A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHON ĐỀ TÀI.
Để thực hiện nhiệm vụ giáo dục trong trường Tiểu học, Bộ Giáo dụcvà
Đào tạo đã đưa môn Âm nhạc vào giảng dạy trong chương trình chính khoá. Nó
đã trở thành một trong 9 môn học bắt buộc trong trường Tiểu học để đào tạo con
người toàn diện cũng như các môn học khác trong hệ thống giáo dục. Âm nhạc
bao gồm kiến thức, kĩ năng, cơ sở kĩ năng, phương pháp dạy học. Điều đặc biệt
hơn cả là những kiến thức kĩ năng, phương tiện của bộ môn âm nhạc không phải
là khoa học tự nhiên hay xã hội đơn thuần mà nó là môn nghệ thuật âm nhạc. Vì
vậy, tiến trình dạy học phải tuân theo những qui luật, những nguyên tắc sư phạm
vừa phải, đảm bảo tính vừa sức về truyền thụ kiến thức và sự phát triển của nghệ
thuật âm nhạc. Song thực tế việc giảng dạy bộ môn Âm nhạc trong nhà trường
Tiểu học hiện nay, chưa có sự quan tâm đúng mức với quan niệm dạy cho đủ số
tiết, đủ số giờ theo qui định của chương trình; chưa chú trọng đến chất lượng và
hiệu quả của giờ dạy; chưa kết hợp các phương pháp dạy học cho trẻ ở từng độ
tuổi với các dạng hoạt động của từng môn học để giờ dạy phong phú, đạt hiệu
quả. Để đáp ứng với yêu cầu cải cách giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học,
môn Âm nhạc đã được ưu tiên và chú ý hơn về thời gian; chương trình bộ môn
đã được đem thảo luận ở nhiều tổ bộ môn Âm nhạc, ở nhiều hội thảo khoa học
với mục đích nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục trong nhà trường.
1. Cơ sở lí luận.
Âm nhạc là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện
nhiệm vụ giáo dục. Chính vì vậy trong chương trình giáo dục thế hệ trẻ, giáo
dục âm nhạc được coi là một trong những nội dung quan trọng của lứa tuổi học
sinh. Hoạt động âm nhạc có những nét đặc trưng riêng, các em được học nhạc,
Trong qua trình giảng dạy và tìm hiểu phương pháp dạy hát nhạc của rất
nhiều đồng nghiệp, tôi được biết: Một số giáo viên lên lớp với hình thức thầy
truyền thụ kiến thức có sẵn trong tài liệu sách giáo khoa với các phương pháp
dạy học cũ chủ yếu là truyền miệng, hát, đọc nhạc mẫu, học sinh không hiểu mà
thụ động nghe và bắt chước theo thầy. Bên cạnh đó, một số trường vẫn chưa đủ
giáo viên dạy riêng cho bộ môn này, do vậy giáo viên chủ nhiệm vẫn phải kiêm
nhiệm, dạy bộ môn này. Đến giờ học hát giáo viên chủ nhiệm chỉ cho học sinh
ghi đầu bài và dạy học sinh hát theo cách truyền miệng, vẫn còn hiện tượng học
sinh hát sai nhiều, phần tập đọc chép nhạc bỏ qua coi như không có trong
chương trình vì giáo viên không chuyên chỉ biết sơ qua về nốt nhạc chứ không
dựa vào giai điệu chính có trong bài để dạy học sinh sao cho đúng. Một số
trường có giáo viên chuyên nhạc thì lên lớp không có đồ dùng dạy học, không
sử dụng được nhạc cụ, dạy học sinh theo phương pháp cũ: Thầy hát mẫu, trò hát
theo lối bắt chước, một số giáo viên chuyên nhạc vẫn chưa chú trọng vào việc
giảng dạy phân môn này, chỉ có một số rất ít có giáo viên có ý thức nghiên cứu
bài dạy trước khi lên lớp và sử dụng hợp lý đồ dùng dạy học. Nhìn chung các
2
giáo viên chuyên chưa đi sâu nghiên cứu để khám phá phương pháp dạy học cho
phù hợp đạt hiệu quả, hay nói một cách khác là giáo viên dạy hát nhạc chưa biết
đổi mới phương pháp dạy học để phát huy khả năng vốn có của học sinh. Đó là
trở ngại lớn để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, phát huy năng khiếu bẩm
sinh của các em. Đối với học sinh lớp 5 thì việc học hát, học nhạc có thuận lợi
hơn vì các em đã lớn, cơ quan phát âm của các em phát triển hơn, có ý thức học
tập và tiếp thu bài tốt hơn.
Để nắm bắt tình hình học bộ môn Âm nhạc của học sinh lớp 5, tôi đã theo
dõi quá trình học của các em thấy chất lượng còn rất thấp, phần lớn các em vẫn
chưa cảm thụ hết môn nghệ thuật này. Qua trao đổi với học sinh lớp 5, tôi thấy
Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn âm nhạc lớp 5
nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh. Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng
các phương pháp sau:
1. Nghiên cứu tài liệu:
- Đọc các tài liệu sách, giáo trình giảng dạy môn âm nhạc lớp 5.
- Phương pháp dạy học các môn học ở Tiểu học và phương pháp tổ chức các
hoạt động âm nhạc.
2. Nghiên cứu thực tế.
- Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp.
- Tổng kết, rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học.
- Tổ chức và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài.
V. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU.
Tôi chủ yếu đưa ra “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy
học môn âm nhac lớp 5” để đạt hiệu quả cao trong một tiết học.
Học sinh lớp 5. Thời gian nghiên cứu, từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 4
năm 2015.
4
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. KHẢO SÁT THỰC TẾ.
Nhận thức của học sinh.
Mặc dù về cơ sở vật chất của trường còn chưa đáp ứng được với yêu cầu
giảng dạy của bộ môn Âm nhạc, nhưng trên thực tế cho thấy chất lượng giáo dục
của trường cũng khá cao, nhưng cũng chưa đồng bộ về chất lượng học sinh
173
83,2%
Chưa hoàn thành
0
0%
2. Đánh giá kết quả khảo sát:
Qua kết quả khảo sát trên, xét về mặt bằng tôi nhận thấy kết quả như vậy
chưa được cao đối với bộ môn Âm nhạc. Với nhu cầu xã hội ngày một phát
triển, đòi hỏi mỗi con người cũng cần phải phát triển toàn diện. Âm nhạc là bộ
môn vô cùng bổ ích, nó giúp cho học sinh nhận ra cái chân - thiện - mỹ qua các
bài hát. Điều này đòi hỏi giáo viên phải kịp thời uốn nắn, tìm ra một số phương
pháp dạy phù hợp với phân môn này để giúp các em không còn e ngại, sợ sệt
mỗi khi lên biểu diễn trước lớp, bởi đó là một thực trạng rất đáng lo ngại mà
đáng lẽ phải thu hút được sự hứng thú và yêu thích của học sinh.
Từ những vấn đề trên tôi đã tìm hiểu ra nguyên nhân để có hướng khắc phục
những tồn tại trong việc dạy và học.
5
* Nguyên nhân:
- Nguyên nhân lớn vẫn là do giáo viên chưa biết phối kết hợp các phương
pháp sao cho hợp lý để áp dụng vào trong bài dạy, truyền thụ kiến thức phải
mang tính vừa sức, phù hợp với lứa tuổi để giúp các em chưa có năng khiếu xóa
bỏ những mặc cảm tự ti.
điều kiện hết sức quan trọng để giáo viên có thể tổ chức tốt cho học sinh hoạt
động, tạo điều kiện để các em được tiếp xúc với thế giới âm nhạc, giúp các em
củng cố thêm các kiến thức cho mình. Như vậy, hoạt động học tập mới đúng là
quá trình “tái tạo” kiến thức bằng “sáng tạo” của chính các em.
2.Về phương pháp giảng dạy.
Đối với môn Âm nhạc lớp 5 gồm có ba phần chính là Học hát, phát triển
khả năng âm nhạc và Tập đọc nhạc.Tuy nhiên tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu hai
phần chính là Học hát và Tập đọc nhạc.
6
- Học hát: Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh những kĩ năng ca hát thông
thường như tư thế hát, hơi thở, hát rõ lời, phải ngắt câu, lấy hơi. Tập cho học
sinh hát tự nhiên, thoải mái, hát đúng âm điệu, biết hát đồng đều trong tập thể,
biết bảo vệ giọng hát. Hướng dẫn cho các em biết thể hiện sắc thái tình cảm, có
ý thức thể hiện diễn cảm bài hát theo nội dung và tính chất âm nhạc. Giáo viên
phải sử dụng đàn, đàn thành thạo bài hát và có những động tác phụ họa đơn giản
cho bài hát mà mình dạy.
- Tập đọc nhạc: Giáo viên luyện cho học sinh đọc đúng cao độ, trường độ và
tiết tấu của bài. Với phần này các em phải sử dụng kĩ năng hiểu là chủ yếu, kĩ
năng này giúp các em biết ghi các kí hiệu trong âm nhạc và hiểu được các kí
hiệu đó.
Giáo viên nên sử dụng băng, đĩa, tranh ảnh, tư liệu có liên quan đến bài học. Tăng
cường các tiết dạy bằng máy chiếu, giáo án điện tử.
Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một số kiến thức nhạc lí trong quá
trình dạy hát hay tập đọc nhạc.
Ngoài các biện pháp trên, bản thân tôi qua thời gian công tác giảng dạy
đúc rút được thêm một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn
âm nhạc lớp 5 như sau:
Lễ hội cồng chiêng của người Tây Nguyên
Còn đây là lễ hội cồng chiêng của người Tây Nguyên, qua đây chúng ta
có thể thấy rằng người Tây Nguyên rất yêu âm nhạc. Họ đã sáng tác ra nhiều bài
dân ca và nhiều nhạc cụ dân tộc như: Cồng chiêng, Đàn T’rưng, Đàn đá, Klongput,…
10
Hình ảnh trình diễn các nhạc cụ dân tộc Tây Nguyên
11
Một số bài hát dân ca nổi tiếng như: Đi cắt lúa và bài Hát mừng mà các con
được học hôm nay.
- Cho học sinh nghe hát mẫu: Mục tiêu là để học sinh làm quen với giai điệu
và biết cảm nhận ban đầu về bài hát (tính chất âm nhạc,giai điệu, tiết tấu, màu
sắc, ca từ,...).
Giáo viên hát mẫu hoặc mở đĩa cho học sinh nghe để các em cảm nhận. Có
thể coi đây là bước dầu để học sinh tiếp xúc với giai điệu của bài hát. Vì vậy, sự
hấp dẫn của bài sẽ để lại ấn tượng tốt đối với các em.
Giáo viên cần trình bày bài hát một cách thuần thục, đem lại đầy đủ cảm xúc
và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Khi hát mẫu, giáo viên nên vừa hát vừa làm
động tác minh hoạ sẽ giúp các em thích thú hơn. Việc hát mẫu cho học sinh
nghe giúp các em cảm thụ được bài hát một cách đầy đủ, trọn vẹn, bởi cách hát
của giáo viên gần gũi với các em hơn so với đĩa nhạc. Học sinh cảm thấy hào
hứng khi được nghe thầy cô hát. Thể hiện được năng lực âm nhạc và cảm xúc
của giáo viên.
Khi dạy hát từng câu, giáo viên phải kết hợp sử dụng nhạc cụ và hát mẫu để
hướng dẫn học sinh hát đúng giai điệu và lời ca của từng câu hát. Tuy nhiên, hát
mẫu nhiều hay ít, hát mẫu trước hoặc sau khi học sinh tập hát còn phụ thuộc vào
năng lực của học sinh và đặc điểm riêng của bài hát như câu hát dài hay ngắn, dễ
hay khó, có luyến láy hay không...Giáo viên nên vận dụng nhiều cách dạy với
những bài hát khác nhau, thậm chí là với những câu hát khác nhau, không nên
thực hiện dập khuôn, máy móc. Dưới đây là một cách thực hiện:
Trước khi tập hát câu nào thì giáo viên cho học sinh đọc lại lời ca câu hát đó.
Sau đó, giáo viên đàn giai điệu khoảng 2 - 3 lần, để tất cả học sinh lắng nghe và
tự hát nhẩm theo, rồi bắt nhịp để các em tập hát vài lần hoà với tiếng đàn. Hoạt
động đó vừa giúp học sinh luyện được tai nghe và phát huy được tính tích cực
của các em. Tiếp đó, giáo viên chỉ định học sinh hát lại câu vừa tập (với các hình
thức như cá nhân, theo nhóm, tổ), giáo viên lắng nghe để phát hiện chỗ sai rồi
giúp các em sửa lại. Lúc sửa sai giáo viên nên đàn chậm, hát chậm, nhấn rõ
những chỗ sai, giúp các em nhận biết được và tập hát cho chính xác. Cần hướng
dẫn các em sửa sai ngay từ bước tập hát từng câu, không để đến khi hát cả bài
mới sửa, vì lúc đó, học sinh mắc nhiều lỗi, sửa được lỗi này có thể lại mắc lỗi
khác. Giáo viên cũng có thể chỉ định những em hát tốt sửa sai cho bạn.
Tương tự như vậy, giáo viên hướng dẫn học sinh tập câu hát tiếp theo. Sau
khi tập xong 2 câu, giáo viên cho học sinh hát nối 2 câu với nhau. Những bài hát
có 4 câu, nên hát nối câu 1 - 2 rồi câu 3 - 4, không nên hát nối từ câu 1 đến câu
3, tạo nên cảm giác chênh vênh, thiếu cân đối. Dạy hát từng câu theo lối móc
xích có lợi vì: Học sinh không quên giai điệu và lời ca, nhớ các câu hát thành hệ
thống, hát câu sau sẽ nhớ câu trước, hát không bị sai nhịp.
Nếu trong bài hát có những câu giống nhau về giai điệu, giáo viên nên chỉ
định học sinh tự nhận biết và tập hát để phát huy tính tích cực, sau đó có thể
giúp các em chỉnh sửa những chỗ cần thiết.
- Hát cả bài: Bước này giúp học sinh tiếp tục sửa chỗ hát sai (nếu có), hướng
dẫn các em biết cách lấy hơi, thể hiện đúng chỗ ngân, chỗ nghỉ trong bài và thể
Lưu ý những bài dân ca không hướng dẫn học sinh gõ đệm theo tiết tấu,
Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với các cách gõ đệm theo bài hát.
Chính vì vậy, trước khi cho học sinh thực hành gõ đệm thì giáo viên gọi vài em
đứng lên nhắc lại cách gõ đệm theo cách mà giáo viên đang hướng dẫn. Sau đó,
giáo viên làm mẫu cho học sinh nghe và quan sát 2 lần. Lần thứ nhất, giáo viên
đọc lời ca kết hợp gõ đệm một câu hát đầu của bài. Lần thứ 2, giáo viện hát kết
hợp gõ đệm toàn bài để các em năm được cách hát và gõ đệm bài đó. Nếu bài
hát được viết ở nhịp lấy đà (nhịp thiếu) thì giáo viên phải hướng dẫn để các em
gõ không bị ngược nhịp.
14
Ví dụ:
Tiết 6: Học hát bài: Con chim hay hót.
Nhạc: Phan Huỳnh Điểu
Lời: Theo đồng dao
Vui- Hơi nhanh
15
Gõ đệm theo phách:
x
>
x
x
x
x
16
x
x
x
x
x
Khi học sinh hát cùng đàn phím điện tử, nếu kết hợp cả gõ đệm có thể làm
âm thanh ồn ào, khó kiểm soát việc học sinh hát đúng, gõ đúng và thường làm
cho các em bị hát cuốn nhịp. Giáo viên nên phân công nửa lớp gõ đệm và nửa
lớp hát, sau đó đổi ngược lại. Làm như vậy, tiếng gõ đệm vừa thể hiện sự tinh tế,
vừa thực hiện đúng vai trò làm nền cho tiếng hát.
Bên cạnh những cách gõ do một học sinh thực hiện, thì còn có cách gõ đệm
được kết hợp bởi hai học sinh. Ví vụ: Khi gõ đệm cho nhịp 2 hai em quay mặt
4
vào nhau, phách 1 từng em vỗ hai tay mình, phách 2 vỗ cả hai lòng bàn tay vào
tay của bạn
Hai tay như khoanh trước ngực, nghiêng sang bên trái rồi bên phải.
Hai tay chống vào thắt lưng, chân nhún nhịp nhàng sang trái rồi sang phải.
Đưa hai tay ngang vai, gập cánh tay, ngón tay chạm lên vai.
Hai tay đưa cao quá đầu, vẫy sang trái rồi sang phải.
2
3
4
5
6
7
8
9
17
10
11
12
13
14
15
16
Hai tay đưa cao quá đầu tạo thành hình vòng tròn, lòng bàn tay ngửa, thân
người nghiêng bên trái rồi bên phải.
Hai tay đưa từ thấp lên cao quá đầu, dang rộng hai tay, vừa lắc cổ tay vừa
hạ dần xuống.
Tay trái đưa ra trước mặt như mời, tương tự với tay phải.
Bài TĐN số 5 được viết ở nhịp 2 , giọng Đô trưởng.
4
- Tập nói tên nốt nhạc: ở bước này học sinh chỉ cần nắm vững và nói tên đúng
nốt nhạc. Giáo viên chỉ vào từng nốt trong bài để cả lớp đồng thanh nói tên nốt
hoặc chỉ định một vài học sinh nói tên nốt trong từng khuông nhạc. Nói tên nốt
khác với đọc nhạc ở chỗ, học sinh chỉ cần biết tên nốt nhạc là: Đô, Rê, Mi, Pha,
Son, La, Si mà không cần thể hiện đúng cao độ của chúng.
- Luyện tập cao độ:
+ Giáo viên hỏi học sinh về cao độ các nốt trong bài Tập đọc nhạc từ thấp lên
cao, giáo viên viết lên bảng thành thang âm.
19
+ Giáo viên dịch giọng cho phù hợp với học sinh
+ Giáo viên đàn để học sinh đọc cao độ các nốt từ thấp lên cao rồi theo chiều
ngược lại. Đôi khi, giáo viên hướng dẫn tập đọc các quãng chính trong thang
âm.
+ Luyện tập cao độ và tiết tấu là hai hoạt động rất cần thiết khi dạy Tập đọc
nhạc. Tâm lí của học sinh là muốn khám phá tên nốt nhạc trong bài Tập đọc
nhac. Vì vậy, giáo viên nên hướng dẫn học sinh đọc cao độ bởi hoạt động này
vừa giúp các em nắm vững tên nốt, vừa đọc cao độ của bài.
- Luyên tập tiết tấu:
+ Giáo viên hỏi học sinh về hình nốt có trong bài Tập đọc nhạc.
+ Giáo viên viết tiết tấu của bài TĐN lên bảng (thông thường là tiết tấu đầu
tiên)
+ Giáo viên gõ tiết tấu làm mẫu. Sau dó hướng dẫn học sinh luyện tập tiết tấu.
* Khi luyện tập tiết tấu, giáo viên cần lưu ý cho học sinh:
.
x
x
x
x
x
x
Cách thứ ba, vừa đọc vừa gõ tiết tấu
đen đơn đơn
x x
x
đen đen
x
x
đơn đơn đơn đơn
x x
x x
trắng
x
Cách thứ tư, đọc tiết tấu kết hợp gõ phách.
21
. Việc đọc hoặc gõ tiết tấu rất khó thể hiện đúng với nốt nhạc ngân dài. Vì vậy,
giáo viên cần qui ước với học sinh bằng động tác mở rộng hai bàn tay (nếu là
nốt ngân dài) hoặc úp bàn tay (nếu là dấu lặng)...
. Nếu bài Tập đọc nhạc có tiết tấu khó, giáo viên nên sử dụng cách luyện tập
tiết tấu đơn giản (đọc tiết tấu hoặc gõ tiết tấu). Ngược lại, bài có tiết tấu dễ, có
thể áp dụng cách luyện tập phức tạp (đọc kết hợp gõ tiết tấu hoặc đọc tiết tấu kết
hợp gõ phách).
. Cần cho học sinh sử dụng tiết tấu đã luyện tập khi tập đọc từng câu.
- Tập đọc từng câu: Nếu chỉ qua bước luyện tập cao dộ và luyện tập tiết tấu mà
học sinh tự đọc được giai điệu bài Tập đọc nhạc, thì đó là điều lí tưởng, vì như
vậy các em đã thực sự khám phá được giai điệu của bản nhạc. Tuy nhiên đó là
nhiệm vụ không khả thi, vì 3 khó khăn: Rất hiếm học sinh có khả năng tự đọc
nhạc; bài TĐN mới lạ nên không dễ đọc; thời gian học ngắn (20- 30 phút). Để
khắc phục 3 khó khăn đó, sau khi học sinh đã luyện tập cao độ và tiết tấu, giáo
viên có thể dạy các em tập đọc từng câu theo cách sau:
+ Giáo viên đàn giai điệu toàn bài một lần để học sinh bước đầu hình dung ra
giai điệu, đồng thời giúp các em thấy tự tin hơn
+ Giáo viên dùng nhạc cụ để lấy âm thanh mẫu rồi chỉ từng nốt của câu 1 để cả
lớp đồng thanh đọc (sẽ có rất ít học sinh đọc đúng theo cách này, nhưng đây là
điều kiện cần làm để tạo cơ hội cho các em được khám phá giai điệu của bản
nhạc). Khi học sinh không đọc được, giáo viên nên đàn giai điệu câu 1 vài ba
lần, nhắc học sinh vừa lắng nghe, vừa quan sát nốt nhạc và đọc nhẩm theo.
+ Giáo viên chỉ nốt nhạc cho tất cả cùng đọc câu 1 vài ba lần.
+ Giáo viên chỉ định một vài học sinh đọc lại.
+ Giáo viên giúp các em sửa chỗ sai (nếu có).
- Củng cố, kiểm tra:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc nhạc, ghép lời kết hợp gõ phách hoặc đánh
nhịp.
+ Hướng dẫn học sinh đọc nhạc kết hợp thể hiện cường độ của phách mạnh và
phách nhẹ.
+ Học sinh trình bày bài Tập đọc nhạc theo tổ, nhóm và cá nhân.
+ Học sinh xung phong lên bảng, quan sát bài Tập đọc nhạc, chỉ nốt kết hợp đọc
nhạc và hát lời.
2.3. Một số lưu ý khi dạy Tập đọc nhạc :
a. Những lỗi cần tránh khi dạy Tập đọc nhạc.
- Dạy sai kiến thức, giáo viên dạy học sinh đọc sai cao độ và trường độ
- Dạy Tập đọc nhạc bằng cách truyền khẩu, giáo viên đọc mẫu và biến Tập đọc
nhạc thành hát tên nốt nhạc.
- Đàn giai điệu quá nhiều hoặc giáo viên đọc mẫu bài Tập đọc nhạc trước khi
học sinh tập đọc, làm giảm tính tích cực của học sinh, các em không có động lực
để giải mã và khám phá giai điệu.
- Xác định không đúng trọng tâm, luyện tập cao độ hoặc tiết tấu quá nhiều. Chỉ
thực hiện 4 bước (giới thiệu bài TĐN, tìm hiểu bài, luyện tập cao độ, luyện tập
tiết tấu) trong khoảng 10 phút, nếu kéo dài hơn có thể không đủ thời gian để học
từng câu, đồng thời làm giảm hứng thú học của học sinh
- Dạy học sinh tập hát trước để các em nắm được giai điệu rồi mới hướng dẫn
đọc nhạc. Cách dạy này mắc phải 2 sai lầm: Thứ nhất, làm học sinh chú ý đến
lời ca hơn là nốt nhạc; thứ hai, làm các em không còn động lực khám phá giai
điệu của bản nhạc.
- Căn cứ vào lời ca để chia câu nhạc, căn cứ vào lời để gõ đệm (ví vụ yêu cầu
học sinh gõ đệm theo tiết tấu lời ca).
- Để học sinh ghi tên nốt vào bài Tập đọc nhạc (cần nhắc các em luôn chú ý đến
nốt nhạc)
23
sinh rất thích học môn Âm nhạc đặc biệt là học hát và tập đọc nhạc, các em học
tập say sưa nhiệt tình. Và cũng từ đây chất lượng môn học được nâng cao hơn
trong mỗi tiết Âm nhạc.
So với kết quả khảo sát ở phần thực trạng học kì I, năm học 2012 - 2013, tôi
nhận thấy kết quả học tập của học sinh đã có bước chuyển biến rõ rệt. Sang học
kì II, mức độ học tập và khả năng nhận biết về âm nhạc của học sinh đã có sự
phát triển lớn. Qua khảo sát và đánh giá kết quả học sinh theo định kỳ, số lượng
học sinh đạt yêu cầu cao, không có học sinh đạt ở mức không hoàn thành. Đây
là một kết quả rất đáng mừng nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục phát triển một
cách toàn diện. Kết quả cụ thể như sau:
Tổng số học sinh khối 5 là: 125 em
Hoàn thành tốt
SL
Tỷ lệ
Trước khi
thực hiện đề
tài.
Sau khi
thực hiện đề
tài
Mức độ
Hoàn thành
SL
Tỷ lệ
Chưa hoàn thành
SL
Tỷ lệ