A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN SÁNG KIẾN
Tiếng Việt là môn học công cụ, môn học giữ vị trí trung tâm ở Tiểu học. Môn
Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học nhằm hình thành và phát triển cho học sinh
các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, đọc, nói, viết) để học tập và giao tiếp trong
các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Trong bộ môn Tiếng Việt thì phân môn
Luyện từ và câu có vị trí vô cùng quan trọng. Dạy Luyện từ và câu nhằm mở rộng,
hệ thống hóa làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những
hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng
các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho học sinh
có khả năng hiểu các câu nói của người khác. Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn
học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em.
Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu giúp các em làm
giàu vốn từ, vốn tri thức về tâm hồn. Từ đó, giúp các em tích lũy cho mình những
kiến thức cần thiết, tạo điều kiện cho các em học tốt các phân môn khác. Đặc biệt,
nó còn khơi dậy trong tiềm thức học sinh yêu quý sự phong phú của tiếng Việt và ý
thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Là một giáo viên trẻ được phân công đảm nhiệm công tác giảng dạy lớp 4,
đặc biệt trong giai đoạn hiện nay hưởng ứng việc đổi mới mạnh mẽ phương pháp
dạy học theo đúng tinh thần của thông tư 30, xác định đúng phương pháp giảng dạy
phân môn Luyện từ và câu, người giáo viên sẽ tìm ra những giải pháp tối ưu để
nâng cao chất lượng giáo dục. Từ những lí do trên, tôi mạnh dạn đi sâu tìm hiểu “
Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Luyện từ và câu lớp 4” với
mong muốn góp phần giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh, thực hiện tốt
nhiệm vụ chính trị mà đơn vị, ngành giao cho.
II. ĐIỂM MỚI VÀ PHẠM VI CỦA SÁNG KIẾN
1. Điểm mới của sáng kiến:
Để làm tốt công tác giảng dạy phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học thì
nhiều giáo viên đã tìm hiểu và đưa ra các giải pháp thực hiện nhưng bản thân tôi
tìm hiểu vấn đề này nhằm nâng cao chất lượng dạy phân môn Luyện từ câu theo
hội và luyện tập thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Tuy vậy, vẫn còn một
bộ phận học sinh học Luyện từ và câu chỉ dừng lại việc giải quyết các bài tập ở
sách giáo khoa, phần vận dụng trong nói, viết, trong thực tiễn còn hạn chế. Các em
chưa hiểu nghĩa của từ, cấu tạo từ, vốn từ của các em còn nghèo, không diễn đạt
được một cách trôi chảy ý kiến của mình.
Với năm học này, bản thân tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 4B,
đây là lớp "lỏi" của trường. Sĩ số lớp là 19 em. Theo sự phản ánh của giáo viên cũ
thì trình độ tiếp thu của học sinh không đồng đều, vẫn còn một số học sinh tiếp thu
chậm; một bộ phận học sinh rụt rè, giao tiếp chậm, kỹ năng diễn đạt yếu.
Qua khảo sát chất lượng đầu năm để nắm bắt thông tin, với đề ra thiết kế
theo dạng nắm kiến thức và vận dụng, kết quả như sau :
Điểm 10 - 9
Điểm 8 - 7
Điểm 6 - 5
Điểm dưới 5
Tổng số
HS
T. số
T. L % T. số T. L % T. số T.L% T. số
T. L %
19
3
15.8
6
31.6
7
36.8
3
15.8
2
này khi mới tiếp cận thì ai cũng thấy mơ hồ, mang tính lý thuyết và cảm nhận một
khối công việc đồ sộ cho giáo viên nhưng khi nghiên cứu kỹ chúng ta mới cảm
nhận được tính ưu việt của nó. Có thể kết luận rằng, thông tư 30 này mới phù hợp
với mục tiêu giáo dục Tiểu học trong giai đoạn phát triển xã hội hiện nay. Xác định
được điều đó, bản thân tôi đã làm tốt công tác tuyên truyền, giải thích cho cha mẹ
học sinh về Quy định đánh giá học sinh Tiểu học, hướng dẫn cha mẹ học sinh cách
3
theo dõi, hỗ trợ học sinh học tập, tham gia đánh giá học sinh trong các mặt nói
chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng. Đặc biệt, giúp cho phụ huynh thấy
được tính ưu việt của thông tư 30 và cái đích cuối cùng của quá trình đánh giá nhận
xét. Đến nay, tất cả phụ huynh đã hiểu và cộng tác rất tốt trong công việc này. Bên
cạnh đó, tôi cũng đã giúp học sinh nắm thông tư 30 để mỗi em biết tự soi mình mà
hoàn thiện bản thân đồng thời cũng tham gia đánh giá nhận xét bạn để giúp bạn
cùng tiến bộ về mọi mặt. Việc làm này sẽ thuận lợi cho giáo viên trong công tác
giáo dục nói chung, từng phân môn giảng dạy nói riêng, trong đó có phân môn
Luyện từ và câu - môn học làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực
giao tiếp.
2. Biện pháp 2: Nắm kiến thức, kỹ năng, chương trình, phương pháp dạy học
Đây là một nội dung hết sức quan trọng đối với giáo viên giảng dạy. Nếu
không nắm chắc nội dung chương trình bộ môn khối lớp mình đang dạy thì dẫn đến
hai hiện tượng trong quá trình dạy học làm cho các em nhàm chán : Một là dạy lại
kiến thức lớp dưới đã học, hai là dạy sa vào kiến thức lớp trên. Chính vì thế, sau khi
nhận lớp, bản thân tôi đã hệ thống lại những vấn đề cốt lõi làm cẩm nang cho quá
trình giảng dạy của mình.
2.1 Nội dung chương trình
Mỗi tuần, phân môn luyện từ và câu ở lớp 4 có 2 tiết. Học kì I 32 tiết gồm 5
chủ điểm. Học kì II 30 tiết gồm 5 chủ điểm. Mỗi chủ điểm học sinh được học một
chủ đề tương ứng với từng chủ điểm đó.
2.4. Vận dụng một số phương pháp dạy học vào dạy học Luyện từ và câu lớp 4
+ Phương pháp hoạt động nhóm
Tùy mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu
nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết
học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau. Nhóm tự bầu
nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc.
Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào
một vài người hiểu biết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ
nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Để trình
bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc
phân công mỗi thành viên trình bày một phần. Phương pháp hoạt động nhóm giúp
các thành viên trong nhóm chia sẻ băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau
xây dựng nhận thức mới.
Giáo viên khi lựa chọn phương pháp này cần phải kiểm soát hết tất cả các
học sinh trong lớp học. Khi giao nhiệm vụ cần cho HS cả lớp nắm, nhất là chú
trọng đến nhóm trưởng, để nhóm trưởng thay mặt GV hướng dẫn đến các bạn trong
nhóm.
VD: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ: Trung thực - Tự trọng ( Tuần 6)
BT2. Chọn từ ứng với mỗi nghĩa sau:
Nghĩa
Từ
- Một lòng một dạ gắn bó với lí tưởng, tổ chức
- trung thành
hay với người nào đó
- Trước sau như một, không gì lay chuyển nổi.
- trung hậu
- Một lòng một dạ vì việc nghĩa.
- trung kiên
5
- TL: người lính vâng lệnh của quốc dân ra mặt trận
Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn
độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng
được học hành.”
+ H: Những từ ngữ và câu đó là lời của ai?
- TL: là lời của Bác Hồ
+ H : Những dấu ngoặc kép dùng trong đoạn văn trên có tác dụng gì?
- TL: dấu ngoặc kép dùng để dẫn lời nói trực tiếp của Bác Hồ.
6
+ H: Vậy dấu ngoặc kép dùng để làm gì? (Dấu ngoặc kép thường dùng để dẫn lời
nói trực tiếp của nhân vật hoặc của người nào đó)
Như vậy, qua 4 câu hỏi đã gợi mở cho các em nắm được tác dụng của dấu ngoặc
kép.
Phương pháp gợi mở vấn đáp được sử dụng trong tất cả tiết học và phát huy được
tính chủ động sáng tạo của học sinh.
+ Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề.
Đây là phương pháp mà giáo viên đưa ra những tình huống gợi vấn đề điều
khiển học sinh phát hiện vần đề, tự giác hoạt động, trực tiếp chủ động và sáng tạo
để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng. Phương
pháp này giúp học sinh tăng thêm sự hiểu biết và khả năng áp dụng lí thuyết vào
giải quyết vấn đề của thực tiễn. Nâng cao kĩ năng phân tích và khái quát từ tình
huống cụ thể và khả năng độc lập cũng như khả năng hợp tác trong quá trình giải
quyết vấn đề.
Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chuẩn bị trước câu hỏi sao cho
phù hợp với mục đích, yêu cầu và nội dung của bài đảm bảo tính sư phạm, đáp ứng
với các đối tượng học sinh, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức để giải quyết vấn
đề mà học sinh đưa ra.
cho bé ăn bột…
Bức tranh 4: đồ chơi: máy tính, bộ xếp hình – trò chơi: điện tử, xếp hình.
Bức tranh 5: đồ chơi: dây, súng ná - trò chơi: kéo co, bắn súng.
Bức tranh 6: đồ chơi: khăn – trò chơi: bịt mắt bắt dê…
Sử dụng phương pháp trực quan giảng giải khi dạy phân môn Luyện từ và
câu là rất quan trọng vì sẽ khai thác được triệt để các kênh hình của bài học, nhờ đó
mà giáo viên giúp học sinh nắm bài một cách tốt hơn.
+ Phương pháp luyện theo mẫu.
Là phương pháp dạy học mà giáo viên đưa ra các mẫu cụ thể qua đó hướng
dẫn học sinh tìm hiểu các đặc điểm của mẫu, cấu tạo mẫu và thực hiện theo mẫu.
VD: Khi dạy bài Động từ (Tuần 9), khi kể tên các hoạt động ở nhà hoặc ở
trường rồi gạch dưới động từ trong các cụm từ chỉ hoạt động đó, giáo viên đưa ra
mẫu: M: quét nhà, làm bài
Từ đó, giúp học sinh có điểm tựa để làm bài đặc biệt là với học sinh trung
bình và yếu còn đối với học sinh khá giỏi không bắt buộc phải theo mẫu để học
sinh có thể phát huy được tính tích cực chủ động.
+ Phương pháp phân tích.
Đây là phương pháp dạy học trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn tổ chức
của giáo viên tiến hành tìm hiểu các dấu hiệu theo định hướng bài học từ đó rút ra
bài học. Giúp học sinh tìm tòi huy động vốn kiến thức cũ của mình ra kiến thức
mới. Tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện kiến thức (về nội dung và hình thức
thể hiện).
VD: Khi dạy bài “Câu hỏi và dấu chấm hỏi”, tiến hành như sau:
Bước 1: Cho học sinh tìm ra các câu hỏi trong bài tập đọc “Người tìm đường
tới các vì sao”. Các em sẽ tìm được 2 câu:
1. Vì sao quả bóng không có cánh mà vẫn bay được?
2. Cậu làm thế nào mà mua được nhiều sách và dụng cụ thí nghiệm như thế?
8
linh hoạt các phương pháp và hình thức cho phù hợp với nội dung của bài dạy và
chủ điểm của bài đó.
Có thể sử dụng linh hoạt nhiều hình thức dạy học trong cùng một tiết dạy. Đó
là các hình thức tổ chức: làm việc cá nhân, trao đổi nhóm, đàm thoại gây hứng thú
cho học sinh tránh nhàm chán đơn điệu.
VD: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ Ước mơ (tuần 9)
9
BT 2: Học sinh thảo luận nhóm đôi
Tìm thêm những từ cùng nghĩa với “ước mơ”
- HS 1 tìm từ bắt đầu từ tiếng “ước”: ước ao, …
- HS 2 tìm từ bắt đầu từ tiếng ‘‘mơ’’: mơ mộng, ...
- HS 2 tìm từ bắt đầu từ tiếng “ước”: ước mong, ...
- HS 1 tìm từ bắt đầu từ tiếng ‘‘mơ’’: mơ ước, ...
BT 3 : Nêu yêu cầu viết thêm những từ : đẹp đẽ, viển vông, cao cả, lớn, nho nhỏ, kì
quặc, dại dột, chính đáng... vào sau từ ước mơ thể hiện sự đánh giá :
+ HS thảo luận nhóm 4.
- Đánh giá cao: ước mơ đẹp, ước mơ chính đáng, ước mơ cao cả, ước mơ lớn, ước
mơ đẹp đẽ.
- Đánh giá không cao: ước mơ bình thường, ước mơ nho nhỏ.
- Đánh giá thấp: ước mơ kì quặc, ước mơ dại dột, ước mơ viển vông, ước mơ tầm
thường.
BT 4: Nêu VD về 1 loại ước mơ nói trên.
Bài này cho học sinh làm việc cá nhân.
VD:
+ Ước mơ được đánh giá cao: Đó là những ước mơ vươn lên làm những việc có ích
cho mọi người như:
- Ước mơ học giỏi để trở thành bác sĩ/ kĩ sư…
- Ước mơ chinh phục vũ trụ…
trong hoạt động học tập thì giáo viên phải xử lí một cách khéo léo.
Trong soạn giảng cần lưu ý đến các vấn đề :
Thứ nhất, phát huy ý thức học tập của học sinh từ đó bồi dưỡng hứng thú học
tập cho học sinh qua các bài học.
Cũng như các phân môn khác của Tiếng Việt, một trong những nhiệm vụ của
phân môn Luyện từ và câu là bồi dưỡng ý thức và thói quen sử dụng tiếng Việt văn
hoá. Để thực hiện nhiệm vụ đó giáo viên cần bồi dưỡng hứng thú học tập cho học
sinh, học sinh cần có ý thức học tập đúng đắn.
Trước hết đó là cách làm cho học sinh ý thức được ích lợi của việc học để tạo
động cơ học tập. Cho nên ở mỗi tiết dạy người giáo viên đều cần hướng đến việc
hình thành và duy trì hứng thú cho học sinh. Dạy Luyện từ và câu chính là dạy cho
các em kiến thức về từ ngữ và ngữ pháp nhưng giáo viên cần đưa ra một số thủ
pháp dạy học, hình thức dạy học phù hợp với sở thích của các em, đó chính là các
trò thi đố, các trò chơi để gây hứng thú cho học sinh trong giờ học, giảm bớt sự
căng thẳng, nhàm chán.
Bên cạnh đó người giáo viên cần thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực
và tốt đẹp giữa cô và trò, giữa các trò với nhau cũng sẽ tạo được hứng thú học tập
cho học sinh. Hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn cùng với một bầu không khí thân
ái hữu nghị trong giờ học sẽ tạo hứng thú cho cả cô và trò. Vì vậy, bên cạnh việc
giáo dục tính mục đích kỉ luật, ý thức về trách nhiệm v.v…cho học sinh, với mỗi
giáo viên trực tiếp giảng dạy trong nhà trường phải là người tổ chức cuộc sống ở
trường thật hấp dẫn, tạo niềm vui, phải phấn đấu sao cho mỗi ngày các em đến
trường là một ngày vui. Mỗi học sinh sẽ luôn mong muốn phải là người được hạnh
phúc ngay ngày hôm nay. Bởi vậy, giáo viên phải thường xuyên tìm hiểu học sinh
11
muốn việc học diễn ra như thế nào?, cái gì làm các em thích?, cái gì làm các em
không thích?, để có thể tổ chức quá trình dạy học như các em mong đợi.
Để tạo hứng thú trong học tập cho học sinh cũng là một nghệ thuật trong quá
+ Từ chỉ người hoặc vật hoạt động: người lớn, các cụ già, mấy chú bé, các em bé,
lũ chó.
12
Lúc này giáo viên gạch chân những từ ngữ mà các em đã tìm được. Sau đó
tiến hành hỏi: Em hãy đặt câu hỏi cho từng từ chỉ hoạt động?
Học sinh nêu: Người lớn làm gì? Các cụ già làm gì?...
Giáo viên cần chú ý đến mọi đối tượng học sinh trong giờ học để cho tất cả
các em đều được nói, đều được làm việc phù hợp với khả năng tư duy.
Thứ tư, phân bố thời gian học tập.
Việc phân bố thời gian học tập cho học sinh một cách hợp lí cũng là một yếu
tố quan trọng của sự thành công. Người giáo viên phải biết phối kết hợp nhịp nhàng
các hoạt động dạy học và phân chia thời gian của từng hoạt động đó phù hợp trong
mỗi tiết học, mỗi bài học cụ thể, tránh tình trạng hết tiết học mà không hết bài hoặc
ngược lại tạo cơ hội cho học sinh không làm việc. Điều này cũng giúp ích cho học
sinh trong việc tự phân bố thời gian học ở nhà hợp lí, mang lại hiệu quả.
Thứ năm, kèm cặp những học sinh tiếp thu chậm.
Với đối tượng học sinh tiếp thu chậm, cần giúp các em xác định được mạch
kiến thức trong chương trình được sắp xếp theo vòng tròn đồng tâm, tuỳ theo ở mỗi
lớp mà có những yêu cầu khác nhau. Từ đó giúp học sinh yếu nắm chắc những kiến
thức ở lớp dưới, bổ sung những lỗ hổng về kiến thức ở lớp dưới thì đến lớp 4 các
em sẽ nắm kiến thức một cách dễ dàng hơn, phát huy được những kiến thức và kĩ
năng học sinh đã đạt ở lớp 1, 2, 3 theo hệ thống lôgic.
VD: Ở lớp 1, các em được học về âm - vần, học sinh tìm tiếng có vần mới
học, nói câu chứa tiếng mới học, thì lớp 4 các em sẽ được học kĩ hơn về cấu tạo của
tiếng: tiếng thường gồm có 3 bộ phận: âm đầu - vần - thanh (có tiếng không có âm
đầu).
Hay chỉ một khái niệm “Câu hỏi và dấu chấm hỏi” ở lớp 2 học sinh mới chỉ
huy tính sáng tạo của các em. Trong đánh giá giáo viên cần coi trọng sự tiến bộ của
học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác, không tạo áp lực cho học
sinh. Trong các tiết học, giáo viên có thể nhận xét học sinh bằng lời nói trực tiếp
hoặc viết nhận xét vào phiếu, vào vở về những kết quả đã làm được hoặc chưa làm
được; mức độ hiểu biết và năng lực vận dụng kiến thức. Đôi lúc cô giáo cũng cần
tỏ ra ngạc nhiên, vui sướng, tôn trọng những sáng tạo của các em dù là rất nhỏ,
giúp các em tự phát hiện ra chân lí. Thành quả mà các em thấy được qua sự học tập
của mình được thể hiện bằng những lời nhận xét, khen ngợi kịp thời từ đó các em
tự tin vươn lên. Chỉ có đạt được thành công trong học tập mới thực sự tạo ra hứng
thú và niềm say mê cho các em. Chỉ có thành công, niềm tự hào về thành công,
cảm giác xúc động khi thành công mới là nguồn gốc thật sự của ham muốn học tập.
Ví dụ : Khi dạy bài “ Giữ phép lịch sự khi đặt câu hỏi” ( Tuần 15), có thể đưa ra
một số lời nhận xét:
- Em đã biết phân biệt các câu hỏi lịch sự và các câu hỏi không lịch sự ở trong bài.
- Em đã biết đặt câu hỏi để hỏi chuyện thầy giáo và bạn bè một cách lịch sự.
- Em đã đặt đúng câu hỏi cho thầy cô giáo song em cần thưa gửi và xưng hô phù
hợp để câu hỏi được lịch sự hơn,….
Đối với những học sinh có một số nhiệm vụ hoặc bài học chưa hoàn thành
thì giáo viên cần kịp thời giúp đỡ để học sinh biết cách hoàn thành.
VD: Khi dạy bài “ Câu kể Ai làm gì?”, một số học sinh có thể chưa hoàn thành bài
tập 3 (Viết một đoạn văn kể về các công việc buổi sáng của em. Cho biết những câu
14
nào trong đoạn văn là câu kể Ai làm gì?), giáo viên có thể hướng dẫn, gợi ý cho
các em hoàn thành trong giờ ra chơi hoặc 15 phút đầu giờ.
Để tạo sự thi đua học tập một cách tích cực, học sinh cũng là người tham gia
vào việc đánh giá bạn mình. Việc làm này giúp học sinh biết mình nắm bài ở mức
nào, bạn mình còn thiếu sót hay mình thiếu sót hơn bạn ở điểm nào. Từ đó, các em
sẽ có động lực cố gắng hoàn thành các nhiệm vụ học tập một cách tự giác hoặc có
viên trong dạy học nói chung và phân môn này nói riêng. Tất cả đều được thảo
luận, bàn bạc kỹ lưỡng và đi đến thống nhất.
Mặt khác, qua phiếu điều tra đầu năm, giáo viên nắm số diện thoại, địa chỉ
của từng phụ huynh học sinh để thường xuyên liên hệ, trao đổi với phụ huynh, cùng
phối hợp, động viên giúp đỡ kịp thời từng học sinh, nhất là đối với những học sinh
chậm tiến.
Việc trao đổi với phụ huynh bằng nhiều hình thức như: có thể gặp trực tiếp
hoặc trao đổi qua điện thoại mỗi khi có sự việc cần trao đổi, đôi khi chỉ là những
thăm hỏi việc học tập sinh hoạt của học sinh ở nhà để tìm nguyên nhân học sút hay
cùng nhau phối hợp để giúp học sinh tiến bộ.
b. Với Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
Trong các buổi ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp của Đội tổ chức, các
em được vui chơi, giao lưu và hơn hết các em được giao tiếp với nhau. Thông qua
việc tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, các trò chơi hay đóng kịch… các em sẽ được sử
dụng vốn ngôn ngữ của mình để trao đổi, nói chuyện với bạn bè và thầy cô. Đây là
cơ hội để các em thể hiện mình. Qua đây, các em sẽ mạnh dạn hơn khi giao tiếp, sẽ
tự điều chỉnh được hành vi, ngôn ngữ của mình, nói chuyện một cách tự tin và chủ
động hơn. Như vậy, các em đã ứng dụng được các kiến thức về câu từ trong giao
tiếp. Từ đó, vốn ngôn ngữ của các em sẽ tự nhiên được trau dồi và phong phú hơn,
các em sẽ mạnh dạn hơn. Xác định được điều đó, trong hội nghị công chức đầu
năm, bản thân tôi đã đề xuất với nhà trường cần tăng cường các hoạt động ngoại
khóa, tổ chức nhiều sân chơi với nhiều màu sắc khác nhau để tạo cho các em trải
nghiệm. Quả thật, qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp do Liên đội tổ chức, các em
giao lưu, kết bạn đầy tự tin. Bên cạnh đó, trong mọi hoạt động, giáo viên cùng tham
gia với các em nên các em gần gũi và thân thiện với các thầy cô giáo hơn.
6. Biện pháp 6. Làm tốt việc thi đua, khen thưởng
Đây là một việc làm không thể thiếu đối với học sinh Tiểu học. Do tâm lý
của học sinh Tiểu học rất thích được thi đua với bạn, thích được khen, được động
Tổng
Điểm 10 - 9
Điểm 8 - 7
Điểm 6 - 5
Điểm dưới 5
số HS T. số
T.L % T. số
T.L % T. số
T.L % T. số
T.L %
19
8
42.1
7
36.8
4
21.1
0
0
Trong bài kiểm tra định kì, học sinh đã biết sử dụng hệ thống ngôn từ vào
viết câu đúng, hành văn mạch lạc, rõ ràng.
Đến nay, cơ bản các em đã có vốn từ khá phong phú, đã diễn đạt trôi chảy ý
kiến của mình, vận dụng trong nói, viết và trong thực tiễn khá tốt.
17
C. KẾT LUẬN
I. Ý NGHĨA, PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN
Phân môn Luyện từ và câu có vai trò rất quan trọng trong dạy học Tiếng Việt