau khi
chơi trẻ đã đạt được yêu cầu mong đợi hay chưa.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu vấn đề lý luận về giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe và
các phương pháp giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe cho trẻ mầm non.
Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu về thực trạng giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe ở trường
mầm non Quỳnh Phương B và việc tổ chức các trò chơi học tập nhằm giáo dục dinh
dưỡng – sức khỏe cho trẻ 5 – 6 tuổi ở nhà trường.
Nhiệm vụ 3: Thiết kế một số trò chơi nhằm giáo dục dinh dưỡng– sức khỏe
một cách có hiệu quả cho trẻ 5 – 6 tuổi.
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Trò chơi học tập.
1.1.1.1.
Khái niệm
5
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
- Hành động chơi: là hệ thống các thao tác mà trẻ thực hiện trong quá trình chơi để
giải quyết nhiệm vụ học tập chứ đựng trong nội dung chơi. Hành động chơi phức tạp
dần theo sự phát triển của trẻ.
- Luật chơi: là quy định, quy ước việc thực hiện các hành động chơi trong quá trình
chơi, là tiêu chuẩn khách quan để đánh giá khả năng chơi của trẻ.
Ba thành tố này không phải lúc nào cũng được phân biệt rạch ròi, đôi khi luật
chơi dồng thời là các hành động chơi nhưng chúng kiên quan chặt chẽ với nhau,
thiếu một trong ba thành phần này thì không thể tiến hành trò chơi được.
Trong trò chơi học tập có sự tự nguyện và bình đẳng giữa các trẻ em, mọi trẻ
em đều có vị trí và nhiệm vụ như nhau khi tham gia vào trò chơi.
Trong trò chơi học tập, hành vi chơi và động cơ chơi có sự thống nhất chặt
chẽ với nhau, động cơ thúc đẩy trẻ hành động là trẻ phải thực hiện đúng thao tác,
hành động chơi mà trò chơi đặt ra.
Trò chơi học tập bao giờ cũng có một kết quả nhất định, trẻ cảm nhận được
kết quả hành động của mình: đoán đúng – sai, nói đúng tên và công dụng của đồ vật,
phát hiện ra cái mới. Kết quả sẽ thúc đẩy tính tích cực của trẻ, đồng thời mở rộng,
củng cố và phát triển vốn triển vốn hiểu biết của trẻ.
Trong trò chơi học tập, luôn tồn tại mối quan hệ qua lại giữa cô và trẻ với
nhau. Quan hệ này do hành động chơi, nhiệm vụ chơi và luật chơi quy định. Cô có
thể là người tổ chức cho trẻ chơi, có thể cùng tham gia trò chơi với trẻ. Trong mọi
trường hợp, trò chơi phụ thuộc vào cô giáo – người tổ chức, điều khiển trò chơi. Tuy
nhiên, sự phụ thuộc này sẽ bớt dần khi trẻ biết chơi, có khả năng tự tổ chức trò chơi
học tập của mình.
Tính tự lập và sáng kiến của trẻ được thể hiện trong quá trình trẻ thực hiện các
thao tác chơi, hành động chơi, lựa chọn các phương thức hành động trong các tình
huống chơi, trong việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo những hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo
của mình để giải quyết nhiệm vụ nhận thức hoặc phán đoán được tình huống có thể
xẩy ra nhằm thay đổi chiến thuật chơi của mình. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp,
một số trẻ quan sát thao tác, hành động chơi của bạn và bắt chước làm theo.
được nhiệm vụ học tập. Như vậy, các hoạt động trở nên nhẹ nhàng, thoải mái và
8
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
phát huy được tính tích cực của trẻ, tránh được sự phổ thông hóa trong tổ chức hoạt
động học tập cho trẻ ở trường mầm non. Tuy nhiên, không phải các hoạt động đều tổ
chức được ở dưới hình thức trò chơi.
1.1.1.4. Phân loại trò chơi học tập
* Dựa trên phương tiện tổ chức:
- Trò chơi học tập với đồ vật, đồ chơi tranh ảnh.
- Trò chơi lô tô.
- Trò chơi học tập bằng lời.
- Trò chơi âm nhạc.
* Dựa trên nhiệm vụ học tập được đưa vào trò chơi:
- Trò chơi học tập nhằm cung cấp biểu tượng, tri thức mới.
- Trò chơi học tập nhằm củng cố tri thức, biểu tượng đã học.
* Dựa trên ý nghĩa của trò chơi đối với sự phát triển của trẻ:
- Trò chơi học tập nhằm rèn luyện sự nhạy bén của các giác quan, phát triển khả
năng quan sát, khả năng định hướng trong không gian và thời gian cho trẻ.
- Trò chơi nhằm cung cấp các biểu tượng, tri thức mới và củng cố biểu tượng tri thức
đã biết.
- Trò chơi rèn luyện các thao tác tư duy, óc tưởng tượng sáng tạo.
- Trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ.
- Trò chơi nhằm rèn luyện khả năng tập trung, chú ý và sự nỗ lực, ý chí của trẻ.2.
1.1.1.5. Đặc điểm trò chơi học tập của trẻ 5 – 6 tuổi.
Hứng thú trò chơi học tâp của trẻ đã hướng vào kết quả và nhiệm vụ đặt ra chứ
không vào quá trình chơi như ở trẻ 3 – 4 tuổi, 5 – 6 tuổi. Nhiệm vụ chơi, kết quả
chơi chỉ đạo hành động chơi của trẻ, tron đó yếu tố thắng – thua, đúng – sai trở
thành động cơ để thúc đẩy trẻ tự lập, tích cực sáng tạo trong khi hành động.
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
+ Đối với những trò chơi có tính tập thể giáo viên nên tổ chức trò chơi dưới hình
thức thi đua giữa các trẻ với nhau hoặc giữa tập thể với nhau để tăng thêm hứng thú
chơi cho trẻ.
- Nhận xét sau khi chơi
+ Cô căn cứ vào luật chơi để đánh giá khả năng chơi của trẻ, đồng thời xét về thái độ
chấp hành luật chơi, thái độ đối với bạn trong khi chơi và thái độ của trẻ đối với đồ
chơi.
+ Tùy từng lứa tuổi mà cô lựa chọn hình thức phù hợp để nhận xét: đối với trẻ mẫu
giáo chủ yếu là cô động viên, khen ngợi giúp trẻ nhớ luật chơi và hứng thú tham gia
chơi. Đối với trẻ 3 – 4 tuổi và 5 – 6 tuổi cô cần đòi hỏi trẻ nghiêm túc thực hiện luật
chơi, hành động chơi đồng thời trẻ tự gợi ý để trẻ tự nhận xét mình và nhận xét
bạn.* Quy trình thiết kế trò chơi học tập
Để có được những trò chơi học tập phù hợp với chủ đề, đề tài của môn học thì
việc tìm hiể quy trình thiết kế là không thể thiếu và vô cùng quan trọng đối với
người giáo viên mầm non cũng như những người theo học ngành mầm non. Thông
qua quy trình thiết kế trò chơi học tập thì người giáo viên biết được tuần tự các
bước, các phần khi thiết kế trò chơi học tập và giúp cho trò chơi không những phù
hợp, đúng chủ đề, đề tài, đặc điểm độ tuổi của trẻ mà còn giúp chất lượng giáo dục
cao hơn.
Quy trình thiết kế trò chơi học tập.
Bước 1: Xác định mục đích trò chơi: Chỉ ra được bài toán của nhiệm vụ nhận
thức được yêu cầu đối với trẻ. Ở phần này sinh viên phải trả lời được câu hỏi “ Trẻ
học được gì qua trò chơi này”
Bước 2: Lựa chọn tình huống chơi: Phải suy nghĩ để chọn ra những tình huống
chơi sao cho gần gũi với cuộc sống của trẻ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa
11
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
1.1.2.2. Ý nghĩa của chủ đề
Giúp chủ thể đi đúng hướng, sử dụng đúng phương pháp khi khai thác chủ đề,
thực hiện đúng nội dung trọng tâm của chủ đề, giúp phát triển ở trẻ nhiều mặt góp
phần giúp trẻ phát triển toàn diện về tất cả các mặt.
1.1.2.3. Các chủ đề có thể thực hiện trong một năm học ở trẻ độ tuổi 5 – 6 tuổi:
Chủ đề
Trường mầm non
Bản thân
Gia đình, ngày 20/10
Nghề nghiệp, ngày 22/12
Thế giới động vật
Thế giới thực vật, tết nguyên đán
Tuần
2 – 3 tuần
4 – 5 tuần
4 – 5 tuần
4 – 5 tuần
4 – 5 tuần
4 – 5 tuần
Phương tiện và luật lệ giao thông, ngày 8/3
4 tuần
Các hiện tượng tự nhiên
hưởng bất lợi cho sức khỏe.
Ở trẻ,cơ thể đang lớn và phát triển mạnh, nhu cầu dinh dưỡng rất cao. Đây là
lứa tuổi rất nhạy cảm với vấn đề dinh dưỡng. Nếu chế độ dinh dưỡng không hợp lý
sẽ dẫn tới hậu quả của các bệnh về dinh dưỡng và ảnh hưởng lớn đến quá trình phát
triển của trẻ. Trẻ cần ăn uống đầy đủ về số lượng và cân đối về chất lượng, cơ cấu
bữa ăn phù hợp với lứa tuổi, phù hợp với hoạt động để phát triển khỏe mạnh và
phòng tránh được bệnh tật.
1.1.3.2. Sức khỏe
Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và
không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật (theo Tổ chức Y
tế Thế giới). Mặc dù định nghĩa này là chủ đề của nhiều cuộc tranh cãi, đặc biệt
thiếu giá trị hoạt động và vì vấn đề được tạo ra bởi từ "toàn diện", nên đây vẫn là
vấn đề còn kéo dài. Các định nghĩa khác cũng đã được đưa ra, trong số đó định
nghĩa gần đây nhất là mối quan hệ giữa sức khỏe và sự thỏa mãn các nhu cầu cá
nhân. Các hệ thống phân loại như phân loại quốc tế về gia đình của WHO bao
14
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
gồm: Hệ thống phân loại quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe (ICF) và phân
loại quốc tế về bệnh tật (ICD), thường được sử dụng để định nghĩa và để đo đạc các
thành phần của sức khỏe.
Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù
thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế - xã
hội nào.
1.1.3.3. Khái niệm về giáo dục dinh dưỡng và giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe
cho trẻ mầm non.
* Giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe
Giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe là một hoạt động giáo dục của con người để
duy trì và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của loài. Giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe
Quá trình lớn lên, phát triển và toàn diện của cơ thể trẻ chịu ảnh hưởng sâu
sắc bởi quá trình nuôi dưỡng và giáo dục. Trẻ càng lớn thì nhu cầu dinh dưỡng càng
cao, đặc biệt là giai đoạn 5 – 6 tuổi, giai đoạn cả về cấu tạo và chức năng của cơ thể
phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện, đây chính là tiền đề cho sự phát triển các giai
đoạn tiếp theo. Vì vậy, việc cung cấp đầy đủ dưỡng chất và giáo dục kiến thức về
dinh dưỡng cho trẻ một cách hợp lý ngay từ tuổi mầm non là một việc làm hết sức
cần thiết, đòi hỏi phải được quan tâm đúng mức.
* Mục tiêu giáo dục dinh dưỡng- sức khỏe cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Mục tiêu giáo dục thể hiện ở 3 mặt: kiến thức, kỹ năng, thái độ. Do đó, mục
tiêu giáo dục dinh dưỡng ở trẻ mẫu giáo cũng cần được xác định ở cả 3 mặt: kiến
thức, kỹ năng, thái độ.
16
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
-Phát triển kiến thức:
Trẻ biết:
+ 4 nhóm thực phẩm cơ bản.
+ Giá trị dinh dưỡng của một số thực phẩm thông thường.
+ Cách chế biến một số thực phẩm đơn giản.
+ Ích lợi của một số ăn uống đối với sức khỏe.
+ Sử dụng một số đồ dùng ăn uống.
+ Lựa chọn hợp lý trong ăn uống để phòng ngừa bệnh tật.
+ Một số bệnh có liên quan đến ăn uống.
-Phát triển kỹ năng:
Trẻ có kỹ năng:
+ Phân loại thực phẩm theo nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng.
+ Sử dụng một số đồ dùng trong ăn uống và chế biến thực phẩm.
+ Vệ sinh văn minh trong ăn uống.
+ Dạy trẻ cách sử dụng phối hợp các thực phẩm khác nhau trong bữa ăn, món ăn.
18
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
-Làm quen với một số cách chế biến và cách ăn các loại thực phẩm:
+ Thực phẩm được chế biến theo nhiều cách khác nhau: Để sống, nấu chín (nấu,
xào, rán,...), đóng hộp... Mỗi loại thực phẩm lại có nhiều cách chế biến khác nhau...
Dạy trẻ tham gia chế biến một số món ăn đơn giản.
-Thực phẩm được ăn theo nhiều cách khác nhau: ăn khi còn xanh, ăn sống, ăn
chín,...
- Thói quen ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau, không kiêng khem.
* Lợi ích của thực phẩm đối với sức khỏe, chọn và bảo quản thức ăn, các bữa
ăn trong ngày.
* Lợi ích của thực phẩm đối với sức khỏe:
- Cho trẻ biết các loại thực phẩm có vai trò quan trọng cho sức khỏe, sự tăng trưởng
và hoạt động hàng ngày của chúng ta. Con người cần ăn uống đầy đủ, hợp lý và sạch
sẽ để sống, phát triển, làm việc, học tập và vui chơi. Ăn thực phẩm bổ, lành, sạch sẽ,
giúp cơ thể sẽ mau lớn, ít ốm đau, da dẻ hồng hào, mắt sáng, nhanh nhẹn, thông
minh, học giỏi.
- Biết ích lợi các loại thực phẩm:
+ Thực phẩm cho nhiều năng lượng là: sữa, cơm, ngô, khoai, sắn, dầu mỡ,lạc,
vừng...
+ Thực phẩm giúp sáng mắt, da mịn màng: các loại rau củ quả, nhất là rau màu
xanh, màu đỏ, củ quả màu vàng, đỏ...
19
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
ngô, dầu, mỡ, lạc, vừng, rau, củ, quả...
+Giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch
Các chất dinh dưỡng ở thực vật là trợ thủ đắc lực cho con người trong cuộc
chiến chống lại các bệnh tim mạch – một trong những căn bệnh gây tử vong hàng
đầu trong xã hội hiện đại (cùng với tiểu đường, ung thư). Chất xơ, các chất chống
oxi hóa, vitamin, chất khoáng và những chất béo không bão hòa: omega 3, 6, 9… có
hiệu quả tích cực trong việc làm giảm cholesteron xấu, hạ huyết áp, ngăn ngừa biến
chứng tim mạch cho trẻ…
+ Phòng chống bệnh tật, làm chậm lão hóa.
Ngoài chế độ sinh hoạt, lối sống, các chất dinh dưỡng bạn lựa chọn hàng ngày
là một trong những yếu tố chính quyết định đến sức khỏe và tuổi trẻ. Theo các
chuyên gia dinh dưỡng, ăn nhiều các loại rau xanh và trái cây sẽ có sức khỏe, tinh
thần và kéo dài tuổi trẻ tốt hơn so với việc ăn nhiều các loại thực phẩm từ động vật.
Bởi không chỉ giàu vitamin, khoáng chất, đạm thực vật dễ tiêu, không chứa
cholesteron xấu…, thực vật còn chứa hàm lượng cao các chất chống oxi hóa tự
nhiên (Beta carotene, Chlorophyll, vitamin C, vitamin E…) giúp thanh lọc, đào thải
các chất độc trong cơ thể, tăng cường sức đề kháng, làm chậm quá trình lão hóa gây
ra bởi các gốc tự do.
+Kiểm soát cân nặng
Hiện nay, tỉ lệ trẻ mắc bệnh suy dinh dưỡng và trẻ béo phì đang rất cao. Để trẻ
phát triển chiều cao cân nặng ở mức cân đối ta không thể bỏ qua dinh dưỡng thực
21
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
vật trong bữa ăn hàng ngày cho trẻ. Ăn nhiều rau xanh giúp bạn kiểm soát sự thèm
ăn, hỗ trợ tiêu hóa, và hấp thu dinh dưỡng, không cung cấp các chất béo bão hòa gây
béo phì, giúp duy trì cân nặng ổn định và cơ thể khỏe mạnh, săn chắc.
+Làm đẹp da
Để trẻ có làn da đẹp, cơ thể trẻ cần được tăng cường vitamin, chất khoáng, các
xây dựng cơ thể (Vừng, lạc, đậu, đỗ, rau cần tây…), nhóm cung cấp chất béo (hạt
đậu, đỗ khô, lạc, vừng, dầu mỡ), nhóm cung cấp năng lượng để hoạt động (Gạo, mì,
ngô, khoai, sắn).
- Trẻ biết được nguồn gốc của các loại thực phẩm như:
+ Thực phẩm có nguồn gốc thực vật: Đậu các loại, lạc, vừng, dầu ăn, rau các loại,
củ, quả,...
+ Trẻ đã biết sử dụng phối hợp các thực phẩm khác nhau trong bữa ăn, món ăn như
mỗi bữa ăn phải có đầy đủ 4 nhóm chất: cơm, rau, thịt,…để đảm bảo chất
dinh dưỡng.
-Ở lứa tuổi này trẻ đã được làm quen với một số cách chế biến và cách ăn các loại
thực phẩm ở các giờ khám phá hay các giờ học khác nhau: như giờ khám phá khoa
học và môi trường xung quanh trẻ được các cô cho tự làm bánh chông chênh ngày
tết 3/3.
- Trẻ biết rằng hực phẩm có thể được chế biến theo nhiều cách khác nhau: Để sống,
nấu chín (nấu, xào, rán,...), đóng hộp... Mỗi loại thực phẩm lại có nhiều cách chế
biến khác nhau... và thực phẩm được ăn theo nhiều cách khác nhau: ăn khi còn xanh,
ăn sống, ăn chín,...
23
Hoàng Thị Trang – CĐMNK33B
- Trẻ biết được thực phẩm bổ, lành, sạch sẽ, giúp cơ thể sẽ mau lớn, ít ốm đau, da dẻ
hồng hào, mắt sáng, nhanh nhẹn, thông minh, học giỏi. Ngoài ra trẻ còn biết rằng ăn
những đồ ăn bẩn, ôi thiu, bơm nhiều thuốc trừ sâu sẽ gây hại cho sức khỏe. Ví dụ:
+ Trẻ biết thực phẩm cho nhiều năng lượng là: sữa, cơm, ngô, khoai, sắn, dầu
mỡ,lạc, vừng...
+ Trẻ biết thực phẩm giúp sáng mắt, da mịn màng: các loại rau củ quả, nhất là rau
màu xanh, màu đỏ, củ quả màu vàng, đỏ...
+ Trẻ biết thực phẩm giúp bé thông minh, mau lớn: gạo, mì, ngô, dầu, mỡ, lạc, vừng,