Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn học thời kì kháng chiến chống mĩ cứu nước trong chương trình ngữ văn 12 - Pdf 44

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Chiến tranh đã đi qua hơn 40 năm nhưng những ấn tượng về giai đoạn ấy đối
với nhiều thế hệ độc giả không dễ phai mờ. Chiến tranh - một thời đoạn vô cùng
hào hùng và khốc liệt trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Nó đã tạo ra
cho con người một cuộc sống khác khiến bất kì ai từng trải qua chẳng thể nào quên
được. Vì thế mà nhiều năm nay, Văn học kháng chiến nói chung và Văn học chống
Mĩ nói riêng được lựa chọn đưa vào giảng dạy trong trường THPT.
Ngày nay, thế hệ trẻ chỉ có thể sống trong không khí hào hùng, sôi động của
một thời đại qua các trận đánh từ tư liệu lịch sử, qua lời kể của thế hệ cha anh và
qua tác phẩm văn học. Họ nhìn về lịch sử khác với thế hệ từng xẻ dọc Trường Sơn
đi cứu nước nên khó có được tâm thế, khí thế để cảm nhận bản chất thực sự của
một thời đại đau thương nhưng hào hùng của dân tộc. Vì vậy, việc “truyền lửa” cho
hậu thế thông qua dòng Văn học chống Mĩ khơi dậy tinh thần đấu tranh kiên
cường, bất khuất và anh dũng của dân tộc ta trong quá khứ là điều vô cùng cần thiết
và có ý nghĩa lớn lao nhằm tiếp thêm sức mạnh, ý chí cho giới trẻ ngày nay.
Sau nhiều năm giảng dạy Ngữ văn ở trường THPT Mường Lát, tôi nhận thấy
việc giảng dạy Văn học nói chung và Văn học thời kì chống Mĩ nói riêng chủ yếu
chỉ được tiến hành theo lối truyền thụ một chiều: thầy đọc - trò chép. Giáo viên còn
lúng túng trong việc truyền đạt nội dung, tư tưởng của tác phẩm. Làm thế nào để
truyền được cái “thần”, cái “hồn”, cái “khí thế” sục sôi của cả một thời đại lịch sử
cho người học nhất là khi nhìn vào bối cảnh thực tại của đất nước lúc này, khi tổ
quốc chập chờn bóng giặc (“Tổ quốc nhìn từ biển” - Nguyễn Việt Chiến) là điều
mà bất cứ người giáo viên dạy Văn nào khi đứng trên bục giảng cũng trăn trở.
Đứng trước những tồn tại đó, tôi mạnh dạn đề xuất Một số biện pháp nâng cao
chất lượng dạy học các tác phẩm Văn học thời kì kháng chiến chống Mĩ trong
chương trình Ngữ văn 12.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra những đặc trưng Văn học thời kì kháng chiến
chống Mĩ về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật trên cơ sở đó tìm ra một số biện
pháp dạy học có hiệu quả các tác phẩm giai trong chương trình Ngữ văn 12.

thấy chức năng đặc thù của nó trong việc bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cách.
Nó trang bị những cảm xúc nhân văn, giúp con người hướng tới Chân - Thiện - Mĩ.
Nhờ có Văn học mà đời sống tinh thần của con người ngày càng phong phú, tinh tế
hơn. Tâm hồn trở nên bớt khô khan, thờ ơ, bàng quan trước những số phận, cảnh
đời diễn ra xung quanh mình, trước thiên nhiên và tạo vật. Điều này càng quan
trọng khi chúng ta đang sống trong nhịp sống sôi động, hối hả của cuộc sống hiện
đại, quá khứ dần bị lãng quên. Văn học chống Mĩ cũng vậy! Nó bồi đắp cho học
sinh tình yêu quê hương đất nước, thái độ trân trọng truyền thống lịch sử, lòng tự
hào dân tộc; giúp các em sống có lí tưởng, mục đích, đạo đức và biết quý trọng tình
nghĩa… Thông qua giá trị nhân văn từ những tác phẩm văn học chống Mĩ giúp khơi
dậy tinh thần đấu tranh bất khuất, anh dũng của dân tộc ta trong quá khứ trở thành
nguồn sức mạnh tinh thần là điều cần thiết và có ý nghĩa lớn lao tiếp thêm sức
mạnh cho thế hệ trẻ ngày nay.
Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trải qua nhiều cam go, khốc liệt để đi tới
thắng lợi trọn vẹn ngày 30 - 4 - 1975. Cuộc kháng chiến chống Mĩ đã thúc đẩy sự
phát triển mạnh mẽ của Văn học Việt Nam. Từ văn học kháng chiến chống Pháp
đến chống Mĩ là sự kế tục và phát triển liền mạch của Văn học chiến tranh. Văn học
thời kì chống Mĩ cứu nước (1955 - 1975) có một vị trí trong lịch sử văn học dân
tộc. Dòng văn học này luôn dạt dào tuôn chảy nhờ sự góp sức của nhiều giọng văn,
nhiều tiếng thơ độc đáo, sôi nổi. Nó đã góp một tiếng nói nhỏ vào cuộc đời lớn. Có
thể khẳng định sự phát triển của văn học thời kì này trước hết là ở đội ngũ sáng tác.
Chưa bao giờ lực lượng sáng tác lại tập hợp được nhiều thế hệ và nhiều phong
2


cách, vừa thống nhất vừa bổ sung cho nhau như thời kì này. Thế hệ các nhà thơ,
nhà văn xuất hiện từ trước năm 1945 như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy
Cận, Nam Cao, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Kim Lân … vẫn
tiếp tục sáng tác khá dồi dào và nhiều người đạt được đỉnh cao mới, tạo ra chặng
đường mới trên con đường sự nghiệp của mình. Các tác giả trẻ xuất hiện đông đảo

đất nước có chiến tranh. Ngoài ra, nó còn chịu sự chi phối của quy luật Hiện đại
hóa. Do đó, Văn học lúc này thực hiện tốt nhiệm vụ hàng đầu là phục vụ chính trị,
yêu nước, cổ vũ cho cuộc kháng chiến vĩ đại ở miền Nam và công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Nền Văn học chống Mĩ đạt được nhiều thành tựu lớn

3


về số lượng tác phẩm cũng như nghệ thuật biểu hiện. Trong hoàn cảnh lịch sử xã
hội đặc biệt ấy Văn học chống Mĩ mang những đặc điểm riêng:
- Về nội dung:
+ Văn học chống Mĩ làm nổi bật hình ảnh người lao động, ngợi ca những đổi
thay của đất nước và con người trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, tình cảm sâu nặng
với miền Nam trong nỗi đau chia cắt.
+ Văn học tập trung thể hiện những tình cảm và tư tưởng lớn, bao trùm trong
đời sống tinh thần của con người thời đại chống Mĩ cứu nước.
+ Đề cao tinh thần yêu nước, yêu tổ quốc, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách
mạng (Đoạn trích Trường ca mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm, Rừng xà
nu - Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi).
+ Thể hiện khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc trong cuộc sống đời
thường (Sóng - Xuân Quỳnh)
- Về nghệ thuật:
+ Văn học chống Mĩ mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
+ Mở rộng, đào sâu chất liệu hiện thực, tăng cường sức khái quát, chất suy
tưởng và chính luận.
+ Mang đậm cảm hứng anh hùng ca.
Văn học chống Mĩ mang nội dung yêu nước, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng,
tinh thần xả thân vì Đất nước. Bằng những giọng điệu riêng, mỗi tác giả góp một
tiếng nói vào bản hùng ca về Tổ quốc. Trên đây là những đặc điểm cơ bản tạo nên
diện mạo riêng của nền văn học này.

nước và giữ nước.
* Về nghệ thuật
- Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị...
- Giọng điệu thơ biến đổi linh hoạt.
- Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình.
* Ý nghĩa tác phẩm: Thể hiện một cách cảm nhận về Đất Nước, qua đó khơi dậy
lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam.
d. Hướng dẫn học sinh học bài
* Bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh.
a. Chuẩn bị đồ dùng dạy học: Thông qua việc cung cấp hình ảnh về biển, tôi khơi
dậy tình yêu biển đảo, tình yêu quê hương đất nước đến với các em (phụ lục).
b. Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được viết trong chuyến đi thực tế tại vùng biển
Diêm Điền (Thái Bình) năm 1967.
c. Trọng tâm kiến thức
* Về tác giả:
- Cuộc đời bất hạnh, luôn khao khát tình yêu, mái ấm gia đình, tình mẫu tử.
- Đặc điểm thơ: tiếng nói của người phụ nữ giàu yêu thương, khao khát hạnh
phúc đời thường, bình dị; nhiều âu lo, day dứt, trăn trở trong tình yêu.
* Tác phẩm:
- Đề tài: Tình yêu
- Chủ đề: Mượn hình tượng sóng để diễn tả tình yêu của người phụ nữ. Sóng
là ẩn dụ cho tâm hồn người phụ nữ đang yêu - một hình ảnh đẹp và xác đáng.
* Về nội dung:
- Phần 1: Sóng và em - những nét tương đồng:
- Phần 2: Những suy tư, lo âu trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu:
+ Những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời: ý thức được sự hữu hạn của
đời người, sự mong manh của hạnh phúc.
+ Khát vọng sống hết mình trong tình yêu: khát vọng hóa thân thành sóng để
bất tử hóa tình yêu.
* Về nghệ thuật

bào Tây Nguyên nói chung.
- Hình tượng nhân vật Tnú:
+ Là người gan góc, dũng cảm, mưu trí
+ Là người có tính kỉ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng
+ Tnú có một trái tim yêu thương, sục sôi căm thù: sống nghĩa tình và luôn
mang trong tim ba mối thù: thù của bản thân, thù của gia đình, thù của buôn làng.
+ Cuộc đời bi tráng và con đường đến với cách mạng của Tnú điển hình cho
con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên, góp phần làm sáng tỏ
chân lí của thời đại: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách
mạng; đấu tranh vũ trang là con đường duy nhất để tự giải phóng.
- Hình tượng rừng xà nu và Tnú có mối liên hệ khăng khít, bổ sung cho nhau.
* Về nghệ thuật
- Không khí, màu sắc đậm chất Tây Nguyên thể hiện ở bức tranh thiên nhiên;
ở ngôn ngữ, hiếu ảnh về biển cho các
em xem và tôi cũng áp dụng phương pháp này cho các bài dạy khác trong cùng thời
kì văn học (xem phần phụ lục).

Tranh ảnh về biển Việt Nam
11


2.3.3. Vận dụng kiến thức liên môn.
Đổi mới phương pháp dạy học là nhằm chú trọng phát triển năng lực của học
sinh. Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ
thông nói chung và môn Ngữ văn nói riêng là phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh. Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều
đó nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm
cho học sinh. Ngữ Văn còn là môn học thuộc nhóm công cụ. Điều đó nói lên mối
quan hệ giữa Ngữ văn và các môn khác. Học Ngữ văn sẽ có tác động tích cực đến
kết quả học tập các môn khác và các môn khác cũng góp phần giúp học tốt môn


12


Và có thể tích hợp với môn Giáo dục công dân khi ngợi ca những tấm gương
về lòng yêu nước, dũng cảm, gan dạ của thế hệ trẻ miền Nam những năm chống Mĩ
(Việt, Chiến). Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta từ xưa đến nay.
2.3.4. Sử dụng tiết dạy tự chọn một cách hiệu quả
Thời lượng trong một tiết dạy vừa để trình chiếu phim tư liệu, tranh ảnh vừa
đảm bảo đầy đủ các bước lên lớp là điều khó có thể thực hiện được. Chính vì thế,
chúng tôi sử dụng tiết dạy tự chọn 1 tiết/1 tuần để cung cấp cho các em thêm tri
thức theo từng chủ đề, nội dung bài học bám sát chương trình học chính. Văn học
thời kì kháng chiến chống Mĩ trong chương trình Ngữ văn 12 được giảng dạy trong
cả năm học với tổng số 7 tiết dạy chính và 2 tiết tự chọn. Theo phân phối chương
trình Ngữ văn ở học kì I học sinh chủ yếu học tác phẩm thơ, học kì II lại hoàn toàn
là tác phẩm văn xuôi.
Trong tiết tự chọn ở kì I, tôi cho học sinh xem chùm ảnh đẹp về biển đảo, về
quê hương và thắng cảnh trên khắp mọi miền đất nước. Sau đó, tôi hướng các em
thảo luận những câu hỏi liên quan đến bài học.
Ví như: Qua chùm ảnh về quê hương đất nước em cảm nhận về đất nước
mình như thế nào? Tình cảm của em đối với đất nước ra sao? Để từ đó dẫn dắt học
sinh vào khái quát cái hay, cái đẹp về nội dung và nghệ thuật của bài thơ Sóng
(Xuân Quỳnh) và đoạn trích Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm).
Đối với tiết tự chọn ở kì II, tôi cho học sinh xem các trích đoạn phim tư liệu
về chiến tranh như Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, Nhật kí Đặng Thùy Trâm
[Nguồn clip trích đoạn Những đứa con trong
gia đình [Nguồn dài gần 11phút do các em học
sinh lớp 12A9 trường THPT Trần Nguyên Hãn, Hải Phòng viết kịch bản và thủ vai.
Việc cung cấp các tư liệu này cho học sinh nhằm khơi dậy lòng yêu nước và tự hào
dân tộc; giúp các em nhận rõ ý thức trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất

25 (73,5%)

9 (26,5%)

0

0

12C

37

20 (54,1%)

10 (27%)

7 (18,9%)

0

12D

37

12 (32,5%)

16 (43,2%)

9 (24,3%)


80 (44,2%)

76 (42%)

25 (13,8%)

0

2.4.2. Nhận xét chung
Từ thực tiễn dạy học tôi nhận thấy:
- Một số học sinh đầu năm còn đọc kém qua đầu học kì 2 năm đã đọc
thành thạo văn bản và tự tóm tắt được tác phẩm văn xuôi, học thuộc lòng bài
thơ, đoạn thơ.
- Học sinh yêu thích văn học chiến tranh hơn và chủ động mượn tư liệu trong
thư viện về để tìm hiểu thêm.
- Nhiều em phát huy được tính sáng tạo khi làm bài kiểm tra và đạt điểm cao.
- Một số em có năng lực cảm thụ thơ văn tốt.
- Đa số học sinh tích cực tham gia thảo luận trong tiết học tự chọn về
chủ đề chiến tranh.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Tìm ra những đặc trưng của văn học thời kháng chiến chống Mĩ về cả hai
mặt nội dung và nghệ thuật trên cơ sở đó tìm ra những biện pháp dạy học có hiệu
quả cho từng tác phẩm trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 12. Tức là xác
định được những hoạt động của thầy và trò trong giờ học từng tác phẩm. Để những
bài thơ đó tác động tới thế hệ trẻ ngày nay, khiến thế hệ trẻ có được sự hiểu biết đầy
đủ và lòng tự hào về lịch sử dân tộc thời kì này.
Cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc ta đi qua hơn 40 năm, dù là quá khứ
chưa xa nhưng thế hệ trẻ ngày nay bao gồm cả giáo viên và học sinh không phải đã
có những hiểu biết đầy đủ về sự hi sinh, mất mát đớn đau và những chiến công hào

môn Ngữ văn nói chung, Văn học thời kì kháng chiến chống Mĩ nói riêng.
Trên đây là một số kinh nghiệm có thể áp dụng để nhằm nâng cao chất lượng
dạy học các tác phẩm văn học chống Mĩ trong chương trình Ngữ văn 12. Tuy nhiên
chỉ là những ý kiến cá nhân được rút ra từ quá trình giảng dạy ở trường THPT
Mường Lát. Trong thực tế còn có rất nhiều các kinh nghiệm từ các đồng nghiệp.
Rất mong sự đóng góp của các quý thầy cô!

15


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Hà Minh Đức (1988), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
[2]. Nhiều tác giả (1996), 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám,
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
[3]. Nhiều tác giả, (2007), Những nhà thơ Việt Nam thời kì chống Mĩ, Nxb Kim
Đồng, Hà Nội.
[4]. Phan Trọng Luận (2008), Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 1-2 (cơ bản), Nxb
Giáo dục.
[5]. Phan Trọng Luận (2008), Sách giáo viên ngữ văn 12, Nxb Giáo dục.
[6]. Phan Trọng Luận (2008), Thiết kế bài học Ngữ văn 12, Nxb Giáo dục.
[7]. Nguyễn Kim Phong (2008), Kĩ năng đọc – hiểu văn bản 12, Nxb Giáo dục.
[8]. Sử dụng nhiều nguồn tư liệu trên mạng Internet.
[Nguồn />
16


PHỤ LỤC 1
Tranh ảnh phục vụ dạy bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

Tranh ảnh hỗ trợ dạy đoạn trích Đất Nước (Trích “Trường ca mặt đường khát

A. Cùng căm thù giặc, chiến đấu dũng cảm
B. Cùng vô tư hồn nhiên, hiếu thắng
C. Cùng gánh vác đảm đang chuyện gia đình
D. Cùng một nét giống mẹ như đúc
=> Đáp án A
Câu 4: Nội dung chính của Sóng là gì?
A. Lời thổ lộ tình yêu thiết tha, say đắm
B. Lời triết lí suy tư về tình yêu và hạnh phúc
C. Lời ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên bất tận
D. Lời tự bạch của một tâm hồn người phụ nữ đang yêu
=> Đáp án D
Câu 5: Trong trường ca Mặt đường khát vọng, đoạn trích Đất nước có vị trí
nào?
A. Mở đầu cho sự nhận thức về con đường đến với sự nghiệp lớn của nhân dân.
B. Diễn đạt sự chuyển biến trong nhận thức: Từ chỗ nhận diện được bộ mặt thật
của quân xâm lược tiến đến nhận ra nhân dân, đất nước.
C. Thể hiện nhận thức có tính quyết định về đất nước, nhân dân để từ đó đi đến
hành động.
D. Từ nhận thức biến thành hành động hòa vào dòng thác cách mạng tiến đến ngày
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
=> Đáp án C

19


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ:

LỜI CAM ĐOAN:
Tôi xin cam đoan đây là skkn của mình

2.3.4. Sử dụng tiết dạy tự chọn một cách hiệu quả …………………………… 13
2.4. Kết quả thu được …………………………………………………………… 13
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ………………………………………………. 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status