Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay (TT) - Pdf 35

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ CÔNG LƯƠNG

ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
Mã số

: 62 31 02 03

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Phan Hữu Tích
2.

TS.

Hoàng

Mạnh

Đoàn

HĐH đất nước, không thể xây dựng thành công CNXH.
Nối tiếp truyền thống của dân tộc, vận dụng những quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, Đảng
Cộng sản Việt Nam trong tiến trình cách mạng của mình cũng đã
thường xuyên chăm lo vận động, xây dựng đội ngũ trí thức. Bên cạnh
những những kết quả đạt được, sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác vận động trí thức cũng còn bộc lộ những hạn chế.
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, các thế lực thù địch với chiến
lược “diễn biến hòa bình” đang tăng cường các hoạt động chống phá
cách mạng nước ta, phá hoại khối đoàn kết toàn dân, chia rẽ dân với
Đảng, đặc biệt chúng tập trung lôi kéo, lợi dụng trí thức để nhằm xóa
bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải tăng
cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận nói
chung và công tác vận động trí thức nói riêng.
Xuất phát từ những lý do trên và từ yêu cầu nhiệm vụ, thực tiễn
công tác của bản thân, tác giả lựa chọn vấn đề: “Đổi mới sự lãnh
đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn
hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và
chính quyền nhà nước, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đổi mới sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác vận động trí thức đề xuất phương hướng và giải


2
pháp tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí
thức đến năm 2025.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án, làm rõ kết

3
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -Lênin
đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử - logic, phân
tích - tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát thực tiễn,
phương pháp chuyên gia và phương pháp điều tra xã hội học.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học
- Nghiên cứu và đưa ra khái niệm về trí thức và công tác vận động
trí thức; nội dung, phương thức lãnh đạo trí thức và xây dựng luận cứ
khoa học khẳng định tính tất yếu phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay.
- Đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và rút
ra những kinh nghiệm lãnh đạo công tác vận động trí thức làm cơ sở
thực tiễn cho việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận
động trí thức.
- Dự báo thuận lợi, khó khăn, từ đó xác định mục tiêu, yêu cầu và
đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác vận động trí thức đến năm 2025.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần phát triển hướng nghiên
cứu mới về lý luận và thực tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác vận động trí thức trong tình hình hiện nay. Luận án góp
phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác vận động trí thức trong tình hình hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo, nghiên cứu giảng dạy trong hệ thống trường chính trị, các
cơ quan, tổ chức và cá nhân quan tâm.
7. Kết cấu của luận án
Gồm phần mở đầu, 4 chương với 8 tiết, kết luận, danh mục công
trình nghiên cứu đã công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo

người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới’ - luận án
tiến sĩ Triết học của Trịnh Quang Cảnh, 1988;“Vấn đề phát triển
nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” - luận án
tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị Giáng Hương, 2013;“Giáo dục -


5
đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt
Nam hiện nay” - luận án tiến sĩ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử của Lương Công Lý, 2014; “ Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ trí thức từ 1991 đến 2005” luận án tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Thắng Lợi, 2005;“Trí thức Việt
Nam trong phát triển kinh tế tri thức” luận án tiến sĩ Triết học của
Nguyễn Công Trí, 2011; Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, phát
huy vai trò của đội ngũ trí thức và sự vận dụng trong thời kì Đổi mới luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Thuận, 2011; “Phát triển đội ngũ trí
thức ở Hà Tĩnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
- luận văn thạc sĩ Triết học của Trần Văn Thành, 2009.
1.1.3. Đề tài khoa học
- Đề cương báo cáo tình hình đội ngũ trí thức và công tác trí
thức của Đảng của Nguyễn Đình Tứ, Hà Nội 01/1996 ;
Đề tài khoa học cấp nhà nước (KX04.16/06-10)”Xây dựng đội
ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011 -2020” do PGS,TS Đàm Đức
Vượng làm Chủ nhiệm; Đề tài cấp bộ”Đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với trí thức nước ta hiện nay” (2008) của Viện
Xây dựng Đảng - Học viện CTQG Hồ Chí Minh, do TS Ngô Huy
Tiếp, Viện Xây dựng Đảng làm Chủ nhiệm…
Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị-xã hội trong điều kiện mới”, mã số KX. 04-02/11/15 thuộc
chương trình khoa học xã hôi và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước
“Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2011-2015” do

QUAN VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.3.1. Những kết quả của các công trình khoa học liên quan
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước
ngoài đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về trí thức và
công tác trí thức của một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nhìn
chung, những kết quả đạt được của các công trình khoa học liên quan
đến luận án đều có giá trị định hướng về phương pháp tiếp cận, giải
quyết vấn đề nghiên cứu. Những giải pháp mà các nhà khoa học đề
xuất nhằm đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng đội ngũ trí
thức và đổi mới công tác vận động trí thức đều có giá trị tham khảo
trong quá trình triển khai thực hiện luận án.


7
1.3.2. Nội dung nghiên cứu của luận án
Kế thừa kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan,
luận án hệ thống hóa và bổ sung những quan niệm về trí thức và công
tác vận động trí thức, về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác vận động trí thức, xây dựng luận cứ khoa học đổi mới sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay.
Luận án làm rõ thực trạng đội ngũ trí thức và đổi mới sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay để
làm cơ sở thực tiễn đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay, nghiên cứu những cơ hội
và thách thức, phương hướng, quan điểm chỉ đạo và đề xuất những
giải pháp tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận
động trí thức trong giai đoạn hiện nay.
Chương 2
ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI

dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Năm là, trí thức là lực lượng trực tiếp tham gia giữ gìn và phát
triển những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu
những tinh hoa giá trị văn hoá của nhân loại nhằm làm phong phú đời
sống văn hoá, tinh thần của nhân dân và đất nước.
2.1.1.3. Đặc điểm của trí thức Việt Nam
Một là, trí thức Việt Nam là những người lao động trí óc có tính
sáng tạo, sản phẩm lao động của họ thường mang đậm dấu ấn cá nhân.
Hai là, trí thức Việt Nam đã tiếp nối và phát huy được truyền
thống văn hiến của dân tộc, luôn đồng hành với sự nghiệp cách mạng
của dân tộc,của Đảng và có đóng góp đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp
giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Ba là, trí thức Việt Nam được hình thành từ nhiều nguồn, có sự
khác nhau; qua biến cố của lịch sử nhưng không phản bội Tổ quốc, có
những đóng góp về tư tưởng, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, công nghệ..
Bốn là, trí thức Việt Nam được tổ chức thành đội ngũ, chủ yếu
hoạt động trong các tập thể khoa học công lập, do Nhà nước cấp kinh
phí hoạt động và một bộ phận hoạt động trong các tập thể khoa học
ngoài công lập.


9
Năm là, một số trí thức Việt Nam chịu ảnh hưởng của tàn dư
phong kiến, thiếu sự liên kết chặt chẽ trong sáng tạo khoa học, tinh
thần hợp tác chưa cao.
2.1.2. Công tác vận động trí thức - Khái niệm, nội
dung, phương thức
2.1.2.1. Khái niệm vận động trí thức và công tác vận động trí thức
Công tác vận động trí thức là một bộ phận quan trọng trong công
tác dân vận; là hoạt động có tổ chức của Đảng, Nhà nước, các tổ chức


2.2.1. Khái niệm, nội dung, phương thức Đảng lãnh đạo
công tác vận động trí thức
2.2.1.1. Khái niệm Đảng lãnh đạo công tác vận động trí thức
Đảng lãnh đạo công tác vận động trí thức là toàn bộ hoạt động
của Đảng từ việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, tổ chức thực
hiện và kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách vận
động trí thức nhằm đoàn kết tập hợp, xây dựng và phát huy vai trò của
đội ngũ trí thức trong xây dựng và bảo vệ bảo vệ Tổ quốc.
2.2.1.2. Nội dung Đảng lãnh đạo công tác vận động trí thức
Một là, đường lối của Đảng xác định, mục tiêu, quan điểm, chủ
trương về trí thức và vận động trí thức
Hai là, Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa thành chính sách,
pháp luật để thực hiện công tác vận động trí thức.
Ba là, Đảng lãnh đạo công tác tuyên truyền, thuyết phục, cổ vũ,
động viên trí thức thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước.
Bốn là, Đảng lãnh đạo xây dựng tổ chức, cán bộ chuyên trách
làm công tác vận động trí thức.
Năm là, Đảng lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo
xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức.
Sáu là, Đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính
trị - xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp, tập hợp, đoàn
kết trí thức trong khối đại đoàn kết toàn dân tham gia sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.


11
2.2.1.3. Phương thức Đảng lãnh đạo công tác
vận động trí thức


12
Hai là, đổi mới nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
trong xây dựng chính sách, pháp luật về xây dựng, phát huy đội ngũ trí
thức và quản lý nhà nước theo pháp luật về công tác vận động trí thức.
Ba là, đổi mới nội dung lãnh đạo trong xây dựng tổ chức, bộ máy
của trí thức và cán bộ chuyên trách làm công tác vận động trí thức.
Bốn là, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên
truyền, thuyết phục, cổ vũ, động viên trí thức thực hiện đường lối chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Năm là, đổi mới nội dung lãnh đạo của Đảng trong công tác đào
tạo, bồi dưỡng, chăm lo xây dựng đội ngũ trí thức.
Sáu là, đổi mới nội dung lãnh đạo của Đảng đối với việc tạo lập
môi trường, điều kiện hoạt động khoa học thuận lợi cho trí thức lao động,
cống hiến.
Bảy là, đổi mới nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận tổ
quốc và các đoàn thể chính tri - xã hội trong việc tập hợp, phát huy
trí thức tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2.2.2.3. Nguyên tắc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác vận động trí thức
Đổi mới muốn thành công đòi hỏi phải có tính nguyên tắc. Đổi
mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức cần phải
giữa vững các nguyên tắc sau đây:
Một là, Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu trên, mà làm
cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm
đúng đắn về trí thức, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp
phù hợp.
Hai là, Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động
trí thức trước hết phải lấy Chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh là nền tảng tư tưởng, vận dụng sáng tạo và phát triển những

Ba là, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước,
chính quyền các cấp trong công tác vận động trí thức.
Bốn là, đổi mới công tác tổ chức, cán bộ của Đảng trong vận
động trí thức


14
Năm là, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo đối với Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể chính trị trong việc phối hợp nâng cao hiệu quả
công tác vận động trí thức.
Sáu là, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong việc
thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chính sách đối với trí thức và
công tác vận động trí thức.
Chương 3
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC VÀ ĐỔI MỚI SỰ
LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ
THỨC THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
3.1. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀ CÔNG TÁC VẬN
ĐỘNG TRÍ THỨC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

3.1.1. Thực trạng đội ngũ trí thức
3.1.1.1. Ưu điểm
* Đội ngũ trí thức phát triển nhanh chóng về mặt số lượng
* Về cơ cấu đội ngũ trí thức có những chuyển biến hợp lý
* Đội ngũ trí thức đã có những đóng góp, cống hiến to lớn vào
sự phát triển của đất
3.1.1.2. Khuyết điểm
* Trí thức Việt Nam phân bổ không đồng đều giữa các địa
phương, các vùng lãnh thổ, các loại hình đơn vị và các thành phần

phát huy vai trò lao động sáng tạo, tiềm năng trí tuệ của đội ngũ trí thức.
3.1.2.2. Những hạn chế, khuyết điểm trong công tác vận
động trí thức
a) Về nội dung công tác vận động trí thức
Một là, công tác tư tưởng đối với trí thức vẫn còn nhiều hạn chế.
Hai là, việc tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức chưa cao, việc thu
hút trí thức Việt kiều về tham gia xây dựng đất nước còn hạn chế.
Ba là, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ
trí thức còn bộc lộ nhiều yếu kém.
Bốn là, việc chăm lo bảo đảm chính sách, chế độ đãi ngộ, lợi ích
vật chất, tinh thần của đội ngũ trí thức còn thiếu đồng bộ chưa đáp
ứng được yêu cầu chính đáng của trí thức.


16
b) Về hình thức công tác vận động trí thức
Một là, hình thức tuyên truyền thuyết phục trí thức đổi mới
chậm, chưa sát với đặc thù của trí thức.
Hai là, vận động trí thức thông qua chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đôi lúc còn thiếu kịp thời,
thiếu sự nhất quán, thiếu thực tế.
Ba là, việc vận động trí thức bằng công tác cán bộ, thông qua
vai trò tiên phong gương mẫu trong tư tưởng, lời nói và hành động
của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa có sức thuyết phục trí thức.
Bốn là, việc vận động trí thức bằng sự phối, kết hợp giữa các tổ
chức đảng với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính
trị -xã hội, các tổ chức xã hội thiếu sự liên kết đồng bộ.
3.2. ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC - THỰC TRẠNG,
NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM

* Những ưu điểm trong đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng
Một là, đã có những đổi mới việc ban hành chủ trương, nghị
quyết và các định hướng chính sách lớn về trí thức và công tác vận
động trí thức
Hai là, đã có những đổi mới hoạt động của Đảng trong chỉ đạo
xây dựng chính sách, pháp luật và quản lý nhà nước về công tác vận
động trí thức.
Ba là, đã có những đổi mới công tác tư tưởng của Đảng trong
tuyên truyền, thuyết phục, cổ vũ, động viên trí thức thực hiện đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Bốn là, đã có những đổi mới công tác tổ chức và cán bộ của
Đảng trong các cơ quan quản lý Nhà nước về công tác vận động trí
thức, trongcác tập thể lao động khoa học, trong các đơn vị sự nghiệp
khoa học công lập.
Năm là, đã có những đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của
Đảng đối với các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tập
thể khoa học, các tổ chức và các hội nghề nghiệp của trí thức
Sáu là, đã có những đổi mới trong đề cao vai trò tiền phong,
gương mẫu và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên là trí thức hoạt


18
động trong các tập thể lao động khoa học; đổi mới phong cách, tác
phong công tác của cán bộ, đảng viên là trí thức.
Bảy là, đã có những đổi mới công tác Mặt trận và các đoàn thể
theo hướng phát huy vai trò của trí thức tham gia giám sát và phản
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc đối với hoạt động của bộ máy Nhà
nước; đoàn kết tập hợp trí thức công hiến cho sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.

tập thể khoa học, các tổ chức và các hội nghề nghiệp của trí thức mới
chỉ dừng ở quan điểm, chủ trương
Bốn là, việc đổi mới sự lãnh đạo bằng hình thức nêu gương của
đảng viên, gương người tốt việc tốt chưa đạt yêu cầu.
3.2.2. Nguyên nhân và một số kinh nghiệm
3.2.2.1. Nguyên nhân
a. Nguyên nhân của ưu điểm
Một là, Đảng nhận thức rõ và đánh giá cao vai trò của trí thức và
sự cần thiết phải đổi mới để tăng cường công tác vận động trí thức.
Hai là, thành tựu đạt được của công cuộc đổi mới, sự phát triển
kinh tế xã hội của đất nước đã góp phần mang lại những kết quả
trong quá trình đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận
động trí thức.
Ba là, năng lực trình độ của đội ngũ trí thức và cán bộ làm công
tác vận động trí thức có sự phát triển mới, tạo tiền đề cho công tác
vận động trí thức.
Bốn là, xu thế hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá cùng với sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ thế giới đem lại nhiều cơ
hội, điều kiện thuận lợi cho trí thức trong hội nhập và phát triển.
Năm là, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà
nòng cốt là liên minh Công nhân - Nông dân và Trí thức được củng
cố và tăng cường cũng là một điều kiện thuận lợi để huy động sức
mạnh tổng hợp thực hiện công tác vận động trí thức.
b. Nguyên nhân của khuyết điểm
Một là, nhận thức, trách nhiệm của một số cấp ủy đảng về trí thức
và công tác vận động trí thức vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm.


20
Hai là, việc thể chế hóa các chủ trương đường lối của Đảng về

GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC ĐỔI MỚI SỰ LÃNH
ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG
TRÍ THỨC ĐẾN NĂM 2025
4.1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ YÊU CẦU TIẾP TỤC
ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG
TRÍ THỨC

4.1.1. Những yếu tố tác động đến đổi mới sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác vận động trí thức
4.1.1.1. Thuận lợi
Một là, sự phát triển khoa học công nghệ và kinh tế tri thức.
Hai là, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
Ba là, những thành tựu 30 năm đổi mới, xu hướng phát triển của
đất nước trong những năm tới tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
vận động trí thức
Bốn là, truyền thống hiếu học và sự phát triển của GD&ĐT, nhất là
giáo dục đại học là tiền đề quan trọng để xây dựng đội ngũ trí thức
4.1.1.2. Khó khăn
Một là, những tác động mặt trái của toàn cầu hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế
Hai là, chiến lược diễn biến hoà bình và sự chống phá trên mặt
trận tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch vẫn đang tiếp diễn
Ba là, những khuyết điểm yếu kém của giáo dục và đào tạo, nhất là
giáo dục đại học đang là lực cản trong xây dựng đội ngũ trí thức
Bốn là, những hạn chế, bất cập về lý luận, sự thoái hóa biến chất
của một bộ phận cán bộ, đảng viên tác động xấu đến đội ngũ trí thức,
gây khó khăn cho việc tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác vận động trí thức
Năm là, những hạn chế, yếu kém của một bộ phận trí thức


nghiên cứu, sáng tạo của trí thức đi đôi với bảo đảm tuân thủ pháp
luật, kỷ cương, kỷ luật.


23
4.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC ĐỔI MỚI SỰ
LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TRÍ THỨC
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

4.2.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức
đảng về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức
4.2.2. Đổi mới công tác xây dựng và triển khai, tổ chức thực
hiện các nghị quyết của Đảng về công tác vận động trí thức
4.2.3. Tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
trong công tác vận động trí thức
4.2.4. Tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục
và đào tạo, khoa học và công nghệ để xây dựng đội ngũ trí thức và
tạo môi trường thuận lợi cho trí thức sáng tạo, cống hiến
4.2.6. Đảng lãnh đạo phát huy vai trò phát huy vai trò của Mặt
trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong công
tác vận động trí thức
4.2.6. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức của trí thức



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status