MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY
PHÂN MÔN TẬP ĐỌC - LỚP 3
Họ và tên : TRỊNH THỊ OANH
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ
1/ Cơ sở xuất phát
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động
ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng
hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Đọc là một dạng
ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng hình thức viết sang lời nói có âm thanh và thông
hiểu nó (đọc thành tiếng). Quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các
đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm).
Dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản
đầu tiên đối với người đi học. Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng
trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập các môn học khác, tạo điều kiện
để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời.
Tập đọc là phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của phân môn tập
đọc là hình thành kĩ năng đọc cho học sinh. Kĩ năng đọc được tạo nên từ bốn yêu cầu
đó là: “đọc đúng- đọc nhanh - đọc hiểu - đọc diễn cảm”. Bốn kĩ năng này được hình
thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm, chúng được rèn luyện
đồng thời hỗ trợ cho nhau. Như vậy, đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng
mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những
gì được đọc. Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kĩ năng đọc là đạt đến sự tổng
hợp, càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện,
càng chính xác và biểu cảm bấy nhiêu. Thông qua việc dạy đọc, giáo dục học sinh
lòng ham đọc sách, từ đó làm giàu kiến thức về ngôn ngữ đời sống và kiến thức văn
hóa. Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng các em lòng yêu cái thiện
và cái đẹp. Giáo dục tư tưởng đạo đức, tình cảm thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh.
Các yêu cầu về kĩ năng đọc ở lớp 3 là:
+ Đọc lưu loát đoạn văn, khổ thơ và cả bài văn, bài thơ (biết ngắt nhịp, phù hợp
theo thể thơ hay nội dung đọc).
1
vẽ nên ít hấp dẫn.
2
Xuất phát từ những thực trạng trên bản thân tôi đã tìm tòi, mạnh dạn trao đổi
với giáo viên trong tổ chuyên môn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
dạy môn tập đọc cho học sinh lớp 3 như sau:
B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I/Điều tra nắm bắt tình hình
Sau khi nhận lớp hai tuần lễ đầu, theo dõi quá trình học môn Tập đọc tôi đã
phân loại:
Tổng số học sinh: 35 em trong đó:
Giỏi 5 em chiếm tỷ lệ: 14,3% ; Khá: 12 em chiếm tỷ lệ: 34,3%
Trung bình: 10 em chiếm tỷ lệ 28,6% ; Yếu: 8 em chiếm tỷ lệ 22,8%
II/ Lên kế hoạch:
Bước 1: Xác định và nắm chắc mục tiêu nội dung dạy học Tập đọc.
Bước 2: Chuẩn bị phương tiện đồ dùng dạy học.
Bước 3: Hình thành và luyện kĩ năng đọc cho học sinh.
Bước 4: Các hoạt động dạy học chủ yếu.
III/ Các giải pháp thực hiện
1/ Đối với giáo viên
Để có một giờ dạy Tập đọc có hiệu quả, giáo viên cần phải hiểu biết sâu sắc
nội dung dạy học Tập đọc và những kỹ năng dạy học Tập đọc. Những hiểu biết về các
kỹ năng này sẽ giúp cho giáo viên tổ chức vào quá trình dạy học Tập đọc đạt hiệu quả
cao cụ thể:
1.1/ Giáo viên phải nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, các tài liệu dạy học và
tìm hiểu trình độ, đặc điểm của học sinh từ đó xác định mục tiêu, nội dung dạy học
cho bài Tập đọc.
*Mục tiêu của giờ dạy học là cái đích mà thầy trò cần đạt được sau giờ học. Để
tiến hành một giờ dạy Tập đọc, giáo viên cần có kỹ năng xác định mục tiêu của giờ
học là rèn các kỹ năng đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm. Đồng thời
giáo viên phải chỉ ra được tốc độ, nội dung luyện đọc cho học sinh. Xác định mục tiêu
1.2/ Giáo viên cần có kĩ năng đọc thành thục, phải kiên trì phấn đấu rèn luyện tốt về
các mặt như: Đọc mẫu thật diễn cảm, ngắt nghỉ đúng chỗ, biểu lộ cảm xúc với từng
kiểu câu. Khi đọc các bài văn xuôi chỗ ngắt giọng phải trùng hợp với ranh giới, ngữ
đoạn.
Ví dụ: “ Bé kẹp lại tóc,/ thả ống quần xuống,/ lấy cái nón của má đội lên đầu.// Nó cố
bắt trước dáng đi khoan thai của cô giáo/ khi cô bước vào lớp.// mấy đứa nhỏ làm y
hệt đám học trò,/ đứng cả dậy,/ khúc khích cười chào cô.//”
(Cô giáo tí hon - Tiếng Việt lớp 3 tập I trang17)
4
1.3 / Giáo viên phải phát âm đúng và chuẩn mực ngữ âm tiếng việt, chú trọng
rèn luyện đúng âm đầu l/n (đối với học sinh vùng Bắc Bộ); âm s/x; ch/tr (đối với học
sinh miền Trung); và âm v/d/gi; âm cuối vần n/ng và c/t (đối với học sinh Nam Bộ và
Trung Bộ.)
1.4/ Giáo viên phải biết “nghe” và “phát hiện” để nhận xét, uốn nắn và hướng dẫn học
sinh đọc tiến bộ, có những biện pháp gợi mở, dẫn dắt khéo léo, phù hợp, giúp học
sinh tìm hiểu và cảm thụ tốt bài văn. Từ đó, các em có khả năng đọc diễn cảm tốt. Thể
hiện nội dung cảm thụ bằng giọng đọc, có cơ sở để trau dồi cách diễn đạt ngôn ngữ.
Thể hiện những suy nghĩ và cảm xúc của bản thân bằng lời nói hay chữ viết.
Giờ Tập đọc ở lớp 3 trước hết vẫn là giờ “dạy đọc” hiểu theo nghĩa: đọc hiểu và
cảm nhận văn bản có tính nghệ thuật. Vì vậy, tinh thần cơ bản của giờ Tập đọc là: qua
đọc mà giúp các em cảm thụ tốt bài văn, bài thơ từ việc “đọc hiểu” mà rèn kĩ năng
diễn đạt ngôn ngữ, bồi dưỡng tư duy và trau dồi cảm xúc cho học sinh.
1.5/ Chuẩn bị phương tiện đồ dùng dạy học góp phần không nhỏ để tạo ra hiệu quả
giờ dạy Tập đọc. Vì vậy khi chuẩn bị đồ dùng dạy học, giáo viên cần xác định mục
đích của đồ dùng đó là gì? nó được sử dụng vào lúc nào? và cách sử dụng của nó ra
sao? để nhằm gây được hứng thú học tập cho học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài “Ông ngoại”. Để trả lời cho câu hỏi: Vì sao bạn nhỏ gọi ông ngoại là
người thầy đầu tiên?
Giáo viên cho học sinh quan sát bức tranh vẽ cảnh ông ngoại bế cao bạn nhỏ
trên tay và cho bạn gõ thử vào chiếc trống trường mà bạn nhỏ chưa bao giờ được
như thế nào là vừa phải.
a/ Rèn đọc đúng
Đọc đúng là tái hiện mặt âm thanh của bài tập đọc một cách chính xác, không
mắc lỗi, đọc không thừa, không sót tiếng. Vì vậy trong giờ Tập đọc giáo viên cần tập
trung hướng dẫn học sinh khắc phục một số hạn chế như: phát âm sai phụ âm đầu,
âm chính, âm cuối, đọc ngắt nghỉ theo cách tùy tiện.
+ Khắc phục lỗi phát âm địa phương: đối tượng học sinh ở mọi miền nên cách
phát âm khác nhau. Vì vậy trong giờ Tập đọc giáo viên cần nắm được học sinh đó
phát âm sai ở những trường hợp nào để có biện pháp khắc phục theo hệ thống ngữ
âm chuẩn.
Ví dụ: Khi dạy bài “ Các em nhỏ và cụ già” Học sinh phát âm sai phụ âm đầu:
“xải cánh; díu dít”. Giáo viên sửa lại cho học sinh: “sải cánh; ríu rít”.
Học sinh đọc sai âm cuối: “nghẹng ngào; lùi dầng”. Giáo viên sửa lại cho học
sinh: “nghẹn ngào; lùi dần”.
6
+ Khắc phục cách đọc tùy tiện: Học sinh đọc không đúng tiết tấu và dùng ngữ
điệu chưa đúng. Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh dựa vào nghĩa, dựa vào
quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng, cho hay.
Ví dụ: Khi dạy bài: Nhớ Việt Bắc ( Sách Tiếng Việt lớp 3 tập 1 trang 115 có câu:
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
Tôi cho các em thảo luận nhóm để tìm xem cách ngắt nhịp nào hay hơn.
Cách 1: Ta về/ ta nhớ/ những hoa cùng người.//
Cách 2: Ta về ta nhớ/ những hoa cùng người.//
Giáo viên giải thích: Cả hai cách ngắt nhịp đều đúng. Cách 1 ngắt theo nhịp thơ
còn cách 2 ngắt nhịp theo ý tứ và cách ngắt nhịp này hay hơn vì cho ta thấy: Khi về
xuôi, người cán bộ đã nhắn nhủ với người Việt Bắc rằng: Phong cảnh Việt Bắc rất đẹp
và con người Việt Bắc thì đánh giặc thật giỏi.
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy và nghỉ hơi lâu
ở dấu chấm. Đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể,
thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu cảm
Ví dụ:
Ở tận sông Hồng /em có biết ( nhịp ¾)
Quê hương anh/ cũng có dòng sông ( nhịp ¾).
Anh mãi gọi /với lòng tha thiết (nhịp ¾)
Vàm Cỏ Đông/ ơi Vàm Cỏ Đông (nhịp ¾)
Đây con sông/ soi dòng nước chảy (nhịp ¾)
Bóng lồng/ trên sóng nước chơi vơi ( nhịp 2/5)
( Bài: Vàm Cỏ Đông-Tiếng Việt lớp 3-tập I-trang 106).
Khi đọc thơ việc ngắt giọng không chỉ phụ thuộc bởi dấu câu mà còn căn cứ
vào tình tiết nhịp điệu của thơ, chỗ ngắt giọng phải tương ứng với chỗ kết thúc một tiết
đoạn. Không tách một câu làm hai.
Ví dụ: Bài: “Cái cầu” (sách Tiếng Việt lớp 3 tập II trang 34) có câu:
Như võng trên sông ru người qua lại
Không đọc là:Như võng/ trên sông ru người qua lại.
Câu thơ trên phải đọc như sau:
Như võng trên sông/ ru người qua lại.
-Bên cạnh việc dạy học sinh ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ ngữ pháp còn
dạy học sinh cách ngắt giọng biểu cảm.
Ví dụ: Dạy bài: “Tiếng ru” (sách Tiếng Việt lớp 3-tập I trang 64):
Con ong làm mật,/ yêu hoa//
Con cá bơi,/ yêu nước;// con chim ca,/ yêu trời//
Con người muốn sống/ con ơi//
8
Phải yêu đồng chí,/ yêu người anh em.//
Ngắt giọng đúng nhịp câu thơ, câu văn là mục đích của việc dạy học, từ đó học
sinh tiếp nhận, chiếm lĩnh được nội dung bài học một cách sâu sắc. Học sinh sẽ đọc
nhanh đọc lưu loát. Giờ học đạt kết quả cao.
C/ Rèn đọc diễn cảm
Đọc diễn cảm là một yêu cầu đặt ra khi đọc những bài văn, bài thơ có yếu tố
nghệ thuật. Đó là khả năng làm chủ ngữ điệu, làm chủ các thông số âm thanh như tốc
khích học sinh đọc thuộc lòng khổ thơ bài thơ.
* Đối với những bài có lời của các nhân vật, giáo viên cần hướng dẫn cho học
sinh đọc phân vai để làm sống lại các nhân vật của tác giả.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Người mẹ” (sách giáo khoa Tiếng Việt-lớp 3-tậpI-trang29),
giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc:
Chẳng hạn:
“- Làm sao ngươi có thể tìm đến tận nơi đây?//( Đọc với giọng ngạc nhiên).
“ Vì tôi là mẹ.//( Đọc với giọng khảng khái) Hãy trả con cho tôi” ( Đọc với giọng
rõ ràng, dứt khoát).
Khi học sinh biết nhấn giọng, ngừng giọng, thay đổi giọng đọc phù hợp với tình
cảm cần diễn đạt sẽ giúp học sinh đọc diễn cảm tốt.
d/ Rèn đọc qua hình thức đọc thầm
Mục đích của đọc thầm là để hiểu, hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khả
năng thông hiểu nội dung văn bản đọc. Nội dung đọc thầm chính là dạy đọc hiểu. Kết
quả đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa cụm từ, câu, đoạn bài, tức là toàn bộ
những gì được đọc. Để giúp học sinh đọc thầm đạt hiệu quả, giáo viên phải tập cho
học sinh tư thế ngồi ngay ngắn, có thói quen đọc hoàn toàn bằng mắt.
Ví dụ: Để tìm hiểu nội dung chính bài: “Cửa Tùng” ( sách giáo khoa Tiếng Việt
lớp 3 tập I- trang 108). Giáo viên cho hai học sinh ngồi cùng bàn đọc thầm, trao đổi
thảo luận để tìm ra nội dung chính của bài:
Ca ngợi vẻ đẹp của Cửa Tùng, một cửa biển ở miền Trung nước ta.
Giáo viên cần tập cho học sinh thói quen đọc thầm suốt cả tiết học: khi giáo viên đọc
mẫu, học sinh đọc thầm; khi các bạn khác đọc mình cũng phải đọc thầm theo. Tăng
cường hình thức đọc nối tiếp để học sinh đều chuẩn bị tư thế đến lượt mình đọc. Có
như vậy thì hiệu quả đọc thầm mới cao. Trong giờ Tập đọc giáo viên phải luyện cho
học sinh hai hình thức đọc đó là đọc thành tiếng và đọc thầm. Hai hình thức này phải
được thực hiện song song vì chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đồng thời rèn
cho học sinh ham học. Từ đó hình thành cách đọc toàn diện cho học sinh.
3/ Tổ chức giờ học sôi nổi gây hứng thú cho học sinh
10
giáo viên lắng nghe để kịp thời sửa chữa cho những học sinh đọc sai, khen ngợi kịp
thời đối với học sinh đọc đúng.
- Tổ chức thi đọc hay, diễn cảm dẫn đến tiết học hấp dẫn và đạt hiệu quả.
11
3.3/ Kết hợp giữa gia đình và nhà trường
Thời gian học tập ở trường tuy nhiều, nhưng các em không chỉ học một phân
môn Tập đọc mà các em còn phải học nhiều môn học khác. Vì vậy, các em về nhà
phải có thời gian học tập. Đối với học sinh yếu, cá biệt, trây lười trong học tập, bố mẹ
mải làm ít quan tâm, để giúp những học sinh đó vươn lên tôi có một số biện pháp như
sau:
+ Tổ chức cuộc họp giữa gia đình và nhà trường để đề ra phương hướng cho
cụ thể.
+ Đến thăm gia đình, tìm hiểu hoàn cảnh gia đình đó.
+ Thường xuyên thông báo việc học tập trên lớp của học sinh đó trong từng
ngày, tuần, tháng.
+ Giáo viên giao bài tập về nhà cho học sinh, đến lớp giáo viên kiểm tra đánh
giá, ghi điểm.
+Trong quá trình soạn bài, tôi soạn ra những câu hỏi dễ dành cho học sinh yếu
để các em đó có thể trả lời được, và động viên khen ngợi kịp thời.
C/ Kết quả và bài học kinh nghiệm
1/ Kết quả
Qua quá trình áp dụng các giải pháp trên, tôi thấy kĩ năng đọc của học sinh
ngày càng có chuyển biến rõ rệt. Trong giờ tập đọc, các em đã mạnh dạn xung phong
đọc và xây dựng nội dung bài, hạn chế được tình trạng ấp úng, ngắt nghỉ không chính
xác. Nhiều em đọc diễn cảm tốt thể hiện rõ giọng đọc của từng nhân vật.
So với chất lượng khảo sát đầu năm, chất lượng các bài Tập đọc cao hơn hẳn.
Cụ thể, kì thi định kì lần 1 kết quả như sau:
Tổng số học sinh trong lớp là: 35 em. Trong đó:
Bài đạt điểm giỏi: 18 em chiếm tỷ tệ 50%
Bài đạt điểm khá: 14 em chiếm tỷ lệ 37,5%
học Tập đọc.
Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp đòi hỏi phải có một quá trình luyện tập lâu
dài. Vì vậy giáo viên phải kiên trì, bền bỉ trong giảng dạy. Rèn kĩ năng đọc không phải
chỉ trong phân môn Tập đọc mà cả trong giờ học của các môn học khác.
Ở mỗi bài dạy giáo viên phải có kế hoạch, việc làm cụ thể của thầy và trò, chuẩn
bị đầy đủ đồ dùng, phương tiện dạy học.
Trên cơ sở vận dụng những định hướng đổi mới của thay sách lớp 3 ( nhất là
phân môn Tập đọc). Chắc chắn còn nhiều thiếu sót song tôi cũng mạnh dạn trình bày
những việc làm của bản thân. Rất mong được sự góp ý chân thành của hội đồng khoa
học các cấp.
13
Tôi xin chân thành cảm ơn.
14