Đề cương ôn tập môn học tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH - Pdf 35

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh ( Cơ sở khách quan)
a. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
 Bối cảnh thời đại
- Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển
sang giai đoạn độc quyền đã xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế
giới. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa.
- Thắng lợi cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã làm “thức tỉnh các dân tộc Châu
Á”. Cách mạng Tháng Mười Nga đã lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền Xô
Viết, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người, mở ra con đường giải phóng cho
các dân tộc thuộc địa.
- Tháng 3 năm 1919 Quốc tế cộng sản (Quốc tế thứ 3) ra đời, chủ trương đoàn kết
phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa Phương Tây và phong trào giải
phóng thuộc địa phương Đông trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa
đế quốc.
 Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối Tk XIX đầu Tk XX
- Năm 1858, trước sự xâm lược của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn lần lượt ký
kết các hiệp ước đầu hàng, Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.
- Cho đến cuối thế kỷ XIX, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, các phong trào đấu
tranh của nhân dân nổ ra và lan rộng khắp cả nước. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới
khẩu hiệu “Cần Vương” do các sĩ phu, văn thân lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại. Hệ
tư tưởng phong kiến đã tỏ ra lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch sử.
- Sang đầu thế kỷ XX, dưới chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội
nước ta có sự chuyển biến và phân hóa mạnh mẽ. Do ảnh hưởng của “Tân thư” ở
Trung Quốc và trào lưu cải cách ở Nhật Bản, phong trào yêu nước của nhân dân ta
chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản. Đại biểu là Phan Bội Châu và Phan Chu
Trinh, với phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy tân… nhưng tất cả đều bị
dập tắt do chưa có hướng đi đúng. Hệ tư tưởng tư sản cũng không lãnh đạo được
phong trào chống Pháp.
- Trước sự khủng hoảng sâu sắc về đường lối, sứ mệnh lịch sử đặt ra cho cả dân tộc
Việt Nam là phải tìm con đường cứu nước đúng đắn. Phong trào yêu nước của nhân

mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước ”
 Tinh hoa văn hóa nhân loại
Văn hóa phương Đông: Hồ Chí Minh tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo. Đó là
các triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời; đó là ước vọng về một
xã hội bình trị, hòa mục, hòa đồng; là triết lý nhân sinh, tu thân dưỡng tính; đề cao
văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học.
Văn hóa phương Tây: Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tiếp thu những tư tưởng tiến
bộ của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây; những giá trị của bản Tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền của Đại cách mạng Pháp và các giá trị về quyền sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập Mỹ.
Hồ Chí Minh còn tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, nếp
sống có đạo đức, bình đẳng, dân chủ, đề cao lao động, chống lười biếng… của Phật
giáo. Ngoài ra, Người còn tiếp thu tư tưởng của Lão Tử, Mạc Tử, chủ nghĩa Tam dân
của Tôn Trung Sơn.
 Chủ nghĩa Mác – Lênin
Trước sự khủng hoảng về đường lối cứu nước của dân tộc, xuất phát từ lòng yêu
nước, Nguyễn Tất Thành quyết định rời quê hương ra đi tìm đường cứu nước. Thực
tiễn trong gần 10 năm tìm tòi, khảo nghiệm, nhất là sau khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất
những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin (7/1920)
Nguyễn Ái Quốc đã: “cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng,…vui mừng đến phát
khóc…” vì đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc. Như vậy, chính Luận cương
của Lênin đã nâng cao nhận thức của Hồ Chí Minh về con đường giải phóng.
Hồ Chí Minh coi việc tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin trước hết phải nắm vững
phương pháp biện chứng; phải vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của
chủ nghĩa Mác- Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam.
2


-


mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kì
thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Do
đó, Người không theo con đường cách mạng tư sản.
c. Con đường giải phóng dân tộc.
Hồ Chí Minh viết: “ Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân
tộc cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của
cách mạng thế giới”.
Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà cách mạng có xu
hướng tư sản đương thời, HCM đã đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác
– Lênin và lựa chọn khuynh hướng chính trị vô sản. Người khẳng định: “ Muốn cứu
nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô
sản”.

Câu 3: Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có
khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
- Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền (đế quốc chủ nghĩa), nền kinh
tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Đó là nguyên nhân
sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa.
- Từ đó Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “ Tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản đế quốc
đều lấy ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà
máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ nhân công rẻ mạt cho đạo quân lao động
của nó, và nhất là tuyển những binh lính bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng
của nó”.
- Nhận ra được điều này, Hồ Chí Minh kêu gọi: “ Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ
trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho
một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái
cánh của cách mạng vô sản”.
4



- Trong tác phẩm Thường thức chính trị viết năm 1953, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ở nước ta
chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ ... Nhân dân là ông chủ nắm chính
quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”.
- Dân chủ là “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.
Dân chủ ở nước ta là dân chủ gián tiếp theo hình thức đại diện.
1. Nhà nước của dân
- Quan điểm nhất quán của HCM là xác lập tất cả mọi quyền lực trong nhà nước và trong
xã hội đều thuộc thuộc về nhân dân.Quan điểm trên được thể hiện qua hai bản Hiến pháp
mà Người đã lãnh đạo soạn thảo trong 24 năm làm Chủ tịch nước là Hiến pháp 1946 và
Hiến pháp 1959.
- Nhân dân làm chủ Nhà nước tức là nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước. Nhân dân
có bầu ra các đại biểu, uỷ quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề
5


quan trọng của đất nước; đồng thời, nhân dân cũng có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội
và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín
nhiệm của nhân dân.
- Người cũng nêu lên quan điểm Dân là chủ và dân làm chủ. Dân là chủ có nghĩa là xác
định vị thế của dân, còn dân làm chủ có nghĩa là xác định quyền, nghĩa vụ của dân. Do
đó, nhân dân có vai trò quyết định mọi công việc của đất nước.
Trong nhà nước của dân, người dân được hưỏng mọi quyền dân chủ, có quyền làm bất
cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước của dân
phải bằng mọi nỗ lực, hình thành thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người
dân. Những vị đại diện do dân cử ra chỉ là thừa uỷ quyền của dân, chỉ là công bộc của
dân.
2. Nhà nước do dân
- Nhà nước do dân lập nên, do dân ủng hộ, dân làm chủ.Nhà nước đó do nhân dân lựa
chọn bầu ra, do dân ủng hộ, đóng thuế để hoạt động... Do đó khi cơ quan nhà nước không
đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì nhân dân có quyền bãi miễn nó. Tuy

Câu 5: Sự ra đời của Đảng Cộng Sản VN
1. Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (giống câu 1)
- Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các
nước tư bản đế quốc vừa tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong nước vừa xâm lược
và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa.
- Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý
luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới - thời đại cách mạng chống đế quốc,
thời đại giải phóng dân tộc
- Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) vào tháng 3/1919 đã thúc đẩy sự phát triển
mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
2. Bối cảnh trong nước
* Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược và từng bước thiết lập bộ máy
thống trị ở Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến thành thuộc địa nửa phong kiến.

7


- Về chính trị: Thực dân Pháp tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính
quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam ra thành 3 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ , Nam
Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng, cấu kết với địa chủ.
- Về kinh tế: Thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư
vốn khai thác tài nguyên (mỏ than, mỏ thiết, mỏ kẽm…); xây dựng một số cơ sở công
nghiệp (điện, nước); xây dựng hệ thống đường bộ, đường thuỷ, bến cảng phục vụ cho
chính sách khai thác thuộc địa của nước Pháp.
- Về văn hoá: Thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hoá giáo dục thực dân; dung
túng, duy trì các hủ tục lạc hậu…
* Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam.
- Giai cấp địa chủ Việt Nam : Giai cấp địa chủ chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn
nhưng đã nắm trong tay 50% diện tích ruộng đất. Sự cấu kết giữa giai cấp địa chủ với
thực dân Pháp gia tăng trong quá trình tổ chức cai trị của người Pháp. Tuy nhiên, trong

Chu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc.
+Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại.
- Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự tiếp nối truyền thống
yêu nước, bất khuất của dân tộc ta nhưng do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và
lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. Cách mạng Việt Nam chìm
trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
2. Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
a. Hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam
- Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu
nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì ngày 5/6/1911 người thanh
niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường
cứu nước theo phương hướng mới.
- Năm 1917, Người trở lại nước Pháp, đến Paris và năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội
Pháp.
- Tháng 6/1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới là Nguyễn Ái
Quốc, Người gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Vécxây.
- Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa”
của Lênin và từ tư tưởng đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc
Việt Nam.
- Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành
Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sản
Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

9


- Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn
Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch phương hướng chiến lược cách
mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.


- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương
lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.

Câu 6: Bản chất của Đảng Cộng Sản VN
- Theo quan điểm của Mác, Angghen, Lênin: Đảng cộng sản là đảng của giai cấp
vô sản, đấu tranh đòi quyền lợi cho giai cấp vô sản nước mình và toàn bộ giai cấp vô sản
thế giới.
Đảng bao gồm những phần tử tiên tiến nhất trong giai cấp vô sản, là đội tiền phong, bộ
tham mưu chiến đấu của giai cấp vô sản.
- Nghiên cứu tư tưởng HCM về bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt
Nam chúng ta thấy nhận thức của Người về vấn đề này là nhất quán. Quá trình này được
thể hiện như sau:
+ Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước tư bản đã được Mác và Angghen
khẳng định, còn vấn đề sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa nơi
có số lượng giai cấp công nhân ít,khoa học kỹ thuật thấp, trình độ văn hóa là điều mà
11


HCM hết sức quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu và đã có những kết luận đúng đắn. Qua
nghiên cứu, khoa sát phong trào công nhân ở các nước thuộc địa cũng như ở Việt Nam,
HCM khẳng định: “Ngày nay giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất và duy nhất có thể
đương đầu với đế quốc, thực dân nên là giai cấp duy nhất có thể lãnh đạo cách mạng”.
+ Trong cương lĩnh tháng 2/1930, Hồ Chí Minh viết: “ Đảng là đội tiên phong của giai
cấp vô sản”
+ Đến Đại hội II (2/1951) từ điều kiện lịch sử cụ thể lúc này Người nói: Đảng của giai
cấp công nhân, của nhân dân lao động, chính vì vậy là Đảng của dân tộc Việt Nam.
+ Tháng 2/1951, Bác viết: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và của cả dân tộc là một. Chính vì Đảng là đảng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động cho nên nó phải là Đảng của cả dân tộc Việt Nam”.

thức, …

Câu 7 : Quan niệm về Đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền
a) Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền
- Qua những năm tháng hoạt động thực tiễn, Hồ chí Minh đã tìm thấy con đường cách
mạng ở chủ nghĩa Mác-Lenin và quyết định đi theo con đường của Cách mạng Tháng
Mười vĩ đại.
- Từ những năm 1920 trở đi, Người tích cực chuẩn bị cả 3 mặt : chính trị, tư tưởng và tổ
chức để tiến tới thành lập Đảng.
- Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu một trang mới trong lịch sử dân
tộc ta.
- Trong Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của
đảngcách mạng – nhân tố đầu tiên, quyết định sự thắng lợi của cách mạng
→ Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cách mạng chân chính, mang bản chất của
giai cấp công nhân.
13


b) Quan niệm của Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền
- Khái niệm Đảng cầm quyền :

-









Ý nghĩa cụm từ “đầy tớ trung thành của nhân dân”, theo tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi
mỗi cán bộ, đảng viên phải có tri thức khoa học, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi;
thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng : “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
+ Đảng cầm quyền, dân là chủ :
Theo Hồ Chí Minh, quyền lực phải thuộc về nhân dân. Người đã đề cập xây dựng một
Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Đảng lãnh đạo cách mạng là để thiết lập và củng cố quyền làm
chủ của nhân dân. Dân làm chủ, Đảng lãnh đạo, Đảng phải “lấy dân làm gốc”.
14




-

-

Mặt khác, dân muốn làm chủ thực sự thì phải theo Đảng. Mỗi người dân phải biết lợi ích
và bổn phận của mình tham gia vào xây dựng chính quyền.

Câu 8 : Xây dựng Đảng – Quy luật tồn tại và phát triển của Đảng
Xây dựng Đảng là một nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên để Đảng hoàn thành vai trò chiến
sĩ tiên phong trước giai cấp, dân tộc và nhân dân.
Xây dựng Đảng được Hồ Chí Minh đặt ra như một nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài.
Khi cách mạng gặp khó khăn, xây dựng Đảng để cán bộ, đảng viên củng cố lập trường
quan điểm, bình tĩnh, sang suốt, không tỏ ra bị động, lúng túng, bi quan. Ngay cả khi
cách mạng trên đà thắng lợi cũng cần đến xây dựng Đảng để xây dựng những quan điểm,
tư tưởng cách mạng khoa học, ngăn ngừa chủ quan, tự mãn, lạc quan tếu và rơi vào căn
bệnh “kiêu ngạo cộng sản”-theo cách nói của V.I.Lenin.
Tính tất yếu khách quan của công tác xây dựng Đảng được Hồ Chí Minh lý giải hết sức

cũ, xây dựng xã hội mới nếu biết sử dụng đúng; mặt khác, quyền lực cũng có sức phá
hoại ghê gớm nếu người nắm quyền lực bị tha hoá, biến chất, tham quyền lực, lộng
quyền,…
→ Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc chỉnh đốn, đổi mới để hạn chế, ngăn
chặn, đẩy lùi, tẩy trừ mọi tệ nạn do thoái hoá, biến chất gây nên.
Tóm lại, theo Hồ Chí Minh, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là vấn đề mang tính quy
luật khách quan và là nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân Đảng. Chỉnh đốn và đổi
mới Đảng là nhằm làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững vàng cả về chính trị, tư tưởng
và tổ chức; làm cho đội ngũ cán bộ, Đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất và năng
lực trước yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao, càng phức tạp của nhiệm vụ cách mạng. Đổi
mới và chỉnh đốn Đảng sẽ làm cho Đảng trở thành một khối thống nhất, vững mạnh, đủ
sức lái con thuyền cách mạng ViệtNam vượt qua những khúc quanh đầy thử thách để cập
bến thắng lợi.

16


Câu 9: Quan điểm về vai trò và sức mạnh của đạo đức
• Đạo đức là cái gốc của người cách mạng
HCM là một trong những nhà tư tưởng, một lãnh tụ cách mạng thế giới đã bàn
nhiều về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức. Tư tưởng đạo đức HCM rất sâu sắc, phong
phú, cả về lý luận và thực tiễn, đã trở thành một bộ phận vô giá của văn hóa dân tộc và
nhân loại, một sức mạnh to lớn làm nên mọi thắng lợi của cách mạng VN.
HCM khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc
của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người cho rằng, người cách mạng phải có đạo đức
cách mạng làm nền tảng, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự
nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề.
Người nói, cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân phục thì phải có tư cách, đạo
đức. Đạo đức là gốc, là nền tảng vì liên quan tới Đảng cầm quyền. Người trăn trở với
nguy cơ của Đảng xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng, rơi vào tha hoa biến chất. Vì vậy,

- Hiếu với dân thể hiện ở chỗ thương dân, tin dân, phục vụ nhân dân hết lòng. Phải gần
dân, kính trọng và học tập nhân dân, dựa vào dân là lấy dân làm gốc. Cán bộ lãnh đạo
phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, thường xuyên quan tâm cải thiện dân sinh, nâng
cao dân trí.
• Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
- Cần là siêng năng, chăm chỉ, lao động có kế hoạch, có hiệu quả, có năng suất cao với tinh
thần tự lực cánh sinh.
- Kiệm là tiết kiệm (thời gian, công sức, của cải...) của nước, của dân; không xa xỉ, không
hoang phí, không bừa bãi, không phô trương hình thức, ko liên hoan, chè chén lu bù.
- Liêm là luôn tôn trọng của công và của dân. Trong sạch ko tham lam tiền của địa vị danh
tiếng.
- Chính là thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mình: không tự cao tự đại tự phụ, phải khiêm tốn
học hỏi phát triển cái hay sửa chữa cái dở. Đối với người: không nịnh người trên không
khinh người dưới, thật thà không dối trá. Đối với việc: để việc công lên trên lên trước,
việc thiện nhỏ mấy cũng làm, việc ác nhỏ mấy cũng tránh.
 Các đức tính cần, kiệm, liêm, chính: có quan hệ chặt chẽ với nhau ai cũng phải thực hiện,
song cán bộ đảng viên phải thực hành làm mẫu cho dân; là thước đo sự giàu có về vật
18


chất, vững mạnh về tinh thần, thể hiện sự văn minh, tiến bộ về 1 quốc gia; là nền tảng của
sự đổi mới, của các phong trào thi đua yêu nước.
- Chí công vô tư là công bằng, công tâm, không thiên tư thiên vị; làm việc gì cũng không
nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì dân tộc. Là nêu cao chủ nghĩa tập thể, trừ bỏ
chủ nghĩa cá nhân.
• Thương yêu con người, sống có tình nghĩa
- Yêu thương con người được Hồ Chí Minh xác định là một trong những phẩm chất đạo
đức cao đẹp nhất. Người nói, người cách mạng là người giàu tình cảm, có tình cảm cách
mạng mới đi làm cách mạng. Vì yêu thương con người, yêu thương nhân dân mà chấp
nhận mọi gian khổ, hy sinh để đem lại độc lập, tự do, cơm no áo ấm và hạnh phúc cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status