SKKN một số BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG dạy học PHÂN môn từ NGỮ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn lớp 7 - Pdf 30

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
PHÂN MÔN TỪ NGỮ TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 7
*****************
A. ĐẶT VẤN ĐỀ :
Trong đời sống, cũng như trong lịch sử văn học nước nhà, có nhiều bài
nói, nhiều bài viết hướng tới đề tài tiếng Việt. Nhà văn Đặng Thai Mai đã từng
viết “Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng hay, một thứ tiếng đẹp”. Cố
thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã viết “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu; tiếng
ta giàu bởi đời sống muôn màu, đời sống tư tưởng và tình cảm dồi dào của dân
tộc ta; bởi kinh nghiệm đấu tranh, kinh nghiệm dựng nước, giữ nước…Tiếng
Việt của chúng ta đẹp; đẹp như thế nào, đó là điều rất khó nói. Chúng ta không
thể nói tiếng ta đẹp như thế nào cũng như ta không thể nào phân tích cái đẹp của
ánh sáng, của thiên nhiên”. Và thực tế, tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ của chúng ta, là
thứ tiếng vô cùng trong sáng, đẹp đẽ và giàu có. Tiếng Việt cũng có một sức
sống vô cùng mãnh liệt. Trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, hàng mấy trăm
năm bị xâm lược, kẻ thù với âm mưu đồng hoá dân tộc ta, muốn triệt tiêu tiếng
nói của cha ông ta, nhưng như một mãnh lực, tiếng ta vẫn trường tồn và ngày
một tăng lên về số lượng và ý nghĩa ngày một sâu sắc hơn. Vì sao vậy?
Với những giá trị to lớn đó, trong chương trình giáo dục nói chung, dạy học
tiếng Việt là công việc hết sức được chú trọng. Và thực tế ở bậc Trung học cơ sở,
việc dạy Tiếng Việt là phân môn lại càng có vị trí quan trọng, bởi ở lứa tuổi này
tâm sinh lí phát triển chưa ổn định, rất dễ bị lai căng về ngôn ngữ. Việc dạy học
tiếng Việt ở bậc THCS nói chung và ở lớp 7 nói riêng, sẽ trang bị vốn từ thông
thường cần thiết, lại cung cấp hệ thống từ Hán Việt, rồi hiện tượng nghĩa của từ
và rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy và năng lực thực hành những kĩ năng
1
về Tiếng việt, đồng thời rèn luyện cho học sinh ngôn ngữ giao tiếp ứng xử.
Nhưng làm sao cho các em có cách tiếp thu tốt nhất, hiểu được, nhớ được từ ngữ
tiếng Việt và dùng có hiệu quả nhất? Đó là vấn đề được đặt ra và được sự quan

tiếp thu bài của học sinh.
2. Đối với học sinh
- Một số học sinh vì lười học,chán học nên không chuẩn bị tốt tâm thế cho giờ
học văn - phân môn từ ngữ tiếng Việt.
- Vì trường nằm trên địa bàn thuộc vùng kinh tế khó khăn, hầu hết các em phải
phụ giúp gia đình ngoài giờ lên lớp , không có thời gian học .
- Đa số các em lười hoặc không bao giờ đọc sách, ít tìm tòi khám phá về tiếng
Việt
- Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao , một số nhu cầu giải trí như
xem ti vi , chơi game . . . ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học
bị lôi cuốn , xao nhãng việc học .
- Hoặc học sinh chưa chịu khó tìm hiểu đầy đủ và vận dụng vốn từ đã
- Ngoài ra cách giao tiếp ứng xử đối với mọi người của các em còn rất nhút
nhát, e dè .
Kết quả học từ ngữ tiếng Việt của học sinh lớp 7 ở một số năm học trước
chưa được cao.Trong quá trình giảng dạy Ngữ văn lớp 7 trong các năm sau, tôi
nhận thấy các em có vốn từ tiếng Việt còn hạn hẹp, viết sai từ, dùng sai từ rất
nhiều hoặc việc giải nghĩa của từ chưa chính xác. Năm học 2010 - 2011, tôi đã
tiến hành kiểm tra việc học từ ngữ tiếng Việt của các em học sinh lớp 7A, với kết
quả như sau:
Lớp Năm học Sĩ số Điểm Ghi chú
9 -10 7 - 8 5 - 6 1 - 4 0
3
7A 2010- 2011 22 0 02 11 9 0
Qua phần thống kê trên đây, tôi nhận thấy kết quả làm bài của học sinh còn ở
mức TB và yếu là phần nhiều. Đó là một kết quả chưa được như mong muốn.
Đến năm học 2011 -2012, tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và mạnh dạn vận dụng
phương pháp mới vào dạy học phân môn từ ngữ lớp 7.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. Các giải pháp

“ bộ phận dưới cùng”, có như thế thì học sinh mới dễ dàng phân biệt được
nghĩa chính và nghĩa khác của từ.
Giáo viên cần lưu ý học sinh cần tham khảo thêm sách vở và giáo viên cũng
dựa vào từ điển để tránh sai sót trong giải nghĩa của từ, đồng thời trong giải
nghĩa của từ cần đặt trong văn cảnh, thông qua các câu chuyện vui, hấp dẫn, các
câu tục ngữ, thành ngữ… Để giúp học sinh dễ nhớ, dễ hiểu và qua đó mà nắm
được nghĩa của từ .
b) Coi trọng việc mở rộng vốn từ cho học sinh
Mở rộng vốn từ cho học sinh là một nhiệm vụ cơ bản của phân môn từ ngữ,
khi có vốn từ phong phú học sinh sẽ rất thuận lợi trong hoạt động giao tiếp và
hoạt động tư duy, có thể mở rộng vốn từ cho học sinh bằng nhiều cách khác nhau
b.1 Phương pháp ghép từ
- Từ ghép đẳng lập. Đây là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ
bình đẳng với nhau về nghĩa.
Từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái quát và tổng hợp. Đây là một trong
những điểm làm cho nó khác với từ ghép chính phụ.
5
- Từ ghép chính phụ. Những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ thuộc
vào thành tố cấu tạo kia, đều được gọi là từ ghép chính phụ. Thành tố phụ có vai
trò phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính.
Xuất phát từ một tiếng có nghĩa, bằng phương pháp ghép giúp học sinh tìm ra
từ mới
Ví dụ : Giáo viên lần lượt cho các tiếng : “sách, hoa, giầy, ăn, cá”, “xanh”, học
sinh dễ dàng tìm ra từ mới để tạo từ ghép :
Tiếng có nghĩa Từ ghép phân nghĩa Từ ghép hợp nghĩa
Sách Sách Văn, sách Toán…. sách vở, sách bút…
Hoa hoa hồng, hoa huệ, hoa lan hoa quả, hoa lá…
Giầy Giầy da, giầy vải, giầy nilon Giầy dép, giầy tất, giầy guốc
Ăn ăn cơm, ăn bánh., ăn quà… ăn uống….
Cá cá trắm, cá trắm cỏ cá tôm, cá cua, ….

Ví dụ : giáo viên cho tiếng “xinh, nhỏ, lạnh, phồng, rào, ló, béo, chậm” bằng
phương pháp láy lại để tìm ra từ mới
Tiếng gốc Từ láy hoàn toàn Từ láy bộ phận
xinh xinh xinh xinh xắn
nhỏ nho nhỏ nhỏ nhắn, nhỏ nhoi…
lạnh lành lạnh lạnh lùng
phồng phồng phồng phập phồng
rào rào rào rì rào
ló lo ló lấp ló
béo beo béo béo bở
chậm chầm chậm chậm chạp
c) Phương pháp liên tưởng
Trong phương pháp liên tưởng bao gồm hệ thống từ đồng nghĩa, từ
đồng âm, từ trái nghĩa.
- Từ đồng âm: là những từ phát âm giống nhau nhưng khác xa nhau về
nghĩa
7
- Từ đồng nghĩa: là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần nhau. Có hai
loại từ đồng nghĩa:
+ Từ đồng nghĩa hoàn toàn: có thể thay thế cho nhau trong mọi trường hợp
+ Từ đồng nghĩa không hoàn toàn: có sắc thái khác nhau.
- Từ trái nghĩa là từ có nghĩa trái ngược nhau, thường dùng trong các thể đối
Sau khi nhắc lại kiến thức đã học của bài “từ đồng nghĩa”, “từ trái nghĩa”,
giáo viên đưa ra một số từ cho trước, yêu cầu học sinh tìm ra những từ gần nghĩa
hay từ trái nghĩa
Các từ cho trước Từ đồng nghĩa Từ trái nghĩa
chăm chỉ siêng năng, cần cù, chịu khó lười nhác, lười biếng
vui vẻ hân hoan, hoan lạc buồn bã
chết chóc khuất núi, hi sinh sống
Sau khi nhắc lại kiến thức đã học của bài “từ đồng âm”, giáo viên yêu cầu

Loại bài tập này yêu cầu học sinh tự đặt câu và qua việc đặt câu các
em thể hiện sự hiểu biết của mình về nghĩa của từ và cách kết hợp từ với nhau
Ví dụ : Đặt câu với từ “bàn” là danh từ, từ “bàn” là động từ
- Chúng em ngồi xung quanh bàn
1
để bàn
2
về buổi biểu diễn văn nghệ
mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
- bàn
1
: danh từ chỉ đồ vật
- bàn
2
: động từ chỉ hành động
c) Lựa chọn từ phản ánh cô động, hàm xúc chính xác một tình huống,
một hoàn cảnh, một tâm trạng nào đó .
Mục đích của bài tập này là hình thành cho học sinh thói quen cân nhắc,
thận trọng, có ý thức khi sử dụng từ
9
Ví dụ :
- Tiếng gió thổi rì rào
- Gió đưa cành trúc la đà
- Em Thuỷ khóc nức nở
- Bà nội em đã quy tiên
- Các bác sĩ đang tiến hành khám nghiệm tử thi
- Suối cháy róc rách
- Chim hót líu lo
- Mọi việc trong nhà đều do mẹ em lo toan.
Giáo viên lưu ý học sinh ở chỗ: khi sử dụng từ phù hợp tình huống khiến cho

tạo
Từ ghép Từ láy
- Tạo bởi phương thức ghép - Tạo bởi phương thức láy lại tiếng
gốc.
- Ghép một tiếng chính với một
tiếng phụ: chính phụ
- Láy lại hoàn toàn tiếng gốc: láy
hoàn toàn
- Ghép hai tiếng có nghĩa tương
đương: đẳng lập
- Láy phụ âm đầu, hoặc nguyên âm:
láy bộ phận.

dụ
Ghép đẳng lập Ghép chính phụ Láy hoàn toàn Láy bộ phận
ông bà ông ngoại Xinh xinh Lung linh
Sách vở Sách Toán Xanh xanh liêu xiêu
Thầy trò Thầy giáo Đo đỏ mênh mông
Câu 2: Tìm từ đồng nghĩa với từ “chết”. Có mấy loại từ đồng nghĩa.
- Từ đồng nghĩa với từ “Chết”
+ hi sinh
+ bỏ mạng
+ khuất núi
+ quy tiên
+ phơi thây
11
+ bỏ xác

- Có hai loại từ đồng nghĩa:
+ Từ đồng nghĩa hoàn toàn : có thể thay thế cho nhau được trong mọi hoàn cảnh.

c. Thông báo kết quả bài làm của từng học sinh .
IV. KIỂM NGHIỆM
Qua quá trình giảng dạy và áp dụng một số biện pháp mới ở phân môn này,
tôi nhận thấy học sinh rất hứng thú, tích cực trong học tập, chất lượng học tập
của học sinh cũng được nâng cao đặc biệt là học sinh yếu đã giảm đi khá nhiều.
Và kết quả khảo sát chất lượng học tập của học sinh ở phân môn từ ngữ như sau:
Lớp Năm học Sĩ số Điểm Ghi
chú
7A 2011- 2012 23 Giỏi
(9- 10)
Khá
(7- 8)
TB
(5 - 6)
Yếu
(1 - 4)
Kém
0
1 09 10 3 0
C. KẾT LUẬN:
Nói tóm lại, để nâng cao chất lượng dạy học phân môn từ ngữ trong chương
trình Ngữ văn bậc THCS nói chung và Ngữ văn lớp 7 nói riêng, thì đó là cả một
quá trình và đòi hỏi sự hợp tác của nhiều yếu tố.
Đối với mỗi học sinh, thì đòi hỏi các em phải có cố gắng, chủ động, tích cực
nắm vững kiến thức bộ môn, rèn luyện năng lực tìm tòi, sáng tạo có kế hoạch
học tập phù hợp, không ngừng học tập lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân.
Đối với mỗi giáo viên, thì cần phải có niềm say mê nghiên cứu bộ môn kết
hợp với kinh nghiệm giảng dạy để luôn tìm ra phương pháp giảng dạy mới, phù
hợp với trình độ học sinh, với điều kiện thực tế nhằm thu hút sự chú ý của học
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status