A.MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong cuộc sống hiện nay, người lao động ở mọi lĩnh vực phải không ngừng
học hỏi, trau dồi tri thức, có tầm nhìn để có thể giải quyết nhanh chóng hơn
những công việc cụ thể, góp phần vào sự nhiệp CNH- HĐH đất nước. Chính vì
vậy, Đảng và nhà nước đã đặt ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo cần phải đào
tạo đội ngũ những người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, tiếp cận và làm
chủ được công nghệ tiên tiến, có năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt
ra. Đảng và nhà nước ta đã đặc biệt coi trọng giáo dục, coi giáo dục là “Quốc
sách hàng đầu”, coi con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển.
Tại hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định: “
Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng phương
pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học”.
Học Tiếng Việt, học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản và cần thiết
giúp các em hoà nhập với cộng đồng và phát triển cùng với sự phát triển của xã
hội. Cùng với môn toán và một số môn khác, những kiến thức của môn Tiếng
Việt sẽ là những hành trang trên bước đường đưa các em đi khám phá, tìm hiểu,
nghiên cứu thế giới xung quanh và kho tàng tri thức vô tận của loài người. Trong
đó phân môn tập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp của tất cả các phân
môn thuộc môn Tiếng Việt ( tập đọc, luyện từ và câu, chính tả, kể chuyện ).
Chính vì thế, việc dạy và học làm văn là vấn đề luôn luôn cần có sự đổi mới.
Không thể cứ áp dụng mãi phương pháp học hôm qua vào hôm nay và mai sau.
Đối với việc dạy cũng thế, trong việc kế thừa cái cũ, cái vốn có đòi hỏi
phải là một sự sáng tạo. Với các phân môn khác của Tiếng Việt trong việc đổi
mới nội dung và phương pháp dạy học có chỉ rõ quy trình các bước lên lớp rất
cụ thể, rõ ràng; Còn với phân môn Tập làm văn, các nhà nghiên cứu chỉ đưa ra
quy trình chung nhất cho mỗi loại bài, chủ yếu vẫn là sự sáng tạo của giáo viên
khi lên lớp. Thực tế dạy học cho thấy: dạy tập làm văn là việc rèn luyện cho học
sinh khả năng tổ chức giao tiếp, tổ chức lời nói ngay từ khi học sinh học sinh bắt
đầu đi học, đây là một việc làm hết sức khó khăn mà không phải giáo viên nào
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu.
- Điều tra, quan sát, đàm thoại, phỏng vấn.
- Phân tích, tổng hợp.
- Thực nghiệm, kiểm chứng.
B. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Giao tiếp là giao lưu, trao đổi tư tưởng tình cảm giữa con người với nhau
trong xã hội, có thể diễn ra bằng nhiều hình thức với nhiều phương tiện khác
nhau, phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người là ngôn ngữ.
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ luôn diễn ra giữa hai đối tượng giao
tiếp: người sản sinh văn bản và người tiếp nhận ( lĩnh hội ) văn bản với sự tham
gia của 5 nhân tố giao tiếp ( điều kiện hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp,
mục đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp, cách thức giao tiếp ) theo một quy trình
khép kín: Người sản sinh văn bản ( người nói, người viết ) tạo lập ra văn bản
ngôn từ và thông qua điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp đến với người tiếp nhận văn
bản ( người nghe, người đọc ). Trong quy trình đó, làm văn chính là một khâu
của hoạt động giao tiếp, đó chính là khâu sản sinh, tạo lập văn bản.
Triết học Mác – Lê nin cho rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất của con người, ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Vì vậy mục đích của việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường là làm cho học sinh
có khả năng sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện sắc bén để giao tiếp trong môi
trường hoạt động của lứa tuổi, đảm bảo mối liên hệ giữa lời nói và tư duy, giúp
học sinh nói có nội dung và phải biết diễn đạt một ý thành những cách nói khác
nhau; đặc biệt là giúp học sinh biến ngôn ngữ ấy thành lời văn, thành những văn
bản hoàn chỉnh.
2
Giáo viên đã nắm được quy trình dạy Tập làm văn nói chung và thể loại
văn miêu tả nói riêng.
Giáo viên rất nhiệt tình, trách nhiệm, có đầu tư nghiên cứu.
Xây dựng phiếu bài tập và sử dụng phiếu bài tập cho mỗi giờ linh hoạt.
Giáo viên tiểu học phải dạy hầu hết các mơn, phải chuẩn bị nhiều lĩnh vực
chun mơn khác nhau, hiện nay giáo viên lại phải dạy 2 buổi/ ngày. Bởi vậy
giáo viên khơng thể có nhiều thời gian nghiên cứu sâu cho từng phân mơn, do
đó việc chuẩn bị kế hoạch bài học chưa được sâu sắc, kỹ càng.
Giáo viên thường e ngại, lúúng túng khi dạy tập
làm văn, không dám đăng ký tiết Tập làm văn dự
thi hoặc thao giảng. Thao tác tiến hành cách dạy của
giáo viên nhận xét và nói lại hoặc gặng hỏi, hay
sửa chữa, bổ sung bài của học sinh chưa cao.
3
Kiến thức Tập làm văn của phần lớn giáo viên
chưa vững. Nhiều giáo viên còn mơ hồ về đổi mới
phương pháp dạy học, chưa nắm vững các hình thức tổ
chức dạy học ( hoặc chỉ nắm một cách chung chung,
máy móc ,…). Kỹ năng nói viếtù văn miêu tả kể
chuyện chưa thật tốt .
Giáo viên chưa có khả năng“chế biến” giảm độ
khó các bài tập cho học sinh yếu, soạn câu hỏi bài
tập nâng cao cho học sinh giỏi.Bởi vậy nên trên lớp
thường ít hướng dẫn cho học sinh yếu, chủ yếu gọi học
sinh khá giỏi trình bày kết quả, còn học sinh yếu chép
lại kết quả.
Khả năng bao quát lớp chú ý đến các đối tượng
Lớp
4B
Số HS
28
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
TL
SL
TL
21
75 %
7
25 %
Từ thực trạng việc dạy học phân môn tập làm văn nói chung và việc dạy
học làm văn miêu tả ở lớp 4 nói riêng tôi thấy rất cần thiết phải có những giải
Văn miêu tả là loại văn thuộc phong cách nghệ thuật đòi hỏi viết bài phải
giàu cảm xúc, tạo nên cái “hồn”, chất văn của bài làm. Muốn vậy giáo viên phải
luôn luôn nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm
lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện.
5
3.2. Cần giúp học sinh hiểu rõ những đặc điểm cơ bản của văn miêu tả ngay
từ tiết đầu tiên của thể loại bài này:
Miêu tả là một thể loại văn bản mà trong đó người viết dùng ngôn ngữ có
tính chất nghệ thuật của mình để tái hiện, sao chụp lại hình ảnh chân dung của
đối tượng miêu tả với những đặc điểm nổi bật cả về hình thức bên ngoài lẫn
những phẩm chất bên trong nhằm giúp người tiếp nhận có những hiểu biết và
dung cảm, cảm nhận về đối tượng đó như trực tiếp tiếp xúc với đối tượng thông
qua các giác quan của mình.
Bài văn miêu tả được dựng trên cơ sở những hình ảnh, những ấn tượng về
đối tượng mà người viết thu lượm, cảm nhận được thông qua các giác quan trực
tiếp của mình. Bài văn miêu tả là thể loại văn bản mang tính nghệ thuật cao,
mang tính sáng tạo, tính cá thể của người viết. Ngôn ngữ trong văn miêu tả là
thứ ngôn ngữ nghệ thuật giàu sức gợi tả, gợi cảm và là ngôn ngữ của những biện
pháp tu từ.
Văn miêu tả mang tính chất thông báo thẩm mỹ, dù miêu tả bất kỳ đối
tượng nào, dù có bám sát thực tế đến đâu thì văn miêu tả cũng không bao giờ là
sự sao chép, chụp ảnh lại những sự vật hiện tượng một cách máy móc mà là kết
quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú. Đó là sự miêu tả
thể hiện được cái mới, cái riêng biệt của mỗi người.
Chẳng hạn, nhìn bầu trời sao Vich-to Huy-gô thấy giống như “một cánh
đồng lúa chín” mà ở đó người đi gặt đã “để quên lại một cái liềm con” (Vành
trăng non). Đối với nhà văn Nam Cao thì vành trăng và ánh sao lại được nhìn
viên cần uốn nắn để học sinh tránh thái độ giả tạo, giả dối, bệnh công thức sáo
rỗng, thói già trước tuổi.
Mặt khác giáo viên cần giúp các em nắm được: Trong văn miêu tả, ngôn
ngữ sử dụng phải là ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, giàu nhịp điệu âm
thanh, đây là một trong những điều quan trọng để phân biệt văn miêu tả với
những miêu tả trong sinh học, địa lý ...và các thể loại văn khác.
Từ việc hiểu rõ đặc điểm của thể loại văn miêu tả, hiểu rõ con đường
mình cần đi và đích mình cần tới, chắc chắn học sinh sẽ thận trọng hơn khi chọn
lọc từ ngữ, sẽ gọt giũa kỹ hơn từng lời, từng ý trong bài văn và như vậy chất
lượng bài làm của các em sẽ tốt hơn.
3.3. Biết cách dùng từ đặt câu, sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi miêu
tả.
Muốn một bài văn hay, có “hồn”, có chất văn thì các em phải có vốn từ
ngữ phong phú và phải biết cách lựa chọn từ ngữ khi miêu tả cho phù hợp.
Chính vì vậy giáo viên cần chú ý cung cấp vốn từ cho các em khi dạy tập đọc,
luyện từ và câu và cả trong khi dạy các môn khác hay trong những buổi nói
chuyện, trong các tiết sinh hoạt. Hướng dẫn các em lập sổ tay văn học theo chủ
đề, chủ điểm, khi có một từ hay, một câu văn hay các em ghi vào sổ tay theo
từng chủ điểm và khi làm văn có thể sử dụng một cách dễ dàng. Giáo viên cũng
cần khuyến khích các em đọc sách báo để tìm hiểu thêm thông tin tư liệu, có thể
xây dựng tủ sách dùng chung trong lớp để các em trao đổi sách báo cho nhau và
em nào cũng được đọc. Hàng tuần hoặc hàng tháng giáo viên có thể tổ chức cho
các em những cuộc thi vui: thi xem ai đọc được nhiều sách báo nhất ( kể tên
những đầu sách và những tên bài mình đã đọc), thi tìm từ ngữ theo chủ đề ( học
sinh tự chọn một chủ đề bất kỳ và nêu những từ ngữ thuộc chủ đề đó mà mình
đã sưu tầm được),…Sau những cuộc thi, những buổi trao đổi như thế chắc chắn
vốn từ ngữ của các em sẽ tăng lên, khả năng giao tiếp của các em cũng sẽ khá
hơn, điều này giúp ích rất nhiều cho việc làm văn của các em.
Sau khi các em đã có vốn từ phong phú, giáo viên tiếp tục rèn cho các em
cách lựa chọn từ ngữ để đặt câu, viết thành những câu văn có hình ảnh và có sử
những từ gợi tả, gợi cảm như các câu trên thì hiệu quả khác hẳn, ta cảm thấy
miêu tả như vậy vừa sinh động, tinh tế vừa rất tình cảm và sẽ cuốn hút người
đọc người nghe.
Tuy nhiên, không phải học sinh nào cũng biết sử dụng các biện pháp nghệ
thuật khi miêu tả và cũng không phải tự các em có sẵn tâm hồn văn chương như
vậy. Như trong phần thức trạng đã nói: Học sinh khi học về các biện pháp nghệ
thuật thì có thể nhận diện được câu văn nào có sử dụng biện pháp nghệ thuật gì
nhưng lại không biết áp dụng nó khi làm văn.Vậy ta phải làm thế nào để học
sinh có thể vận dụng lý thuyết khi thực hành làm văn? Đây là vấn đề khó có lẽ
nhiều giáo viên trăn trở và cũng không phải việc làm một sớm, một chiều mà
phải là sự tích luỹ lâu dài. Giáo viên có thể đọc cho các em nghe và cho các em
ghi chép vào sổ tay văn học những câu văn, câu thơ có sử dụng biện pháp nghệ
thuật vào cuối mỗi giờ tập làm văn học trong các giờ học buổi. Chẳng hạn có thể
đọc cho các em nghe:
* Nghệ thuật so sánh:
- Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh.
- Miệng cười như thể hoa ngâu,
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
- Lá xoè từng tia nắng
Giống hệt như mặt trời.
8
- Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
- Người rực rỡ như một mặt trời cách mạng
Mà đế quốc là loại rơi hốt hoảng
cách miêu tả sinh động của các tác giả, biết vận dụng khi làm văn.
3.4. Tập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp tất cả những phân môn
thuộc môn tiếng Việt, vì vậy muốn dạy tốt tập làm văn cần dạy tốt các phân
môn khác.
- Ta có thể thấy, mỗi bài tập đọc là những đoạn văn mẫu mực cả về câu, từ cả
về cách diễn đạt, những văn bản trong các bài tập đọc đạt yêu cầu lời hay, ý đẹp,
dạy tốt tập đọc sẽ tạo điều kiện cho học sinh tăng thêm vốn từ và biết được khả
năng thể hiện của của Tiếng Việt trong mọi trường hợp rất phong phú, học sinh
sẽ học tập được cách dùng từ, viết câu, diễn đạt.
Trong dạy tập đọc chủ yếu là rèn cho học sinh các kỹ năng, trong đó có kỹ
năng văn hay còn gọi là kỹ năng cảm thụ:
9
Làm cho học sinh thấy được cái hay, cái đẹp trong ngôn từ văn bản: âm
thanh, gieo vần, cách dùng từ, đặt câu, những biện pháp tu từ ( ví von, so sánh,
nhân hoá, từ láy, từ gợi tả, gợi cảm,...)
Khám phá ý nghĩa trong mỗi đơn vị ngôn từ, biết cách giải nghĩa từ nhất là
nghĩa của từ trong từng văn cảnh – ý nhĩa xung quanh nó tạo nên nghĩa của từ:
Ví dụ: Sông hồng bận chảy
Chiếc xe bận chạy
Bận : bận rộn, nhiều việc, việc nọ kế tiếp việc kia, trong văn cảnh này từ
bận là từ dành cho con người được sử dụng cho những đối tượng không phải là
con người như sông Hồng, chiếc xe đó chính là biện pháp nhân hoá mà tác giả
sử dụng nhằm nói mọi sự việc hướng tới con người, vì con người.
Hay trong bài “Chú chuồn chuồn nước” : “Ôi chao! Chú chuồn chuồn
nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên lưng chú lấp lánh. Bốn cái cánh mỏng
như giấy bóng, Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thuỷ tinh.Thân chú
nhỏ và thon dài như màu vàng của nắng mùa thu.”
- Nếu như tập đọc rèn kỹ năng cảm thụ cho học sinh, chính tả rèn kỹ năng
viết cho học sinh thì phân môn kể chuyện rèn kỹ năng nói, hay nói cách khác là
kỹ năng sản sinh văn bản dưới dạng nói cho học sinh. Kể chuyện vừa bồi dưỡng
tình cảm, giúp học sinh biết quý trọng người tốt, phê phán cái xấu, vừa giúp học
sinh học tập cách miêu tả, cách diễn đạt trong mỗi câu chuyện.
Ví dụ: Khi học sinh học bài kể chuyện Con vịt xấu xí, các em sẽ học được
cách miêu tả của An- đéc- xen khi miêu tả hình dáng và tâm trạng của thiên nga
qua các từ ngữ: xấu xí, nhỏ xíu, quá nhỏ, yếu ớt, buồn lắm, dài ngoẵng, gầy
guộc, vụng về, vô cùng sung sướng, ... Qua câu chyện học sinh cũng có được
lời khuyên: Ai cũng có những cái đẹp riêng, ta phải biết nhận ra cái đẹp của
người khác, phải luôn yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Từ đó học sinh biết yêu
thương, giúp đỡ bạn bè và mọi người xung quanh.
Nói tóm lại, các phân môn của Tiếng Việt tuy mỗi phân môn có nội dung
riêng, phương pháp riêng nhưng chúng không hoàn toàn độc lập với nhau mà
luôn bổ sung cho nhau, kiến thức của phân môn này hỗ trợ cho việc học những
phân môn khác. Với phân môn tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của
những phân môn khác, muốn học tốt tập làm văn học sinh cần học tốt các phân
môn còn lại.
3.5. Hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn mở bài và kết bài:
Bài văn không thể thiếu phần mở bài và kết bài, những phần này thường
thu hút người đọc, người nghe chú ý cách đặt vấn đề và cách cảm nghĩ về vấn đề
mà người viết trình bày, Chính vì vậy việc rèn luyện cho học sinh xây dựng
đoạn văn mở bài và kết bài là rất cần thiết.
- Đoạn văn mở bài: Có hai cách mở bài mà học sinh được học đó là mở bài
trực tiếp và mở bài gián tiếp. Không nhất thiết phải gò bó học sinh làm mở bài
theo cách nào mà để cho các em tự chọn cho mình cách mở bài hợp lý nhất và
phù hợp với khả năng của từng em. Mở bài gián tiếp có thể xuất phát từ một vấn
đề khác rồi mới dẫn vào vấn đề mình cần nói tới, có thể bắt đầu bằng những câu
thơ, những câu hát,... nhưng phải bám sát vào yêu cầu của đề, không lan man, xa
chưa hấp dẫn người đọc.Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải gợi ý để học sinh
biết cách làm phần kết bài có mở rộng bằng cảm xúc của mình một cách tự
nhiên thông qua những câu hỏi gợi mở, sau đó cho các em nhận xét, sửa sai và
chắt lọc để có được những kết bài hay.
Ví dụ:
+ “Mới ngày nào vào học lớp Một, nghe tiếng trống trường ngày khai
giảng mà hồi hộp. Thế mà nay em đã là cậu học sinh lớp Bốn rồi. Càng thấy
yêu, càng thấy nhớ cái âm thanh rộn ràng ấy mỗi buổi mai khi hừng đông
rực đỏ.”
+ “Trống trường quả là người bạn thân thiết của tuổi học trò. Mai đây
lớn lên, chúng em dù có đi bất cứ nơi đâu cũng không thể quên tiếng trống
trường. Tùng! Tùng! Tùng!... Trống gọi em về với những bài giảng của thầy
cô, với những nụ cười, ánh mắt của bạn bè.”
+ “Cây gạo có thể sống đến nghìn năm. Nó là nhân chứng thầm lặng
của dòng đời. Cô giáo em nói thế. Đi học về, đứng trên bến đò, hoặc đi xa về,
ngắm nhìn ba cây gạo, em thấy lòng bồn chồn xôn xao. Cây gạo là hồn quê,
là tình quê vơi đầy.”
Văn chương không phải là sự đúng, sai, với làm văn đúng thôi chưa đủ mà
phải thấm đượm cảm xúc của người viết. Song tình cảm không phải là thứ gò ép
bắt buộc, tình cảm ấy phải chân thực, hồn nhiên, xuất phát từ chính tâm hồn các
em. Bài văn không thể hay nếu thiếu cảm xúc của người viết, cảm xúc không chỉ
bộc lộ ở phần kết bài mà còn thể hiện ở từng câu, từng đoạn của bài. Vì vậy giáo
viên cần chú ý rèn cho học sinh cách bộc lộ cảm xúc trong bài văn một cách
thường xuyên liên tục, từ tiết đầu tiên của mỗi loại bài đến những tiết luyện tập
xây dựng đoạn văn, tiết viết bài và ngay trong tiết trả bài nữa.
3.6. Chuẩn bị kỹ càng phần củng cố bài trong các tiết tập làm văn:
Củng cố bài là phần chiếm không nhiều thời gian trong cả tiết học nhưng
lại là lúc giáo viên tóm tắt toàn bộ nội dung kiến thức của bài và mở ra hướng
12
nhất định, không phải đưa ra đoạn nào trước cũng được. Việc sắp xếp phải theo
hướng gợi mở dần, phải theo một trình tự logích. Có thể là từ những đoạn văn có
kết cấu đơn giản đến phức tạp hoặc từ miêu tả hình dáng bên ngoài tới tả từng
bộ phận hoặc từ tả hình dáng đến tính cách (đối với văn miêu tả con vật). Như
thế sẽ giúp học sinh hiểu đối tượng miêu tả một cách có hệ thống có trình tự và
cũng guíp học sinh vân dụng khi miêu tả là phải miêu tả theo một trình tự nhất
định.
Các đoạn văn mẫu đọc cho học sinh nghe cũng cần lựa chọn kỹ càng, có nội
dung phù hợp, cùng chung một chủ đề, lời văn phải trong sáng, dễ hiểu, cụ thể,
gần gũi với các em. Có thể lấy những đoạn văn của những nhà văn lớn, cũng có
thể lựa chọn những đoạn văn hay của giáo viên, học sinh hoặc là những đoạn
văn của các bài tập đọc mà các em được học trong chương trình. Chẳng han, khi
dạy về văn miêu tả con vật có thể chọn những đoạn văn trong bài “Con chuồn
chuồn nước”, “Con sẻ”, ... Các đoạn văn đưa ra cũng không nên quá dài hay
quá ngắn vì nếu dài quá học sinh sẽ khó tiếp thu, ngắn quá sẽ không đảm bảo
13
nội dung. Đặc biệt đoạn văn cần phải được diễn đạt mạch lạc, đúng cấu trúc ngữ
pháp, lời văn giản dị, câu văn giàu hình ảnh và phải mang tính mẫu mực cả về
nội dung và hình thức.
Khi đưa ra các đoạn văn mẫu cần phải phân tích, đánh giá để học sinh thấy
được cái hay, cái đẹp trong từng đoạn văn, giúp học sinh nhận rõ nội dung miêu
tả, sự khác biệt trong miêu tả và nét đặc sắc trong hành văn.
Ví dụ: Đọc cho học sinh nghe đoạn văn “ Những cánh bướm bên bờ sông” :
“ Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn ở bờ sông bắt bướm. Chao ôi, những con
bướm đủ màu sắc, đủ hình dáng. Con xanh biếc pha đen như nhung, bay nhanh
loang loáng. Con vàng sẫm nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn
lờ đờ như trôi trong nắng. Con bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, màu
nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn. Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như
thực hiện tiết trả bài chính là thực hiện khâu cuối cùng “kiểm tra, đánh giá”
14
nhằm mục đích giúp học sinh hiểu được những nhận xét chung của giáo viên về
kết quả bài viết của cả lớp để liên hệ với bài làm của mình, giúp học sinh biết
sửa lỗi dùng từ, ngữ pháp, diễn đạt, chính tả, bố cục bài của mình và của bạn, từ
đó học sinh có thể học hỏi những câu văn, đoạn văn hay của bạn. Với mục đích
như vậy thì tiết trả bài không thể làm qua loa đại khái, càng không thể bớt xén
thời lượng ( như trong phần thực trạng đã nêu).
Muốn có được tiết trả bài có hiệu quả cao thì việc chấm bài là rất quan
trọng. Giáo viên cần chấm bài thật kỹ càng, chữa từng lỗi nhỏ trong bài viết cho
học sinh. Khi chấm bài phát hiện ra lỗi của học sinh giáo viên cần ghi lại cẩn
thận các lỗi của học sinh theo từng loại: lỗi về cách dùng từ, lỗi câu, lỗi diễn đạt,
lỗi chính tả,... và cũng cần ghi lại các từ, câu hay đoạn văn hay. Sau khi chấm
bài giáo viên cần thống kê điểm số, đưa ra được nhận xét chung nhất về ưu,
nhược điểm trong bài viết của học sinh, thống kê được các lỗi mà học sinh
thường mắc và những câu văn, đoạn văn hay.
Trong tiết trả bài, ngoài việc tiến hành các trình tự như trong sách giáo
viên đã hướng dẫn, giáo viên cần thay đổi hình thức hoạt động để học sinh đỡ
nhàm chán. Sau phần giáo viên nhận xét chung, giáo viên cần chữa lỗi cho học
sinh theo từng loại lỗi đã thống kê khi chấm bài và nêu các câu văn, đoạn văn
hay đã chuẩn bị trước.Sau đó, giáo viên trả bài và có thể tổ chức cho học sinh
thảo luận theo nhóm bàn để các em trao đổi với bạn về cách làm bài của mình,
đọc cho nhau nghe các câu văn hay hoặc giúp nhau sửa lỗi trong bài làm. Từ đó
học sinh sẽ thấy rõ được ưu, nhược điểm trong bài làm của mình, của bạn và biết
tự sửa chữa hoặc viết lại đoạn văn của mình cho đạt yêu cầu. Sau những trao đổi
như vậy cũng sẽ giúp học sinh tránh được những lỗi không đáng có trong thực
hành viết văn và trong cả giao tiếp hàng ngày.
3.8. Chuẩn bị chu đáo kế hoạch bài học góp phần làm nên sự thành công
- Giai đoạn 3: Lựa chọn phương pháp dạy học.
- Giai đoạn 4: Thiết kế các hoạt động dạy học.
Muốn có đầy đủ thông tin và kiến thức cho một bài giảng, thực hiện được
tốt các giai đoạn trên, người giáo viên cần không ngừng học tập nâng cao trình
độ, tham gia đủ các lớp học chuyên môn, các buổi hội thảo do nhà trường và các
cấp quản lý triển khai, chịu khó sưu tầm các loại sách vở liên quan đến chuyên
môn, tự lập cho mình tủ sách riêng dể tiện tra cứu khi cần thiết. Đặc biệt trong
thời đại mà khoa học công nghệ thông tin đã phát triển mạnh mẽ, người giáo
viên hơn ai hết phải là người đi đầu trong việc tự học tập để tiếp thu khoa học
công nghệ thông tin hiện đại ấy. Việc tra cứu tìm tư liệu trên mạng cũng rất đơn
giản, lại không tốn kém đáng kể về kinh tế, ngoài giờ lên lớp, mỗi ngày ta có thể
dành một giờ để lên mạng tìm những thông tin cần thiết cho các bài giảng, như
vậy vốn kiến thức của chúng ta sẽ phong phú lên rất nhiều và bài giảng chắc
chắn sẽ hấp dẫn hơn, nhất là với việc dạy văn miêu tả thì điều này lại càng cần
thiết.
Dạy văn miêu tả lớp 4 là một việc làm khó, nhất là nếu chúng ta đơn độc
thực hiện lại càng khó hơn nên rất cần sự đóng góp trí tuệ của tập thể, của bạn
bè đồng nghiệp. Vì vậy, chúng ta cần nghiêm túc trao đổi cùng bạn bè đồng
nghiệp về chuyên môn nghiệp vụ trong các buổi sinh hoạt chuyên môn. Mỗi
buổi có thể trao đổi về một chủ đề, về một tiết tập làm văn nào đó, có thể cả tổ
xây dựng mỗi tiết một giáo án mẫu sau đó về nhà mỗi người sẽ tuỳ thuộc vào
đối tượng học sinh lớp mình mà cụ thể hoá thành kế hoạch của riêng mình. Như
vậy sẽ phát huy được sức mạnh của tập thể và mỗi chúng ta cũng học hỏi được
từ đồng nghiệp rất nhiều.
Tóm lại: Dạy như sách đã khó nhưng dạy để sách trở thành vốn tri thức
phát triển của học sinh lại càng khó hơn. Với tập làm văn, người dạy phải gửi cả
tâm hồn mình vào trong bài dạy, thầy trò phải cùng đắm mình vào đối tượng
miêu tả theo một dòng cảm xúc, cùng hoà chung tình cảm để cùng tìm hiểu và
cảm nhận với niềm say mê, thích thú. Muốn vậy người giáo viên phải có sự
chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi lên lớp. Chuẩn bị đầy đủ về tâm thế, về nội dung,
28
Đề 1
Đề 2
Hoàn thành
SL
TL
28
100
28
100
Chưahoàn thành
SL
TL
0
0
0
0
Rõ ràng chất lượng bài làm hơn hẳn, có tiến bộ rõ rệt, các em đã biết viết văn
miêu tả giàu hình ảnh, giàu cảm xúc. Đặc biệt nhiều em đã biết cách sử dụng
các biện pháp nghệ thuật như: nhân hoá, so sánh, dùng điệp từ, điệp ngữ... bài
làm sinh động, cảm xúc chân thật. Tuy vẫn còn một số ít bài viết khô cứng, liệt
kê các chi tiết của đối tượng miêu tả nhưng không có hiện tượng sao chép văn
mẫu, cũng không có những bài làm na ná như nhau. Mặc dù mới là sự chuyển
biến ít ỏi nhưng trong giảng dạy nhất là dạy tập làm văn thì kết quả như vậy
cũng là điều đáng quý. Mặt khác các phương pháp này mới chỉ được áp dụng
trong 10 tiết tập làm văn - một thời gian quá ngắn. Nếu có thể thực hiện từ khi
vận dụng vào bài làm của mình. Cần coi tiết trả bài như một khâu không thể
thiếu của các quá trình hoạt động, đó chính là khâu kiểm tra, đánh giá nhằm điều
chỉnh cho những hoạt động tiếp theo. Trả bài là tiết học mà giáo viên dành nhiều
thời gian để sửa lỗi cho học sinh, giúp học sinh điều chỉnh những sai sót mắc
phải trong bài viết để bài viết sau sẽ hoàn thiện hơn, hấp dẫn hơn.
Không phải ai sinh ra cũng mang sẵn trong mình một tâm hồn văn chương
mà khả năng ấy phải được bồi đắp dần qua năm tháng, qua trang sách và những
bài giảng hàng ngày của thầy cô. Muốn có được khả năng ấy của mỗi học sinh
thì chính mỗi người giáo viên phải định hướng, gợi mở cho các em phương pháp
học tập như những cây non được ươm trồng cần bàn tay con người chăm sóc,
vun xới thì nó sẽ trở lên tươi tốt. Với học sinh lớp 4, các em không thể vừa bắt
tay vào viết văn đã có được những dòng văn hay mà văn hay là kết quả của một
quá trình rèn luyện liên tục, bền bỉ, dẻo dai. Văn hay không thể có được ở những
học trò lơi là đèn sách . Với tinh thần đó, việc rèn kỹ năng làm văn vừa để nhằm
mục đích nâng cao năng lực viết văn vừa nhằm nâng cao ý thức tự rèn luyện
của học sinh. Đó chính là động lực thúc đẩy tôi hoàn thành bài tập nghiên cứu
khoa học này.
2. KIẾN NGHỊ:
Để kết quả của đề tài có thể được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả , tôi xin
có một số kiến nghị sau đây:
* Đối với Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT:
- Hàng năm cần tổ chức các phong trào thi đua viết thơ văn, sáng tác nhỏ của
tuổi thơ để các em có điều kiện phát huy tài năng của mình.
- Trong các kỳ hội giảng, hội thi nên khuyến khích giáo viên dạy tập làm văn
để trao đổi tìm ra phương pháp hay.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường: Trang bị những phương tiện
thông tin hiện đại, máy tính nối mạng Internet để giáo viên có thể tra cứu, tìm
các thông tin phục vụ cho bài
18