i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
HOÀNG THU HIỀN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG DẤU CÂU CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2015
ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
HOÀNG THU HIỀN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG DẤU CÂU CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Hoàng Thu Hiền
v
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 5
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 5
5. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 6
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG
BÀI TẬP RÈN VỀ DẤU CÂU CHO HỌC SINH TIỂU HỌC ....................... 8
1.1. Cơ sở lí luận của việc xây dựng hệ thống bài tập rèn về dấu câu cho học sinh
tiểu học ............................................................................................................... 8
1.1.1. Dấu câu trong văn bản ............................................................................... 8
1.1.2. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học ........................................... 22
1.1.3. Một số phần mềm có thể sử dụng trong thiết kế bài tập dấu câu cho học
sinh tiểu học .................................................................................................... 23
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập rèn về dấu câu cho
học sinh tiểu học.............................................................................................. 31
1.2.1. Nội dung chương trình dạy học dấu câu ở tiểu học.............................. 31
1.2.2. Việc dạy dấu câu ở trường tiểu học .................................................... 355
3.4.1. Thực nghiệm thăm dò .......................................................................... 100
3.4.2. Thực nghiệm kiểm tra đánh giá .......................................................... 100
3.5. Kết quả thực nghiệm .............................................................................. 102
3.5.1. Thực nghiệm thăm dò .......................................................................... 102
3.5.2. Thực nghiệm kiểm tra đánh giá .......................................................... 103
3.6. Kết luận chung về thực nghiệm ............................................................. 112
KẾT LUẬN .................................................................................................. 114
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ......................................... 117
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................... 118
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 120
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
Trang
1.1
Tóm tắt cách dùng các dấu câu
16
1.2
nghệ thông tin trong dạy học
3.1
Kết quả điểm kiểm tra ở các lớp thực nghiệm và đối chứng
108
kiểm tra trên giấy
3.2
Kết quả điểm kiểm tra ở các lớp thực nghiệm và đối chứng
109
kiểm tra trên máy tính
3.3
Bảng thống kê phần trăm mức độ thích khi làm các bài tập
111
dấu câu trên máy tính
3.4
Bảng thống kê phần trăm mức độ thích khi làm các bài tập
dấu câu trên giấy
111
Powerpoint dạng bài chọn một đáp án đúng trong Powerpoint
2.4
Viết Code dạng bài chọn một đáp án đúng trong Powerpoint
78
2.5
Chọn Checkbox và giao diện dạng bài chọn nhiều đáp án trong
81
Powerpoint
2.6
Giao diện dạng bài sắp xếp lại câu thứ tự chính xác trong Powerpoint
84
2.7
Giao diện dạng bài điền vào ô trống trong Powerpoint
85
2.8
Viết Code dạng bài Đúng/ Sai trong Powerpoint
94
2.14
Cách nhập câu hỏi dạng câu hỏi ghép đôi trong Violet
95
2.15
Giao diện dạng câu hỏi ghép đôi trong Violet
95
3.1
So sánh kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
109
kiểm tra giấy
3.2
So sánh kết quả kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
kiểm tra máy tính
110
1
2
dục đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay vào việc đổi
mới phương pháp dạy học. Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới xã
hội học tập. Vì thế cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các
cấp học, bậc học, ngành học theo hướng: công nghệ thông tin như là một công
cụ hỗ trợ đắc lực nhất trong đổi mới phương pháp dạy học các môn học. Và
việc sử dụng công nghệ thông tin để thiết kế các bài tập chính là một cách để
biến nó thành công cụ hiệu quả cho công việc, và tạo được hứng thú học tập
cho học sinh.
Trên thực tế, có khá nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề dạy đọc, dạy
cách đánh vần, dạy viết chữ, dạy cảm thụ thơ văn,... nhưng rất ít công trình
nghiên cứu về việc xây dựng hệ thống bài tập về dấu câu với việc ứng dụng
công nghệ thông tin vào thiết kế bài tập dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn đúng
đắn, khoa học để có thể dùng được trong dạy học phần dấu câu, đáp ứng yêu
cầu nâng cao chất lượng đào tạo là một việc làm cấp thiết.
Gần nửa thế kỉ qua, điểm lại tình hình nghiên cứu dấu câu tiếng Việt,
chúng tôi nhận thấy loại tín hiệu văn tự này ngày càng được các nhà nghiên cứu
quan tâm tới. Trước tiên phải kể đến tác giả Nguyễn Hiệt Chi, Lê Thước với
cuốn Sách mẹo tiếng Việt Nam (1935); tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và
Phạm Duy Khiêm viết cuốn Việt Nam văn phạm (1947),… Đó là những cuốn
sách bước đầu đề cập đến dấu câu tiếng Việt.
Những năm 60 đã có một số công trình nghiên cứu sâu hơn về dấu câu.
Chúng tôi xin kể đến cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (1964), tập 2, của tác giả
Nguyễn Kim Thản. Phần trình bày về dấu câu tiếng Việt của ông đã có cái nhìn
rộng hơn và cụ thể hơn. Trong 14 trang viết, ông dành 5 trang để giới thiệu
chung về lịch sử dấu câu của nhân loại, tác dụng dấu câu và căn cứ chung của
việc dùng dấu câu. Hơn nữa, trong phần phụ lục cuốn sách, Nguyễn Kim Thản
đã giới thiệu một số trường hợp dùng dấu câu tiếng Việt một cách rõ ràng.
4
Tiếng Việt hiện đại (1996) cũng chủ yếu xoay quanh chức năng ngữ pháp của
loại phương tiện văn tự này.
Về chức năng của dấu câu, mặc dù có nhiều quan điểm chưa hoàn toàn
thống nhất nhưng nhìn chung, các tài liệu nghiên cứu đều đã nhằm góp phần
làm ổn định hơn những quy tắc sử dụng dấu câu, hướng đến sự thống nhất và
chuẩn hóa các chức năng của dấu câu tiếng Việt. Đối với đề tài luận văn, việc
tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu về chức năng của dấu câu tiếng Việt giúp chúng
tôi có những căn cứ khoa học để đánh giá tính chính xác, độ tin cậy của nội
dung dạy học dấu câu đưa vào nhà trường và đánh giá kết quả học tập dấu câu
của học sinh.
Bên cạnh việc nghiên cứu về chức năng, công dụng của dấu câu, một số
tài liệu còn bàn về cơ sở của dấu câu hay cơ sở công dụng của dấu câu, nó
được hiểu là việc đặt dấu câu, sự diễn đạt các quy tắc dấu câu dựa trên cái gì
và căn cứ vào đâu để sử dụng dấu câu cho chuẩn, cho hay. Các tài liệu nghiên
cứu cơ sở của việc dùng dấu câu là những gợi ý đối với việc xác định con
đường, cách thức thuận tiện nhất để hướng dẫn học sinh nhận biết các chức
năng, công dụng của dấu câu, cách tiếp nhận và cách dùng dấu câu khi tạo lập
văn bản.
Bàn về việc sử dụng dấu câu, một số tài liệu đã chỉ ra các lỗi sử dụng
dấu câu, nguyên nhân và cách chữa. Những tài liệu này chính là căn cứ để
chúng ta suy nghĩ về phương pháp dạy học dấu câu trong đó có việc xây dựng
một hệ thống bài tập cho học sinh phổ thông sao cho khắc phục được các lỗi
dùng dấu câu.
Bộ sách giáo khoa Tiếng Việt đã chú trọng về nội dung bài tập dạy học
dấu câu, các dạng bài tập khá đa dạng.
Nhìn chung, các tài liệu nghiên cứu về dấu câu mà chúng tôi được biết
dấu câu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
6
Đê tài tập trung nghiên cứu các bài tập dấu câu được sử dụng trong môn
Tiếng Việt ở tiểu học hiện nay trong đó chủ yếu là các bài tập đã được sử dụng
ở các tiết thực hành luyện tập về dấu câu. Và một số phần mềm thông dụng:
phần mềm Microsoft PowerPoint, phần mềm Violet 1.8.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập về dấu câu xuất phát từ đặc điểm
lứa tuổi học sinh tiểu học, từ lí luận dạy học hiện đại, theo hướng tăng cường
thực hành, luyện tập, tiếp cận năng lực cùng việc kết hợp với công nghệ thông
tin để dạy học dấu câu trong nhiều giờ học của phân môn để học sinh được
luyện tập thường xuyên, liên tục thì chất lượng dạy học dấu câu ở nhà trường
tiểu học sẽ có hiệu quả hơn, giúp học sinh học tập hứng thú, khắc phục được
tình trạng sử dụng dấu câu mắc nhiều sai sót như hiện nay, sớm hình thành ở
các em ý thức cũng như khả năng hiểu và sử dụng đúng dấu câu khi tiếp nhận
và tạo lập văn bản.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu chủ yếu sau đây:
6.1. Phương pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp này được sử dụng để có được những thông tin và số liệu
cần thiết về tình hình thực tiễn dạy học dấu câu ở trường tiểu học, những ưu
điểm và hạn chế của phương pháp dạy học dấu câu trong nhà trường hiện nay,
tìm ra những nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó và định hướng nghiên cứu
phương pháp dạy học dấu câu cho học sinh tiểu học hiệu quả hơn, khắc phục
được những hạn chế của phương pháp dạy học hiện hành, nhằm góp phần nâng
Trong các tài liệu nghiên cứu về dấu câu tiếng Việt, các tác giả cũng đưa
ra những quan niệm của mình về dấu câu. Bàn về dấu câu, các tác giả cuốn Từ
điển Tiếng Việt (1997), Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: “Dấu câu là tên gọi
chung những dấu đặt giữa các câu hoặc các thành phần của câu nhằm làm cho
câu văn viết được rõ ràng, mạch lạc” [25, tr.238]
Tuy nhiên, trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học (1973),
Nguyễn Như Ý (chủ biên) đã đưa ra khái niệm về dấu câu một cách đầy đủ sâu
sắc và toàn diện: “Dấu câu là khái niệm dùng trong văn viết. Dấu câu là
phương tiện dung để phân biệt các ý nghĩa, các đơn vị ngữ pháp trong một câu
văn. Chúng được dùng để chỉ ranh giới giữa các câu, các thành phần trong câu,
giữa các thành tố trong cụm từ, trong các liên hợp cụm từ”. [24, tr.104]
Và trong luận văn này, chúng tôi chọn theo khái niệm về dấu câu của
Nguyễn Như Ý, 1973, Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Đại học
Quốc gia.
1.1.1.2. Phân loại dấu câu tiếng Việt
Dựa vào vị trí và chức năng của các dấu câu trong văn bản viết, người ta
chia mười dấu câu tiếng Việt thành hai nhóm chính sau:
- Nhóm các dấu đặt cuối câu (còn gọi là các dấu chấm câu). Nhóm này
gồm bốn dấu: chấm, hỏi chấm, chấm than, chấm lửng.
9
Các dấu này thường đứng ở vị trí cuối câu tường thuật, câu hỏi, câu cảm
thán và câu cầu khiến. Riêng dấu chấm lửng còn có thể đứng ở vị trí đầu hoặc
cuối trong câu.
- Nhóm các dấu đặt trong câu. Nhóm này gồm các dấu sau: phẩy, chấm
phẩy, gạch ngang, hai chấm, ngoặc đơn, ngoặc kép (đánh dấu ranh giới giữa
các thành phần ngoài nòng cốt với nhau và với bộ phận nòng cốt của câu; đánh
dấu ranh giới giữa các thành phần đồng chức với nhau; các vế của câu ghép;
giọng; dấu phẩy ghi lại chỗ ngắt giọng ngắn hơn một chút và thường là hơi lên
giọng; dấu chấm lửng là chỗ sự ngắt giọng có thể kéo dài,... Người đọc, dù chỉ
đọc văn bản thì họ có thể nhận biết được giọng nói, những quãng ngắt giọng sự
lên giọng hay xuống giọng... của từng câu tác giả muốn diễn đạt. Có được điều
này một phần là nhờ vào hệ thống dấu câu. Trong giao tiếp chúng ta thường
đọc bằng mắt hoặc đọc lướt là chủ yếu. Mặt khác, giữa văn nói và văn viết có
sự khác biệt lớn. Lúc nói, đôi khi người ta không nghỉ hơi giữa các câu. Ví dụ,
khi hùng biện người ta không ngắt câu hay dừng lại nhiều nhằm mục đích để
người nghe chú ý. Như thế, nếu cứ tuân thủ quy tắc trên một cách máy móc,
chúng sẽ gặp rắc rối trong thực tế. “Dạy dấu câu cần khai thác vai trò của ngữ
điệu trong việc giúp học sinh nhận biết chức năng của dấu câu song cũng cần
tính đến những trường hợp ngoại lệ.” [12, tr.7]
1.1.1.5. Dấu câu và kết cấu ngữ pháp của câu
Theo tác giả Nguyễn Xuân Khoa,"Trong một số trường hợp khác, chúng
ta không thấy sự tương hợp giữa dấu câu và ngữ điệu: Dấu chỉ được xác định
bằng những tiêu chí ngữ pháp. Thí dụ, dùng dấu phẩy để ngăn cách các đoạn
câu trong câu phức hợp không có từ nối.” [7, tr.19]. Như vậy, cần dựa vào cấu
tạo ngữ pháp để dùng dấu câu, hay nói cách khác, dấu câu còn được sử dụng
để làm rõ cấu trúc cú pháp của câu: phân biệt câu này với câu khác, giữa phần
này với phần khác trong câu... Về mặt nguyên tắc, có thể đặt dấu câu ở các vị
trí: cuối câu, giữa câu, đầu câu, hai đầu của câu của ngữ đoạn (dấu ngoặc kép,
ngoặc đơn). Các dấu có thể xuất hiện ở các vị trí như: giữa chủ ngữ và vị ngữ,
12
giữa trạng ngữ hoặc các phần phụ khác với nòng cốt câu, giữa các vế của câu
ghép, giữa phần được nhấn mạnh và phần không được nhấn mạnh trong câu...
Dấu câu làm cho cấu trúc cú pháp của lời nói được rõ ràng, tiện lợi cho việc
hiểu nội dung văn bản; dấu câu giúp phân định ranh giới giữa các câu, các thành
mạch lạc. Khi ta thay đổi cách đánh dấu câu trên cùng một câu văn sẽ làm thay
đổi nội dung biểu đạt của câu đó. Theo tác giả Lý Toàn Thắng, “ngoài hai cơ
sở cấu tạo cú pháp và ngữ điệu, những quy ước chung của xã hội về cách dùng
dấu câu còn dựa vào quan hệ ý nghĩa (logic) giữa các phần trong câu. (...) Cấu
tạo cú pháp và ngữ điệu mới chỉ cho phép xác định được vị trí đặt dấu câu và
nhóm những dấu câu đặt ở vị trí đó. Còn việc lựa chọn một dấu câu cụ thể
trong nhóm những dấu câu đó - nghĩa là công việc thứ hai phải làm khi dùng
các dấu câu - là do nhân tố ý nghĩa của câu quyết định”. [21, tr.216]. Đúng
vậy, trong nhiều tình huống giao tiếp bằng chữ viết, ở cả ngôn ngữ biến hình
và không biến hình, dấu câu có khả năng quy định cách hiểu nội dung của câu,
đoạn, văn bản. Ví dụ, cùng một chuỗi từ ngữ giống hệt nhau song chúng lại
truyền đạt những nội dung thông tin khác nhau:
- Càng nghĩ đến công lao, các anh chị em càng cảm phục.
- Càng nghĩ đến công lao các anh, chị em càng cảm phục.
- Càng nghĩ đến công lao các anh chị, em càng cảm phục.
- Càng nghĩ đến công lao các anh chị em, càng cảm phục.
[7, tr.8, 9]
- Khen cho con mắt tinh đời.
- Khen cho con, mắt tinh đời.
[18, tr.134]
Sự khác nhau về nội dung thông tin trong các câu nói trên tuỳ thuộc vào
dấu câu và vị trí đặt dấu câu.
14
Như vậy, khi biểu đạt điều muốn nói bằng chữ viết, người viết không thể
không chú ý đến việc lựa chọn và sử dụng dấu câu để văn bản đạt hiệu quả giao
tiếp như mong muốn. Nội dung của câu là cơ sở quan trọng để sử dụng dấu câu
và đó cũng là căn cứ quan trọng để dạy dấu câu. Có thể đánh giá khả năng tiếp
- Dùng dấu câu khác thay cho dấu câu được dùng theo quy định thông thường.
- Đặt thêm dấu câu ở những chỗ mà theo quy định thông thường không
cần thiết phải đặt, cụ thể là: giữa chủ ngữ và vị ngữ; giữa động từ và bổ ngữ;
trước từ nối liên kết các phần trong câu.
Theo cuốn 99 Phương tiện và Biện pháp tu từ Tiếng Việt tác giả Đinh
Trọng Lạc đã đưa ra một số ví dụ như sau:
“Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi
Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác.”
(Chế Lan Viên)
“Cách chấm câu đột ngột giữa dòng thơ (chấm để kết thúc một câu ngắn
gọn và mở đầu một câu có liên từ) rõ ràng có tính chất đặc biệt, thuộc phong
cách riêng của nhà thơ. Nó vừa diễn tả được tâm trạng quyến luyến với đất
nước vừa nói lên được tình cảnh bức bách phải ra đi trong giờ phút trọng đại
đó.” [9, tr.236]
Hay “Cối xay tre, nặng nề quay, từ ngàn đời nay, xay nắm thóc.”
(Thép Mới)
“Nhờ cách dung ba dấu phẩy (ít nhất dấu phẩy thứ nhất về mặt ngữ pháp
là không cần thiết), tác giả đã có thể ngắt câu thành những đoạn cân đối, do
đó diễn tả được cái nhịp quay đều đặn và nhẫn lại của chiếc cối xay.”[9, tr.237]
Tìm hiểu dấu câu trong mối quan hệ với mục đích nói của câu, với ngữ
điệu, ngữ nghĩa, với kết cấu ngữ pháp và các phương tiện, biện pháp tu từ,
chúng tôi có được những căn cứ khoa học để chúng tôi xây dựng các bài tập về
dấu câu cho học sinh tiểu học đa dạng, phong phú và hiệu quả hơn.
1.1.1.8. Tóm tắt cách dùng các dấu câu
16
Bảng 1.1. Tóm tắt cách dùng các dấu câu
Cách gọi tên
muốn được trả lời
Ví dụ: Mấy ngày nữa thì mẹ về hả chị?
(Hồ Thu Hồng)
2. Dấu
chấm hỏi
?
2. Đặt cuối câu hỏi được dùng với mục đích khẳng định
Ví dụ: Trong nỗi đau, có ai hơn ai?
(Báo Văn nghệ)
3. Đặt cuối câu kể nhưng lại được dùng với mục đích
nghi vấn
Ví dụ: Sáng nay, bạn Lan đi học?
17
Đặt cuối câu cầu khiến hoặc câu cảm:
1. Bộc lộ trạng thái cảm xúc
Ví dụ: Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao!
(Nguyến Thế Hội)
3. Dấu chấm
cảm
!
2. Biều thị lời hô, lời gọi
Ví dụ: Huy ơi! Ngủ chưa, Huy?