MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn SKKN
2
2. Mục đích nghiên cứu
4
3. Đối tượng nghiên cứu
4
4. Phương pháp nghiên cứu
4
5. Phạm vi nghiên cứu
4
B. NỘI DUNG SKKN
I. Cơ sở lý luận của SKKN
5
II. Cơ Sở thực tiễn
6
IV. Kết quả sáng kiến
14
C. KẾT LUẬN
1. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
16
2. Bài học kinh nghiệm
16
3. Kiến nghị và đề xuất
17
1
A.MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN SKKN:
Quá trình nhận thức của loài người diễn ra theo quy luật: “ Từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Đây
chính là con đường biện chứng để nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách
quan. Quá trình nhận thức của học sinh về cơ bản cũng diễn ra theo quy luật
nhận thức chung của loài người. Tuy nhiên, quá trình nhận thức của học sinh lại
có những điểm riêng, nó chứa đựng các khâu: củng cố, kiểm tra, đánh giá tri
thức, kĩ năng, kĩ xảo. Quá trình nhận thức của học sinh thể hiện ở tính giáo dục.
hiện hóa hoạt động giao tiếp: (Xây dựng đoạn văn: chọn từ, tạo câu, viết đoạn;
Liên kết đọan thành bài văn). Kĩ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp:
(Đối chiếu; sửa lỗi bài viết cho phù hợp).
Thông qua phân môn Tập làm văn giúp học sinh: mở rộng vốn sống, rèn
luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho
học sinh.
Nội dung các bài Tập làm văn lớp 4 thường gắn với chủ điểm đang học ở
các bài Tập đọc. Quá trình hướng dẫn học sinh thực hiện các kĩ năng phân tích
đề, quan sát, tìm ý, viết đoạn là cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống
theo chủ điểm đang học. Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, quan sát đối
tượng...góp phần phát triển năng lực phân tích, tổng hợp....Tư duy trừu tượng
của học sinh cũng được rèn luyện và phát triển nhờ các biện pháp so sánh, nhân
hóa.... khi viết văn.
Học các tiết Tập làm văn, học sinh cũng có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp
của con người, thiên nhiên đất nước, có cơ hội bộc lộ cảm xúc cá nhân, mở
rộng tâm hồn và phát triển nhân cách con người Việt Nam mới.
Xuất phát từ mục tiêu của bậc học cũng như mục tiêu của môn học, ở lớp
4 việc học sinh học Tập làm văn hiện nay gặp nhiều khó khăn, và còn nhiều
hạn chế. Vì vậy, người giáo viên cần lựa chọn nội dung, phương pháp và hình
thức tổ chức dạy học phù hợp để nâng cao chất lượng Dạy - Học Tập làm văn
lớp 4 hiện nay. Tôi xin mạnh dạn đề xuất “Một số biện pháp giúp học sinh lớp
4 học tốt văn miêu tả”
3
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Sáng kiến này nghiên cứu không những nhằm giúp học sinh của trường có
kĩ năng vận dụng, thực hành tốt khi học tập làm văn. Từ đó tạo nên nền tảng
vững chắc cho học sinh và là bàn đạp thúc dẩy các em có đủ tự tin, vững bước
biết sắp xếp ý một cách lô gíc.
Tóm lại: Muốn học tốt môn Tập làm văn phải học tốt tập đọc, từ ngữ và
ngữ pháp, chính tả, cùng với có quan sát tinh tế, có tâm hồn trong sáng, yêu
thiên nhiên và mọi cảnh vật xung quanh ta.
Một bài văn bất kì ở thể loại nào đều phải dùng lời nói có hình ảnh và có
cảm xúc làm cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về
người, vật, cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài hay không
những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng mà còn thể hiện
được trí tưởng tượng, óc sáng tạo của người viết. Các bài văn ở Tiểu học đa
phần chỉ yêu cầu kể, tả những đối tượng mà các em yêu mến, yêu thích. Vì vậy
qua bài làm, các em được gửi gắm tình cảm của mình với đối tượng được viết
tới.
Tập làm văn là một phân môn của Tiếng Việt. Do đó, dạy học Tập làm
văn phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ với rèn luyện tư duy.
- Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp.
- Nguyên tắc chú ý đến trình độ Tiếng Việt vốn có của học sinh.
- Nguyên tắc kết hợp rèn luyện cả hai hình thức dạng nói và dạng viết.
Ngoài ra, dạy Tập làm văn còn phải đảm bảo nguyên tắc đặc trưng của
phân môn như sau:
- Phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình dạy học Tập làm văn.
- Phải coi trọng yêu cầu thực hành trong suốt quá trình dạy.
- Phải giúp học sinh viết văn có cảm xúc và chân thực.
5
Dạy học Tập làm văn cần sử dụng các phương pháp đặc trưng trong dạy
học Tiếng Việt như sau:
- Phương pháp dạy học theo tình huống giao tiếp.
- Phương pháp rèn luyện theo mẫu.
1.2.2. Văn miêu tả:
30 tiết.
1.2.3. Văn viết thư:
3 tiết
1.2.4. Văn thuyết trình: 3 tiết (Trao đổi ý kíến: 1 tiết; Giới thiệu hoạt động: 2
tiết).
1.2.5. Điền vào giấy tờ in sẵn:
3 tiết.
Các loại văn trên được xen kẽ dạy ở hai loại lớn đó là kể chuyện và miêu tả.
Nhìn chung việc chỉnh lý SGK không gây nhiều xáo trộn trong việc dạy
và học phân môn Tập làm văn. Các tác giả vẫn tôn trọng nội dung chương trình
và theo sát bản hướng dẫn phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Quy trình cấu trúc cơ bản của một tiết Tập làm văn cũng như một kiểu bài vẫn
được quán triệt (các đề bài được luyện tập nhiều lần qua các thao tác rèn luyện
kỹ năng Nội dung chỉnh lý SGK, có những điểm mới: Bổ sung thêm loại bài
văn viết thư, văn thuyết trình, văn nhật dụng. Nội dung này đòi hỏi phải có
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mới phù hợp đạt hiệu quả cao. Ngoài
ra, chương trình còn sắp xếp lại quy trình dạy 1 kiểu bài để tăng cường hơn nữa
việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho các em khi làm
bài viết tốt.
Đối với quy trình về một kiểu bài, việc sắp xếp lại cấu trúc hợp lý hơn,
tạo điều kiện để học sinh chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kỹ năng, mở rộng vốn
hiểu biết....
thô ráp như da ông em ngoài 70 tuổi. Hoặc tả cây có bóng mát, một học sinh tả
cây bàng như sau: Thân cây to bằng nắm tay em.... Bên cạnh đó, nhiều em còn
chưa nắm vững cách làm các kiểu bài văn miêu tả, còn yếu trong kĩ năng xây
dựng bố cục, chọn ý và sắp xếp ý, trong dùng từ, diễn đạt... Vì vậy bài văn của
các em thường bị rơi vào tình trạng bài văn ngắn, ý cụt ngủn. Kết quả là nhiều
bài văn miêu tả sơ sài, đối tượng miêu tả chưa được thể hiện cụ thể, chi tiết.
Sau khi tìm hiểu được thực trạng của vấn đề năm học 2015 - 2016, tôi đã áp
dụng biện pháp của mình và thử nghiệm ngay trên lớp chủ nhiệm (lớp 4E Trường tiểu học Thiệu Dương). Tôi tiến hành kiểm tra kĩ năng làm văn của học
sinh ngay sau học phần miêu tả đồ vật. Kết quả như sau:
8
Tổng số HS
33 em
Tỉ lệ %
Hoàn thành tốt
(Đạt điểm 9, 10)
3 em
9,1 %
Hoàn thành
(Đạt điểm 5,6,7,8)
22 em
66,7 %
Chưa hoàn thành
(Đạt điểm dưới 5)
7 em
Có thể tổ chức cho học sinh quan sát vật thật (đồ chơi, đồ dùng học tập,
cây cối xung quanh sân trường.....) hoặc cho học sinh quan sát tranh, ảnh do
giáo viên sưu tầm.
- Chọn được đối tượng quan sát rồi giáo viên phải hướng dẫn học sinh
tìm vị trí thích hợp để quan sát.
- Hướng dẫn học sinh quan sát theo một trình tự nhất định: Nhìn bao quát
bên ngoài rồi đến quan sát từng bộ phận (bên ngoài / bên trong, bên trên / bên
dưới, đầu/ mình / chân / tay... hay gốc / rễ / thân / cành / lá...)
- Hướng dẫn học sinh quan sát bằng nhiều giác quan:
+ Quan sát bằng thị giác: Xem hình dáng, kích thước, màu sắc... của đồ
vật, (con vật, cây cối).
+ Quan sát bằng xúc giác: cho học đến gần dùng tay để nhận biết đồ vật
mềm hay cứng, nhẵn nhụi hay thô ráp, trơn hay xù xì...
+ Quan sát bằng thính giác: dùng tai để nghe đồ vật khi sử dụng có phát
ra tiếng động không, tiếng động đó như thế nào?
+ Quan sát bằng khiếu giác, vị giác: Để nhận biết hương thơm của cây
hoa, vị chua, ngọt của quả...
Để có những sự vật quan sát sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, giáo viên
phải hướng dẫn cho học sinh sưu tầm hoặc chủ động chuẩn bị để đem đến lớp.
Giáo viên cần sử dụng một cách có hiệu quả đồ dùng dạy học, đó là tranh minh
hoạ hình ảnh Cái cối tân (bộ tranh dạy Tập làm văn lớp 4. Màu sắc đẹp, rõ nét,
học sinh quan sát dễ,…minh họa để phục vụ cho học sinh quan sát trong khi
hình thành kiến thức (Tranh “Cái cối tân”): hay chủ yếu ở phần luyện tập.(Hoa
sầu đâu( Hoa xoan), Quả vải tiến vua, Hoa mai vàng) (Tuần 23). Ảnh minh họa
cũng được đưa ra giúp học sinh quan sát trước khi viết bài văn kiểm tra: Miêu
tả cây cối (Tuần 29).
Sau khi học sinh thực hành quan sát xong, giáo viên hướng dẫn học sinh
dựa vào kết quả quan sát để tìm ý, sắp xếp ý thành dàn ýcho bài văn.
2. Giúp học sinh lập dàn ý cho bài văn miêu tả:
2.Thõn bi:
2.Thân
bài:
(Tả
từng bộ phận của
- T bao quỏt vt: cây hoặc tả từng - T bao quỏt hỡnh dỏng
hỡnh dỏng, mu sc, thời kí phát triển bờn ngoi.
của cây)
ln...
- T tng b phn ca - Tả bao quát .
- T tng b phn ca
vt.
con vt.
- Hot ng, cụng dng
- Tả thói quen sinh
ca vt.
- Tả từng bộ phận hoạt
của cây.
Học sinh lập được dàn ý tương đối đầy đủ cũng chính là đã biết sắp xếp
ý theo trình tự đúng với bố cục. Tuy nhiên để không bị rơi vào tình trạng bài
văn ngắn, ý cụt lủn, tôi đã đưa ra bốn cách phát triển ý trong bài văn miêu tả
nhằm giúp học sinh biết kết hợp tưởng tượng và liên tưởng làm cho bài văn
giàu hình ảnh, sống động.
Cách 1: Quan sát kĩ đồ vật (cây cối, con vật) cần miêu tả vào một thời
điểm cụ thể để nhận ra các đặc điểm của đồ vật (cây cối, con vật).
Ví dụ: Tả chiếc cặp sách hằng ngày cùng em đến trường.
Yêu cầu: Em quan sát để nhận ra đặc điểm của chiếc cặp đã đồng hành
cùng em về hình dáng, màu sắc, chất liệu, dây đeo, khoá… các bộ phận bên
trong: khi mở cặp ra, âm thanh của khoá phát ra như thế nào? Cặp có mấy
ngăn?... cặp đã cùng em chia sẻ những gì?... (đang trải những ý nghĩ của em lên
trang vở thành những câu văn giàu hình ảnh...)
Cách 2: Đặt đồ vật (cây cối, con vật) cần miêu tả trong các thời điểm
khác nhau:
Ví dụ: Em nhớ lại ngày mới mua về cặp có đặc điểm ra sao? Còn sau
này em tưởng tượng cặp sẽ như thế nào, còn giúp em những điều gì nữa?
Cách 3:
Đặt đồ vật (cây cối, con vật) cần miêu tả trong mối quan hệ
với các sự vật xung quanh.
Ví dụ: Từ ngày có chiếc cặp này, đồ dùng học tập, sách vở của em được
bảo vệ như thế nào? Cùng với những đồ dùng khác, chiếc cặp cùng em đón
nhận kết quả học tập như thế nào?
Cách 4:
Đặt đồ vật (cây cối, con vật) cần miêu tả trong mối quan hệ
“họ hàng” với các đồ vật (cây cối, con vật) cùng loại để so sánh, liên tưởng,
Các bước thực hiện:
- HS đọc kĩ đề bài, xác định rõ yêu cầu.
- HS nhắc lại thế nào là Mở bài gián tiếp? Kết bài mở rộng?
- HS thực hành viết đoạn văn. Viết xong đọc đoạn văn .
- HS cùng giáo viên nhận xét về cách mở bài và kết bài.
- Giáo viên củng cố: Đưa ra một số cách mở bài, kết bài hay.
13
Ví dụ: Mở bài theo kiểu gián tiếp:
“Đã một năm trôi qua, thế mà mỗi lần nghĩ đến giây phút có cái bút
Trạng Nguyên - một cái bút máy, tôi vẫy cảm thấy nôn nao, bồn chồn đến lạ.
Cái thời điểm ấy đi vào kí ức tôi như một kỉ niệm khó phai mờ”.
Hoặc: “Tôi ao ước có một cái bút máy như của Mai, của Dung nhưng mẹ
tôi bảo: Bao giờ lên lớp Bốn hãy dùng con ạ!”. Rồi một hôm mẹ đi công tác về,
mẹ gọi tôi lại đưa cho tôi một cái bút còn nằm trong cái hộp nhỏ chưa bóc tem.
Mẹ dặn: Mẹ tặng con chiếc bút Nét Hoa này. Nhớ phải học cho giỏi, con nhé!
Đó là cài bút máy đã theo tôi từ học kì hai năm lớp Ba đến bây giờ”.
- Kết bài mở rộng:
“Đã gần một năm rồi mà cái bút Nét hoa của tôi vẫn còn như mới. Bút
đã cùng tôi làm việc chăm chỉ ngày ngày như chiếc cày của bác nông dân mở
mang đồng ruộng, giúp tôi học mỗi ngày một tiến bộ hơn. Sự thực thì tôi đã
thực hiện rất tốt lời dặn của mẹ tôi - Tôi trở thành một học sinh Hoàn thành
xuất sắc nội dung các môn học. Một học sinh viết chữ đẹp cấp thành phố .
Thành tích đó có một phần đóng góp không nhỏ của cây bút Nét hoa”.
“Hộp bút tuy là đồ vật bé nhỏ nhưng nó đã giúp em rất nhiều trong học
tập. Một mình nó đã cất giữ bao nhiêu là thứ. Nhờ có hộp bút mà mỗi khi cần
đến đồ dùng nào em lại có ngay. Em luôn giữ gìn hộp cẩn thận. Thỉnh thoảng
em lại dùng khăn mềm lau nó thật sạch rồi cất vào cặp sách. Em nâng niu,
chăm chút nó từng li từng tí”.
hợp,... rèn cho học sinh kĩ năng định hướng trong giao tiếp bằng phương pháp
giao tiếp. Bên cạnh đó còn phải coi trọng tính chất thực hành, luyện tập. Bởi
các kĩ năng sản sinh văn bản của học sinh chỉ trở nên thành thạo khi học sinh
được luyÖn tập nói - viết nhiều lần, nói - viết để thuyết minh, để giao tiếp
thông thường.
Phân môn Tập làm văn có những khó khăn như vậy cho nên là người
giáo viên tôi xác định cho mình phải cần tìm tòi và đầu tư nghiên cứu nhiều
hơn để có phương pháp, tìm nhiều biện pháp hữu ích giúp học sinh học tốt hơn.
16
Người giáo viên cần phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Trong hoạt
động dạy học cần tích cực hoá được hoạt động học tập của học sinh, tìm mọi
hình thức tạo điều kiện cho mọi học sinh, được tự mình làm việc, tự mình sáng
tạo ra những sản phẩm ngôn ngữ, thể hiện đúng nhận thức, thể hiện tình cảm
thật của các em một cách tự nhiên không gò ép.
Trong công tác giáo dục và giảng dạy, giáo viên phải hết lòng yêu
thương học sinh, có trách nhiệm cao với nghề nghiệp. Bản thân người giáo viên
có hiểu biết rộng về ngôn ngữ, hiểu biết về cuộc sống thực tế của xã hội, có
phẩm chất đạo đức chuẩn mực. Trong giảng dạy cần nắm bắt được tâm tư, tình
cảm của học sinh, gần gũi các em để tìm hiểu và giúp đỡ các em trong học tập,
lao động.
Trên đây là kinh nghiệm của tôi trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy
phân môn Tập làm văn. Thời gian qua tôi đã cố gắng tìm tòi và nghiên cứu để có
được kinh nghiệm trong việc giảng dạy phân môn Tập làm văn. Song những cố
gắng đó là do chủ quan của bản thân tôi, cho nên sự cố gắng đó còn rất nhỏ bé.
Sáng kiến này là do sự thực hiện và đánh giá của cá nhân tôi. Tôi nghĩ sẽ
không thể tránh khỏi những hạn chế mà bản thân tôi chưa nhìn thấy hết được.
Qua đây, tôi rất mong các đồng chí thông cảm, mạnh dạnh xây dựng và
góp ý cho tôi để tôi có hướng đi tốt hơn trong việc giảng dạy phân môn Tập
18
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Sách Tiếng Việt 4 (tập 1 + Tâp 2) của Nhà xuất bản Giáo dục.
2.Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông - Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Phạm
Minh Diệu
3.Bài tập nâng cao Từ và Câu lớp 4 -Nhà xuất bản Đại học sư phạm
4.Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học lớp 4 của Nhà xuất bản Giáo
dục
5.Tập làm văn 4 - Đặng Mạnh Thường
19