Nghiên cứu khả năng kháng vi khuẩn gram dương của nano bạc - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

NGUYỄN THỊ TÁM

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KHÁNG VI KHUẨN
GRAM DƯƠNG CỦA NANO BẠC”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Lớp
Khóa học
Giảng viên hướng dẫn

: Chính quy
: Công nghệ thực phẩm
: CNSH - CNTP
: K42 - CNTP
: 2010 - 2014
: 1. Th.S Nguyễn Thị Đoàn
2. Th.S Lương Hùng Tiến

Thái Nguyên, năm 2014




DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số nguyên tử bạc trong một đơn vị thể tích [13].............................. 6
Bảng 2.2. Số nguyên tử và năng lượng bề mặt của hạt nano bạc ................... 11
Bảng 2.3 . So sánh độc giữa hai loại độc tố A và B [12]. ............................... 20
Bảng 4.1. Một số đặc điểm của vi khuẩn nghiên cứu ..................................... 38
Bảng 4.2. Phương pháp xác định hoạt tính kháng khuẩn ............................... 41
Bảng 4.3a. Khả năng kháng S. aureus của nano bạc ...................................... 43
Bảng 4.3b. Khả năng kháng B. cereus của nano bạc ở các nồng độ............... 44
Bảng 4.4. Nồng độ ức chế tối thiểu của nano bạc đối với S. aureus và B. cereus ....... 44


DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Ion bạc vô hiệu hóa enzym chuyển hóa oxy của vi khuẩn ............. 12
Hình 2.2. Ứng dụng của nano bạc vào khẩu trang y tế và kem trị bỏng......... 14
Hình 2.3. Ứng dụng của nano vào các thiết bị và dụng cụ ............................. 14
Hình 2.4. Ứng dụng của nano bạc vào sơn và xử lý nước thải ....................... 15
Hình 2.5. Tất làm bằng sợi nilon có pha nano bạc.......................................... 16
Hình 2.6. Vi khuẩn B. cereus .......................................................................... 18
Hình 2.7. Vi khuẩn S. aureus .......................................................................... 22
Hình 3.1. Sơ đồ phương pháp nhỏ dịch kháng khuẩn lên bề mặt thạch. ........ 32
Hình 3.2. Sơ đồ phương pháp sử dụng đĩa giấy.............................................. 33
Hình 3.3. Sơ đồ phương pháp sử đục lỗ thạch. ............................................... 34
Hình 3.4.Sơ đồ phương pháp đối kháng trong dịch nuôi cấy lỏng. ................ 35
Hình 4.1a.Hình thái khuẩn lạc của vi khuẩn S. aureus .................................. 37
Hình 4.1b.Hình thái khuẩn lạc của vi khuẩn B. cereus ................................... 37
Hình 4.2a. Xác định khả năng kháng S. aureus của nano bạc bằng các phương
pháp khác nhau. .............................................................................. 39
Hình 4.2b. Xác định khả năng kháng B. cereus của nano bạc bằng các
phương pháp khác nhau. ................................................................. 40

3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 31
3.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 31
3.4.1. Phương pháp xác định một số đặc điểm của vi khuẩn nghiên cứu 31
3.4.2. Phương pháp xác định khả năng kháng khuẩn gram dương của
nano bạc .................................................................................................... 32
3.4.3. Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) cuả nano bạc đối với vi
sinh vật ..................................................................................................... 35


3.4.4. Theo dõi khả năng kháng vi sinh vật của nano bạc theo thời gian 36
3.4.5. Phương pháp bảo quản giống vi sinh vật ....................................... 36
3.4.6. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu .......................................... 36
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................ 37
4.1. Xác định một số đặc điểm của vi khuẩn nghiên cứu .......................... 37
4.2. Lựa chọn phương pháp thích hợp để xác định khả năng kháng vi khuẩn
B. cereus và vi khuẩn S. aureus ................................................................... 38
4.3. Xác định nồng độ ức chế tối thiểu của nano bạc đối với vi khuẩn S.
aureus và vi khuẩn B. cereus ....................................................................... 42
4.4. Khả năng kháng S. aureus và B. cereus của nano bạc theo thời gian. . 45
4.4.1. Khả năng kháng B. cereus của nano bạc theo thời gian. .............. 45
4.4.2. Khả năng kháng S. aureus của nano bạc. ....................................... 46
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................... 47
5.1. Kết luận ................................................................................................. 47
5.2. Đề nghị.................................................................................................. 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 48


DANH MỤC VÀ KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Tên đầy đủ

Staphylococcus aureus

S. aureus

TSA

Trypticase Soya Aga

TSB

Trypticase Soya Broth

VP

Voges Proskauer


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay, nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm đang là một trong
những vấn đề cấp thiết nóng bỏng mang tính thời sự, thu hút được sự quan
tâm rất lớn từ các nhà quản lý thực phẩm cũng như người dân. Theo thống kê
của tổ chức Y tế Thế giới (Word Health Organization – WHO) mỗi năm Việt
Nam có khoảng 8 triệu người bị ngộ độc thực phẩm hoặc lên quan đến thực
phẩm với 100-200 ca tử vong [15]. Vi khuẩn, hóa chất, kim loại nặng, ký sinh
trùng, vi nấm và virus là nguyên nhân chủ yếu của các vụ ngộ độc thực phẩm
,cũng như các bệnh liên quan đến thực phẩm. Nguyên nhân hàng đầu là do sự

khuẩn kháng kháng sinh ngày càng phổ biến như ngày nay. Một số các nghiên
cứu đã cho thấy, tất cả vi khuẩn sử dụng enzyme như một lớp “phổi hóa học”
để chuyển hóa oxy. Các ion bạc phân hủy enzyme và ngăn chặn quá trình hút
oxy. Tác động này làm chết tất cả các vi khuẩn, tiêu diệt chúng trong vòng vài
phút. Ngoài ra, các hạt bạc có kích thước nhỏ chui vào trong tế bào, kết hợp
với các enzyme hay DNA có chứa nhóm sunfua hoặc phosphate gây bất hoạt
enzyme hay DNA dẫn đến gây chết tế bào [11]. Chính vì vậy công nghệ nano
bạc được rất nhiều trong các lĩnh vực như: sức khỏe –y tế, năng lượng và môi
trường, công nghệ hóa học, công nghệ thực . Do nhận thức được tầm vai trò
quan trọng của nano bạc trong lĩnh vực thực phẩm, nâng cao chất lượng vệ
sinh an toàn thực phẩm tôi đã tiến hành nghiên cứu luận văn với đề tài:
“Nghiên cứu khả năng kháng vi khuẩn gram dương của nano bạc”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được khả năng kháng khuẩn gram dương của nano bạc.
1.3. Mục đích nghiên cứu
- Xác định được một số đặc điểm của vi sinh vật nghiên cứu.
- Lựa chọn được phương pháp thích hợp để xác định khả năng kháng vi
khuẩn gram dương của nano bạc.
- Xác định được nồng độ ức chế tối thiểu của nano bạc đối với vi khuẩn
gram dương.
- Xác định được khả năng kháng vi khuẩn gram dương của nano bạc
theo thời gian.
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
- Đưa ra cơ chế kháng S. aureus của chế phẩm nano bạc.
- Đưa ra nồng độ của nano bạc để ức chế S. aureus.
- Đưa ra cơ chế kháng B. cereus của chế phẩm nano bạc.
- Đưa ra nồng độ của nano bạc để ức chế B. cereus.



Khác với vật liệu khối, khi ở kích thước nano thì các tính chất lượng tử
được thể hiện rất rõ ràng. Vì vậy khi nghiên cứu vật liệu nano chúng ta cần
tính tới các thăng giáng ngẫu nhiên. Càng ở kích thước nhỏ thì các tính chất
lượng tử càng thể hiện một cách rõ ràng hơn. Ví dụ một chấm lượng tử có thể
được coi như một đại nguyên tử, nó có các mức năng lượng giống như một
nguyên tử [2].
b. Hiệu ứng bề mặt
Cùng một khối lượng nhưng khi ở kích thước nano chúng có diện tích bề
mặt lớn hơn rất nhiều so với khi chúng ở dạng khối. Điều này, có ý nghĩa rất
quan trọng trong các ứng dụng của vật liệu nano có liên quan tới khả năng
tiếp xúc bề mặt của vật liệu, như trong các ứng dụng vật liệu nano làm chất
diệt khuẩn. Đây là một tính chất quan trọng làm nên sự khác biệt của vật liệu
có kích thước nanomet so với vật liệu ở dạng khối [2].


5

c. Kích thước tới hạn
Kích thước tới hạn là kích thước mà ở đó vật giữ nguyên các tính chất về
vật lý, hóa học khi ở dạng khối. Nếu kích thước vật liệu mà nhỏ hơn kích
thước này thì tính chất của nó hoàn toàn bị thay đổi. Nếu ta giảm kích thước
của vật liệu đến kích cỡ nhỏ hơn bước sóng của vùng ánh sáng thấy được
(400 - 700 nm), theo Mie hiện tượng "cộng hưởng plasmon bề mặt" xảy ra và
ánh sáng quan sát được sẽ thay đổi phụ thuộc vào bước sóng ánh sáng xảy ra
hiện tượng cộng hưởng. Hay như tính dẫn điện của vật liệu khi tới kích thước
tới hạn thì không tuân theo định luật Ohm nữa. Mà lúc này điện trở của chúng
sẽ tuân theo các quy tắc lượng tử. Mỗi vật liệu đều có những kích thước tới
hạn khác nhau và bạn thân trong một vật liệu cũng có nhiều kích thước tới
hạn ứng với các tính chất khác nhau của chúng. Bởi vậy khi nghiên cứu vật
liệu nano chúng ta cần xác định rõ tính chất sẽ nghiên cứu là gì. Chính nhờ


Số nguyên tử chứa
trong đó
31
3900
250000

Bạc nano là vật liệu có diện tích bề mặt riêng lớn, có những đặc tính độc
đáo sau [13] :
+ Tính khử khuẩn, chống nấm, khử mùi, có khả năng phát xạ tia hồng
ngoại đi xa, chống tĩnh.
+ Không có hại cho sức khỏe con người với liều lượng tương đối cao.
+ Có khả năng phân tán ổn định trong các loại dung môi khác nhau
(trong các dung môi phân cực như nước và trong các dung môi không phân
cực như benzene, toluene).
+ Độ bền hóa học cao, không bị biến đổi dưới tác dụng của ánh sáng và
các tác nhân oxy hóa khử thông thường.
+ Chi phí cho quá trình sản xuất thấp.
+ Ổn định ở nhiệt độ cao.
2.1.2.2 . Các phương pháp chế tạo nano bạc
Có 2 phương pháp để điều chế hạt nano kim loại bạc: Phương pháp từ
dưới lên và phương pháp từ trên xuống. Phương pháp từ dưới lên “bottomup” là phương pháp tạo hạt nano từ các nguyên tử hoặc ion kết hợp lại với
nhau. Phương pháp từ trên xuống “top-down” là phương pháp tạo các hạt
nano từ vật liệu khối ban đầu. Đối với hạt nano bạc, người ta thường điều chế
bằng phương pháp từ dưới lên. Nguyên tắc là khử ion Ag+ thành Ag. Các ion
này sau đó liên kết với nhau tạo thành hạt nano và các hạt nano này sẽ được
bọc bởi các chất ổn định như PVP, PVE, chitosan… Các phương pháp từ trên
xuống ít được sử dụng vì nano bạc chế tạo bằng phương pháp này thường có
kích thước hạt lớn và không đồng đều. Hiện nay các vật liệu kim loại nano
như vàng (Au), Sắt (Fe), đồng (Cu), bạc (Ag) dưới dạng bột hay dung dịch

+ Cơ chế của quá trình khử hóa học:
Phương pháp khử hóa học là dùng các tác nhân hóa học để khử ion bạc
thành bạc kim loại. Thông thường, phản ứng được thực hiện trong dung dịch
lỏng nên còn gọi là phản ứng hóa ướt.
Ag+ + e- → Ag0
Thông thường, nguồn cung cấp ion Ag+ là các muối của bạc như AgNO3.
Các tác nhân khử thường dùng là: natri bohydrua, focmandehyt, xitrat, etylen
glyxerol, NaBH4, ethanol,…. Gần đây có một số công trình nghiên cứu chế
tạo keo nano bạc và bột nano bạc từ bạc nitrat nhưng sản phẩm trung gian là


8

oxit bạc (Ag2O) rồi từ Ag2O tiếp tục khử về Ag0 nhằm thu được keo bạc có
nồng độ cao. Để các hạt nano bạc phân tán tốt trong dung môi mà không bị
kết tụ thành đám, người ta bao phủ hạt nano bạc bằng một lớp polyme, điều
này giúp cho các hạt được bảo vệ tốt hơn tránh hiện tượng kết tủa, hơn nữa
phương pháp này có thể làm cho bề mặt hạt nano có tính chất cần thiết [6].
+ Các tác nhân khử:
Tác nhân khử Sodium citrate “C6H5O7Na3’’ Trong quá trình khử, bề mặt
của hạt nano bạc hấp thụ các ion Ag+ tạo ra lớp ion dương trên bề mặt. Tiếp
đó các ion âm citrate có nghiệm vụ bám xung quanh các hạt nano bằng lực
hút tĩnh điện ngăn không cho chúng kết hợp lại với nhau. Nhờ vậy mà bề mặt
của hạt nano bạc có một lớp keo citrate giúp chúng lơ lửng và phân tán đều
trong dung dịch. Citrate trong quá trình vừa đóng vai trò làm tác nhân khử ion
Ag+ để tạo thành hạt nano bạc, vừa đóng vai trò làm chất ổn định cho hạt
nano bạc.
Tác nhân khử NaBH4 khác với phương pháp sử dụng Sodium citrate, ở
phương pháp này sau khi kết thúc phản ứng khử, người ta sử dụng các polyme
như PVP, PVA, PEG, Chitosan…, làm tác nhân ổn định. Các polyme này bao

âm. Một khi lỗ hổng đã phát triển quá mức, ngay cả trong trường hợp cường độ
siêu âm thấp hay cao, nó sẽ không thể hấp thụ năng lượng siêu âm một cách có
hiệu quả được nữa. Và khi không có năng lượng tiếp ứng, lỗ hổng không thể tồn
tại lâu được. Chất lỏng ở xung quanh sẽ đổ vào và lỗ hổng bị suy sụp. Sự suy
sụp của lỗ hổng tạo ra một môi trường đặc biệt cho các phản ứng hoá học - các
điểm nóng (hot spot). Hóa siêu âm được ứng dụng để chế tạo rất nhiều loại vật
liệu nano như vật liệu nano xốp, nano dạng lỏng, hạt nano, ống nano [26].
2.1.4.3 Các tính chất của nano bạc
Hạt nano bạc có hai tính chất khác biệt so với vật liệu khối đó là hiệu
ứng bề mặt và hiệu ứng kích thước. Tuy nhiên, do đặc điểm hạt nano bạc có
tính kim loại, tức là mật độ điện tử tự do lớn thì các tính chất thể hiện có
những đặc trưng riêng khác với các hạt không có mật độ điện tử tự do cao.
a . Tính chất quang học
Tính chất quang học của hạt nano bạc trộn trong thủy tinh làm cho các
sản phẩm từ thủy tinh có màu sắc khác nhau đã được người La Mã sử dụng từ
hàng ngàn năm trước. Các hiện tượng đó bắt nguồn từ hiện tượng cộng hưởng
Plasmon bề măt do điện tử tự do trong hạt nano bạc hấp thụ ánh sáng chiểu
vào. Kim loại có nhiều điện tử tự do các điện tử tự do này sẽ dao động dưới
tác dụng của từ trường bên ngoài như ánh sáng. Thông thường các dao động
bị dập tắt nhanh chóng bởi các sai hỏng mạng hay bởi chính các nút mạng
tinh thể trong kim loại khi quãng đường tự do trung bình của điện tử nhỏ hơn


10

kích thước. Nhưng khi kích thước của kim loại nhỏ hơn quãng đường tự do
trung bình thì hiện tượng dập tắt không còn nữa mà điện tử sẽ dao động cộng
hưởng với ánh sáng kích thích. Do vậy tính chất quan của hạt nano bạc có
được sự dao động tập thể của các điện tử dẫn đến từ quá trình tương tác với
bức xạ sóng điện từ. Khi dao động như vậy các điện tử sẽ phân bố lại trong

thái khác hơn . Như vậy , nếu kích thích của hạt nano bạc giảm, nhiệt độ nóng
chảy sẽ giảm.
d. Hiệu ứng bề mặt
Khi hạt bạc có kích thước nanomet, các số nguyên tử nằm trên bề mặt sẽ
chiếm tỉ phần đáng kể so với tổng số nguyên tử. Chính vì vậy các hiệu ứng có
liên quan đến bề mặt, gọi tắt là hiệu ứng bề mặt sẽ trở nên quan trọng làm cho
tính chất của vật liệu có kích thước nm khác biệt so với vật liệu bạc ở dạng khối.
Sự tăng cường khả năng diệt khuẩn bạc là một ví dụ của hiệu ứng bề mặt.
Hiệu ứng bề mặt luôn có tác dụng với tất cả các giá trị của kích thước,
hạt càng bé thì hiệu ứng càng lớn và ngược lại. Vật liệu ở bất cứ kích thước
nào cũng có hiệu ứng bề mặt, ngay cả vật liệu khối truyền thống cũng có hiệu
ứng bề mặt, chỉ có điều hiệu ứng này nhỏ thường bị bỏ qua [6].
Bảng 2.2. Số nguyên tử và năng lượng bề mặt của hạt nano bạc
Đường kính hạt nano (nm)
Số nguyên tử
Tỉ số nguyên tử bề mặt (%)

10

5

2

1

30.000

4.000

250

được hiểu biết rõ ràng. Có giả thiết cho rằng sự tương tác mạnh của ion Ag+
với peptidoglican, thành phần cấu tạo nên thành tế bào của vi khuẩn và ức
chế khả năng vận chuyển oxy vào bên trong tế bào dẫn đến làm tê liệt vi
khuẩn. Sau đó sẽ đi vào bên trong tế bào vi khuẩn tác động lên S và P, chìa


12

khóa cho khả năng diệt khuẩn của nó [20, 21]. Vì S và P xuất hiện nhiều trong
màng tế bào nên khi hạt nano bạc tương tác với S chứa trong protein bên
trong hoặc bên ngoài màng tế bào thì có thể biến đổi chức năng của tế bào.
Đồng thời các hạt bạc có kích thước nhỏ chui vào trong tế bào, kết hợp với
các enzym hay DNA có chứa nhóm sunfuahydrin – SH hặc phốt phát gây bất
hoạt enzym hay DNA dẫn đến gấy chết tế bào [22].

Hình 2.1. Ion bạc vô hiệu hóa enzym chuyển hóa oxy của vi khuẩn
- Ưu điểm của nano bạc so với thuốc kháng sinh : Nano bạc giết chết vi
khuẩn ngay lập tức bằng hai cơ chế làm biến chất và oxi hóa. Vì vậy vi khuẩn
không có khả năng kháng lại bạc. Các tế bào của con người ở dạng mô nên
không bị ảnh hưởng bởi quá trình này. Không như các thuốc kháng sinh bị
hấp thụ trong quá trình diệt khuẩn, nano bạc hoạt động như chất xúc tác mà
không bị hấp thụ. Một tính chất khác giúp nano bạc tăng cường hiệu quả
trong cơ thể người là do nó ở dạng hạt nhỏ kim lọai khác với ion bạc thường
bị chuyển thành clorua bạc trong bao tử hay trong mạch máu. Clorua bạc tan
rất ít và kém hiệu quả hơn nhiều so với bạc kim loại hay ion bạc. Chỉ có bạc
kim loại mới có thể sống được với HCl trong bao tử mà vẫn giữ được các hoạt
tính trong các mạch máu và mô cơ thể . Điều này rất có ý nghĩa vì theo EPA
(Environmental Proection Agency- Cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ), một
người chỉ có thể dùng 350µcg/ liều dùng mỗi ngày, nếu nhiều hơn sẽ bị trúng
độc. Nếu dùng 1-2 muỗng cà phê / ngày (20ppm) tương đương với 100200µcg/ ngày (Thấp hơn so với khuyến cáo của EPA về lượng bạc cung cấp

và tránh kết tủa.
2.1.2.5 Ứng dụng của nano bạc
a.Trong y tế, mỹ phẩm :
Bạc đã được sử dụng khá thành công trong chiến tranh thế giới thứ nhất
để ngăn ngừa sự truyền nhiêm trước khi có kháng sinh. Dung dịch bạc nitrat
được dùng như dung dịch chuẩn để bôi những vết bỏng nặng và sau này được
thay thế bằng kem silver sulfadiazine (SSD Cream) mãi đến những năm cuối
thập kỷ 90. Hiện nay, gạc phủ bạc hoạt hóa, được dùng kém với kem SSD và
tác dụng giảm đau và thuận lợi trong việc điều trị tại gia. Việc phổ biến sử
dụng bạc trong điều trị đã giảm hẳn vì sự phát triển của nhiều loại thuốc
kháng sinh hiện đại. Tuy nhiên gần đây, bạc lại được tái quan tâm vì có phổ
sát khuẩn rộng . Đặc biệt khi nó được sử dụng chung với alginate, một loại
polymer sinh học tự nhiên chiết xuất từ rong biển. Một số sản phẩm bạc


14

alginate được điều chế nhằm ngăn ngừa việc nhiếm khuẩn trong quá trình
điều trị vết thương, đặc biệt là đối với bện nhân phỏng.
Ngày nay nano bạc còn được ứng dụng rất nhiều trong các sản phẩm y
tế ví dụ như : Găng tay kháng khuẩn, khẩu trang kháng khuẩn, các loại vải
kháng khuẩn trong bệnh viện.

Hình 2.2. Ứng dụng của nano bạc vào khẩu trang y tế và kem trị bỏng
b.Vật dụng, trang thiết bị
Năm 2007, công ty AGC Flat Glass Europe (Canada) giới thiệu loại
thủy tinh sát khuẩn đầu tiên để đối phó với nạn nhiễm khuẩn trong bệnh viện.
Loại thủy tinh này được phủ một lớp bạc mỏng. Hơn nữa, Sam Sung đưa ra
loại máy giặt có lần xả cuối cùng chứa ion bạc để giúp áo quần kháng khuẩn
trong nhiều ngày. Kohler đã giới thiệu một dòng sản phẩm bồn cầu có phủ ion



16

Hình 2.5. Tất làm bằng sợi nilon có pha nano bạc
2.2 Tổng quan về vi khuẩn Gram dương
2.2.1 Khái quát chung
Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào, có cấu trúc tế bào đơn giản không
có màng nhân (Prokaryote – sinh vật nhân sơ). Vi khuẩn hiện diện ở khắp mọi
nơi trong đất, nước, không khí, kể cả những nơi có điều kiện sống khắc nghiệt
như trên miệng núi lửa hay trên băng tuyết... Có rất nhiều chủng vi khuẩn, và
mỗi chủng vi khuẩn đều có sự khác nhau về đặc tính và hình thái.
Vi khuẩn có nhiều hình dáng khác nhau và được gọi với tên gọi theo
hình dạng của chúng như trực khuẩn (Bacillus), hình cầu, xoắn khuẩn
(spirillum), hình que, cầu khuẩn (coccus)… hình dáng vi khuẩn là một đặc
điểm quan trọng để nhận dạng các chi được đặt tên theo hình dạng.
Vi khuẩn có lợi hoặc có hại cho môi trường, thực vật, động vật và con người.
Một só tác nhân gây bệnh như bệnh uốn ván (tetanus), sốt thương hàn (typhoid
fover), giang mai (syphilis), tả (cholera), lao (tuberculosis)…
Gram là tên của nhà vi khuẩn học người Đan Mạch Hans Christian Gram
(1853- 1938). Ông phát minh ra phương pháp nhuộm Gram từ đầu năm 1884.
Nhờ phương pháp này có thể phân biệt vi khuẩn thành hai nhóm lớn : Vi
khuẩn Gram dương (Gram- positive) và vi khuẩn Gram âm (Gram –
negative). Đây là phương pháp nhuộm màu phổ biến đến nay vẫn còn được sử
dụng. Để nhớ ơn đến Christian Gram nên người ta đặt tên của phương pháp
nhuộm màu này là nhuộm Gram.


17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status