Hệ thống cơ quan tư pháp của trung quốc - Pdf 35

Thông tin khoa học pháp lý
Viện nghiên cứu khoa học pháp lý

Chuyên đề:
H ờ th ụng c quan t phap c ua Trung Qu ục
Năm 1993

Lời giới thiệu
Dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung quốc, trong những năm gần
đây nhân dân Trung quốc đã đạt đợc một số thành tựu trong nhiều lĩnh vực,
nhất là đã đảm bảo phát triển kinh tế, ổn định về trật tự an toàn xã hội, củng
cố và xây dựng hệ thống các cơ quan t pháp ngày một vững chắc, góp phần
quan trọng vào sự ổn định sự phát triển của nớc nhà.
Để cung cấp thông tin, t liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về xây
dựng Nhà nớc pháp quyền ở Việt Nam, cải cách bộ máy hành chính Nhà nớc,
cải cách hệ thống t pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý tổ chức khai
thác nguồn t liệu hiện có và ra số thông tin chuyên đề về hệ thống các cơ
quan t pháp của Trung quốc. Số chuyên đề này đề cập các vấn đề về đặc
điểm hệ thống cơ quan t pháp; Mối quan hệ giữa các cơ quan trong hệ thống
t pháp; Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân; các cơ quan an ninh, công
an; Quản lý t pháp.
Chúng tôi rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của các độc giả.


hệ thống t pháp Trung Quốc và các cơ quan

Từ khi nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đợc thành lập, sự phát triển
của hệ thống t pháp Trung hoa luôn gắn liền với những thăng trầm của đất nớc. Hệ thống t pháp và các cơ quan của nó đã phát triển nhanh chóng sau
thành quả của cuộc Cách mạng văn hóa, và đặc biệt là sau hội nghị toàn
thể lần thứ 3 đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 11 năm
1978.

chính quyền Nhà nớc.
Hệ thống Quốc hội là nền tảng, trên cơ sở đó các cơ quan Nhà nớc khá
đợc xây dựng. Nh vậy, khác với hệ thống nghị viện phơng tây, Quốc hội ở
Trung hoa thống nhất cả việc lập pháp lẫn hành pháp.


Quyền lực Nhà nớc là thống nhất, nhng có sự phân công trách nhiệm,
công việc giữa các cơ quan của chính quyền dới sự chỉ đạo thống nhất của
quyền lực Nhà nớc, mà ở đây chính là Quốc hội. Đại hội đại biểu nhân dân
toàn quốc của Trung hoa là cơ quan cao nhất của quyền lực Nhà nớc trong
khi tất cả các cơ quan khác nh Hội đồng Nhà nớc (cơ quan hành pháp), Toà
án nhân dân (cơ quan t pháp) và Viện kiểm sát đều do Quốc hội thành lập và
trực tiếp giám sát, các cơ quan này phải chịu trách nhiệm trớc Quốc hội.
Cũng tơng tự nh vậy là mối quan hệ giữa đại hội đại biểu nhân dân các cấp
và các cơ quan t pháp ở địa phơng.
Hệ thống t pháp Trung hoa bao gồm các Toà án, Viện kiểm sát nhân
dân, cơ quan công an, an ninh nhân dân và các cơ quan quản lý Nhà nớc về t
pháp. Toà án nhân dân là các cơ quan Nhà nớc thực thi quyền xét xử và thực
thi một cách độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân là cơ
quan Nhà nớc có trách nhiệm giám sát việc tuân thủ và áp dụng pháp luật.
Các Viện kiểm sát có trách nhiệm phê chuẩn việc bắt ngời, thực thi quyền
công tố, giám sát các hoạt động của Toà án. Viện kiểm sát hoạt động độc lập.
Các cơ quan an ninh là sự mở rộng của các cơ quan công an nhân dân, cơ
quan công an và an ninh có trách nhiệm giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và an
ninh quốc gia, tiến hành điều tra, bắt ngời và thẩm vấn ban đầu đối với các
vụ việc hình sự. Cơ quan t pháp các cấp là bộ phận chức năng của các cấp
chính quyền nhân dân ở địa phơng. Các cơ quan này quản lý các hoạt động t
pháp, bao gồm cả các hoạt động của các nhà tù, trại giam, tại cải huấn, cải
tạo lao động. Ngời đứng đàu các cơ quan nội vụ, an ninh và cơ quan quản lý
t pháp đợc Uỷ ban thờng trực đại hội đại biểu nhân dân các cấp bổ nhiệm

Ví dụ, các Toà án thực hiện quyền xét xử và Viện kiểm sát thực thi
quyền giám sát, về mặt tổ chức là đọc lập với các cơ quan hành chính. Viên
chức của Toà án và Viện kiểm sát đợc bầu, bổ nhiệm hoặc bãi miễn bởi cơ
quan quyền lực Nhà nớc cấp tơng ứng. Trung hoa không áp dụng chế độ
Thẩm phán, kiểm sát viên suốt đời. Các điều tra viên và viên chức cơ quan
quản lý t pháp đợc bổ nhiệm và bĩa nhiệm bởi cơ quan quản lý Nhà nớc.
Viên chức ở Toà án và Viện kiểm sát đợc hởng chế độ lơng bổng, phúc lợi, hu trí giống nh các viên chức Nhà nớc khác.
3. Sự ngăn ngừa ban đầu đối với tội phạm trong hoạt động t pháp
Để duy trì trật tự xã hội và giảm bớt tội phạm, các cơ quan t pháp Trung
hoa thực hiện nguyên tắc ngăn ngừa ban đầu. Trên cơ sở các điều kiện kinh
tế xã hội ở Trung hoa. Một loạt các biện pháp có hiệu quả đã đợc tiến hành
làm giảm các vụ án hình sự và đợc xem nh sự giải quyết toàn diện trật tự
chung của xã hội. Mục đích của giải pháp toàn diện là nhằm thúc đẩy mọi
công dân nỗ lực loại trừ những nguồn gốc của tội phạm, loại trừ những
nguyên nhân kinh tế xã hội có khả năng làm phát sinh tội phạm. Các biện
pháp đặc trng là:
+ Thúc đẩy, động viên các tổ chức quần chúng lao động, thanh thiếu
niên và phụ nữ cũng nh các nhà trờng, cơ sở văn hoá công cộng. Những
thành phần này sẽ phổ biến các kiến thức pháp luật phổ thông trong nhân dân
cùng với các cơ quan t pháp. Họ giáo dục đạo đức cộng sản trong nhân dân,
khuyến khích việc tôn trọng pháp luật, trật tự xã hội và do đó cũng cố nền
văn minh xã hội chủ nghĩa. Đây là nền tảng của việc cũng cố của việc ngăn
ngừa và giảm bớt tội phạm;
+ Thiết lập và nâng cao hệ thống trách nhiệm nhằm duy trì trật tự xã hội
và an ninh công cộng. Tất cả các trờng học, cơ quan nhà nớc, nhà máy, xí
nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác đều đã đa ra một hệ thống trách nhiệm
đối với qn ninh công cộng. Hệ thống này kết hợp chặt chẽ việc duy trì kỷ luật
lao động, trật tự xã hội với việc thực hiện có hiệu quả vai trò, trách nhiệm
của ngời lao động. Điều này làm cho mỗi cá nhân thực sự phải gắn liền với
trật tự, an toàn trong công tác của tập thể đơn vị, tạo điều kiện giảm bớt tỷ lệ

nhất định. Tuy nhiên, trong các vụ án dân sự nếu các đơng sự không có khả
năng thanh toán án phí, thì Toà án có thể sẽ miễn chi phí này.
Thủ tục đó cho phép nhân dân đợc tham gia tranh tụng nhằm bảo vệ
quyền lợi của mình một cách t do, bình đẳng. Hiện nay, các quy định về nội
dung cũng nh về thủ tục trong các luật lệ đều đơn giản, dễ hiểu, tạo điều kiện
cho mọi công dân khi cần thiết tham gia tố tụng, bảo vệ quyền lợi cho họ.
II. Mối quan hệ giữa các cơ quan t pháp Trung hoa
1. Theo Hiến pháp và các Đạo Luật có liên quan, Toà án nhân dân, Viện
kiểm sát nhân dân, các cơ quan an ninh, nội vụ đợc phân chia chức năng hoạt
động và chịu trách nhiệm một cách độc lập. Các cơ quan này hợp tác, hỗ trợ
và giám sát, khống chế lẫn nhau trong quá trình tiến hành các thủ tục tố tụng
nhằm giải quyết các vụ án hình sự. Quá trình này đợc xây dựng nhằm bảo
đảm việc áp dụng, thực thi pháp luật một cách có hiệu quả.
Các Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan an ninh và nội
vụ ở Trung hoa chia trách nhiệm chung trong việc bảo vệ quyền lợi chung
của nhân dân. Các cơ quan này trấn áp kẻ thù của nhân dân, trừng phạt kẻ
phạm tội, bảo vệ đờng lối hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa và củng cố nền
chuyên chính dân chủ của nhân dân (Democvatic dictatorship). Đó là những
mục tiêu cơ bản của hệ thống pháp lý Trung hoa. Hiến pháp và Luật tố tụng
hình sự Trung hoa cũng xác định phạm vi của hệ thống t pháp với sự phân
chia các công tác. Những nghĩa vụ chung và trách nhiệm riêng rẽ phản ánh


mối quan hệ hợp tác với lẫn nhau và kiềm chế lẫn nhau giữa các cơ quan t
pháp, đại diện cho ba mối quan hệ của một chuỗi mắt xích và ba giai
đoạn công tác của một cơ chế không thể thay thế đợc. Trong tố tụng hình
sự, ba giai đoạn: điều tra, kiểm sát, xét xử tơng ứng với ba bớc công việc nói
trên. Nếu các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử liên kết với nhau bằng những
mối quan hệ kiểm tra, giám sát và cân bằng lẫn nhau thì các vụ án sẽ đợc
giải quyết khẩn trơng, hợp pháp và có hiệu quả, đáp ứng đợc những đòi hỏi

hoạt động công ích.
Viện kiểm sát nhân dân là các cơ quan Nhà nớc giám sát việc tuân thủ
và quy định pháp luật, thực thi quyền công tố. Viện kiểm sát thực thi quyền
này một cách độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Theo Luật tố tụng hình sự,
Viện kiểm sát chủ yếu chịu trách nhiệm phê chuẩn việc bắt ngời, tiến hành
các hoạt động kiểm sát kể cả việc trực tiếp điều tra và thực hiện quyền công
tố. Đoạn 2 Điều 13 Luật tố tụng hình sự quy định các vụ án có liên quan đến
tội hối lộ, xâm phạm các quyền công dân, lơ là thiếu trách nhiệm và các vụ


án khác mà Viện kiểm sát thấy cần thiết sẽ do Viện kiểm sát trực tiếp thụ lý
hồ sơ, tiến hành điều tra và quyết định có khởi tố vụ án, khởi tố đơng sợ hay
không.
Ba mức phạm tội đầu tiên đề cập ở trên là những tội phạm do nhân viên
Nhà nớc thực hiện, những ngời này lạm dụng quyền lực của họ hoặc lợi dụng
vị trí công tác để thu lợi bất chính, Cũng giống nh các vụ án khác mà Viện
kiểm sát thấy cần chấp nhận khởi tố, các vụ án này đợc xem xét giải quyết
mà không cần có quy định riêng nào. Các Viện kiểm sát phải tự mình quyết
định giải quyết vụ việc.
Các cơ quan công an nhân dân đợc Nhà nớc trao quyền giữ gìn trật tự
xã hội và an ninh quốc gia. Các cơ quan này là thành phần của hệ thống cơ
quan quản lý Nhà nớc. Theo quy định của pháp luật, các cơ quan công an có
trách nhiệm trớc tiên trong việc điều tra, giam giữ (tạm thời), tiến hành thẩm
vấn ban đầu và trực tiếp bắt ngời trong tố tụng hình sự.
Đoạn 3 của Điều 13 Luật tố tụng hình sự quy định Việc điều tra những vụ án
không thộc diện quy định ở đoạn 1 và 2 (điều này) đều thuộc trách nhiệm của cơ quan
công an tiến hành. Nh vậy, tất cả các vụ án hình sự nào không thuộc diện đợc Toà án
nhân dân thụ lý giải quyết hoặc Viện kiểm sát nhân dân thụ lý và trực tiệp điều tra, sẽ đều
do cơ quan công an tiến hành. Phiên họp đầu tiên của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc
khoá 6 tháng 11 năm 1983 đã quyết định thành lập các cơ quan an ninh quốc gia chuyên

tiếp nhận các đơn th khiếu nại, tố cáo của nhân dân cũng nh việc tự nguyện
khai báo, đầu thú của ngời phạm tội. Khi một trong các cơ quan nói trên
nhận đợc thông tin hoặc lời khiếu nại, tố cáo... về vụ phạm tội nằm ngoài
thẩm quyền giải thích của mình, thì cơ quan đó phải chuyển vụ việc cho cơ
quan có thẩm quyền giải quyết, và phải báo cáo cho ngời khiếunại, tố cáo đợc biết. Trong những trờng hợp khẩn cấp, cơ quan nhận đợc vụ việc có thể
tiến hành các biện pháp khẩn cấp để giải quyết vụ việc cho đến khi việc
chuyển hồ sơ đã đợc hoàn tất;
+ Vụ việc nào do Viện kiểm sát nhân dân đã ra quyết định khởi tố sẽ đ ợc chuyển sang cho Toà án để nghiên cứu hồ sơ và đa ra xét xử;
+ Khi Toà án tiến hành xét xử vụ việc do Viện kiểm sát khởi tố, Viện
kiểm sát sẽ cử ngời tham gia phiên Toà với t cách ngời buộc tội. Trong những
vụ án nhỏ, ít nghiêm trọng toà có thể tiếnh hành xét xử không có sự tham gia
đại diện của Viện kiểm sát. Nếu Viện kiểm sát phản đối (việc xét xử không
cần sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát) hoặc Toà phúc thẩm yêu cầu sự
có mặt của đại diện Viện kiểm sát, Viện kiểm sát cùng cấp sẽ cử ngời tham
gia phiên toà;
+ Trờng hợp phạm nhân phạm tội mới trong thời gian đang thi hành án,
hoặc phát hiện tội phạm mới sau khi đã tuyên án, trại giam hoặc trịa cải tạo
lao động sẽ chuyển vụ việc tới Viện kiểm sát để xem xét. Nếu một ngời
phạm tội đã bị kết án quản thúc (án treo - Con trol), giam giữ, phạt tù có thời
hạn hoặc tù trung thân mà thực sự hối cải, cải tạo tốt và có những đóng góp
nhất định trong thời gian thi hành án thì có thể đợc giám sát hoặc tha miễn
theo quy định của pháp luật. Trong những trờng hợp này, các cơ quan thi
hành án đệ trình ý kiến của mình lên Viện kiểm sát để xem xét và giải quyết.
+ Nếu trong khi thực hiện chức năng quản lý thi hành án, cơ quan quản
lý trại giam, trại cải tạo lao động phát hiện có sai sót trong phán quyết của
Toà án, hoặc phạm nhân có đơn thỉnh cầu, vụ việc sẽ đợc chuyển đến Viện
kiểm sát hoặc Toà án đã tuyên án đó.
4. Sự khống chế lẫn nhau
Các cơ quan an ninh, nội vụ, Viện kiểm sát và Toà án theo sợ phân công
công việc của mình, phải giám sát lẫn nhau nhằm ngăn chặn sửa chữa kịp

+ Nếu Viện kiểm sát cho rằng bản án hoặc phán quyết của Toà án chứa
đựng những sai sót thật sự, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm. Nếu Viện kiểm sát tối cao phát hiện có sai lầm thực sự trong bản
ạnh quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, hoặc Viện kiểm sát cấp
trên phát hiện phát hiện có sai lầm trong phán quyết của Toà án cấp dới, các
cơ quan này có thể kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và thực thi quyền
giám sát để xem xét tính đúng đắn trong hoạt động xét xử của Toà án cấp d ới.
+ Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp của
việc thi hành các bản án hình sự, cũng nh các hoạt động của các nhà tù, trại
giam và trại cải tạo lao động. Nếu phát hiện có sự vi phạm pháp luật, Viện
kiểm sát phải thông báo cho ngời vi phạm bết để sửa chữa các sai lầm đó.
Hơn nữa, luật tố tụng hình sự còn có các điều khoản quy định nghiêm
ngặt về thời hạn mà các cơ quan điều tra, kiểm sát,xét xử phải tuân theo để
thực hiện tốt những hoạt động thuộc trách nhiệm của họ. Giới hạn thời gian
đòi hỏi các cơ quan thi hành pháp luật phải thực thi trách nhiệm của mình
một cách nhanh chóng, có hiệu quả để bảo vệ quyền lợi của Nhà nớc cũng
nh các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ví dụ, điều 92 Luật tố tụng
hình sự quy định thời hạn điều tra vụ án hình sự nói chung không đợc quá
hai tháng. Đối với những vụ việc phức tạp không thể kết thúc theo thời hạn
quy định, Viện kiểm sát cấp trên có thể phê chuẩn việc kéo dài thời hạn điều
tra thêm một tháng. Điều 125 Luật tố tụng hình sự quy định xét xử một vụ án


đã đợc khởi tố, Toà án phải tuyên án trong vòng một tháng kể từ ngày thụ lý
vụ án, với việc gia hạn tối đa là một tháng rỡi.
III. Viện kiểm sát nhân dân Trung Quốc
Viện kiểm sát nhân dân Trung Quốc là cơ quan Nhà nớc chịu trách
nhiệm giám sát việc thi hành pháp luật. Tên gọi chíng thức của các cơ quan
này là Viện kiểm sát nhân dân nớc Cộng hoà nhân dân Trung hoa, gọi tắt là
Viện kiểm sát nhân dân. Viện kiểm sát đại diện cho ý chí của nhân dân với

thống nhất của pháp luật Trung Quốc.
Một trong các hình thức đó là sự giám sát do Quốc hội và Uỷ ban thờng
vụ Quốc hội tiến hành, Hội đồng nhân dân các cấp và Uỷ ban thờng trực của
Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với việc thi hành Hiến
pháp, các đạo Luật của Nhà nớc. Các cơ quan này giám sát hoạt động của tất
cả các đơn vị, xí nghiệp trực thuộc và sự thi hành các đạo Luật và Nghị định


và các Nghị quyết của Chính phủ. Hình thức giám sát thứ ba là giám sát xã
hội, nghĩa là giám sát thi hành pháp luật đợc thực hiện bởi nhân dân và các tổ
chức xã hội nh Công đoàn, Hiệp hội phụ nữ... Giám sát Nhà nớc đợc tiến
hành từ trên xuống dới, còn giám sát xã hội thì từ dới lên trên. Khi đợc kết
hợp với nhau, chúng tạo ra một sự giám sát hoàn chỉnh.
Ngoài những hình thức giám sát nói trên, Trung Quốc đã thành lập hệ
thống Viện kiểm sát nhân dân, là cơ quan chuyên trách trong việc giám sát
thi hành pháp luật. Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân nớc Cộng
hoà nhân dân Trung hoa quy định: Viện kiểm sát là cơ quan Nhà nớc chịu
trách nhiệm giám sát việc tuân thủ pháp luật. Viện kiểm sát đảm bảo việc thi
hành thống nhất các đạo Luật và Nghị định thông qua thẩm quyền giám sát
của mình.
Nh quy định rõ trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân nớc Cộng
hoà nhân dân Trung hoa, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là kiểm sát
mọi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, giáng những đòn nặng vào bọnphản
cách mạng và các phần tử tội phạm khác, bảo toàn sự thống nhất của đất nớc,
chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy,
Viện kiểm sát nhân dân duy trì trật tự xã hội, trật tự trong sản xuất, công việc
giáo dục, nghiên cứu khoa học vầ trong cuộc sống của nhân dân. Viện kiểm
sát bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa thuộc sở hữu của toàn dân, tài sản thuộc
sở hữu tập thể của ngời lao động và tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của t nhân.
Các cơ quan này còn bảo vệ các quyền công dân, quyền dân chủ và các

khi nào có vi phạm pháp luật. Những trờng hợp xâm phạm các quyền dân
chủ của công dân hoặc vi phạm nhiệm vụ đều đợc Viện kiểm sát thụ lý, lập
hồ sơ và tiến hành điều tra.
Sau giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát khởi tố vụ án trớc các Toà án nhân
dân. Nhìn chung các vụ án loại này là các hành vi phạm tội xâm phạm các
quyền pháp lý của công dân hoặc vi phạm nhiệm vụ một cách nghiêm trọng
dẫn đến các thiệt hại cho lợi ích của Nhà nớc và công dân. Theo quy định
của Luật tố tụng hình sự và các Đạo Luật có liên quan khác. thì có 14 loại vụ
án hình sự thuộc phạm vi giám sát pháp luật và kỷ luật và đợc Viện kiểm sát
trực tiếp thụ lý, đó là: Tội bức cung; tội truy tố trách nhiệm hình sự ngời vô
tội; tội xâm phạm quyền bầu sử của nhân dân; bắt giam ngời trái pháp luật;
khám xét trái pháp luật; truy tố trái; tội xâm phạm quyền tự do tín ngỡng; tội
truy cứu trách nhiệm hình sự với các chứg cứ giả tạo; che dấu những chứng
cứ phạm tội; tội xâm phạm quyền tự do thông tin, làm lộ bí mật của Nhà nớc,
điều tra, xét xử trái pháp luật; tha ngời phạm tội trái pháp luật; mở, che giấu
và tiêu huỷ th bu điện và điện báo. Ngoài ra, còn có các vụ án khác mà Viện
kiểm sát phải trực tiếp thụ lý, đó là các hành vi phạm tội chủ yếu do các cơ
quan Nhà nớc và các nhân viên của mình thực hiện. Tuy nhiên, có một số tội
nh xâm phạm quyền bầu cử của nhân dân thì không nhất thiết là do các nhân
viên Nhà nớc thực hiện.
b. Giám sát kinh tế: Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Viện
kiểm sát phục vụ trực tiếp công cuộc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
là thực hiện giám sát trong lĩnh vực kinh tế nhằm đấu tranh chống các tội
phạm kinh tế. Công tác giám sát kinh tế giúp bảo đảm việc thực hiện các
chính sách kinh tế Nhà nớc, các Đạo luật và Nghị định, duy trì trật tự kinh tế
xã hội chủ nghĩa. Giám sát kinh tế nhằm bảo vệ tài sản nhân dân. Trên mặt
trận sản xuất, giám sát kinh tế đã tạo điều kiện đạt đợc thành tựu tiến tiên về
quản lý khoa học trong nhiều thành phần của nền kinh tế quốc dân, đông thời
khuyến khích giải quyết các vấn đề kinh tế theo pháp luật.
Hiện nay có nhiều hành vi phạm tội trong lĩnh vực kinh tế trong đó có

nớc, Viện kiểm sát khởi tố và đa bị can ra Toà xét xử. Khi Toà án xét xử các
vụ án thì cán bộ Viện kiểm sát có mặt tại phiên toà với t cách công tố viên
của Nhà nớc. Viện kiểm sát cùng kiểm tra xem liệu thủ tục xét xử, kể cả
thành phần Hội đồng xét xử, và thực hiện các quyền tố tụng của bị can, bị
cáo có hợp pháp hay không. Nếu phát hiện thấy vi phạm pháp luật, cán bộ
kiểm sát sẽ nêu ý kiến của mình với Toà án để khắc phục. Viện kiểm sát
giám sát các bản án và quyết định của Toà án nhằm bảo đảm sự thhj đúng
pháp luật.
d. Giám sát nhà tù, trại giam và các trại cải tạo lao động: lĩnh vực
giám sát này đợc quy định tại Khoản 1 Điều 5 của Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân và Điều 164 của Luật tố tụng hình sự. Điều 164 này quy định:
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện việc giám sát để quyết định xem việc thi
hành các bản án và quyết định trong các vụ án hình sự và hoạt động của các
nhà tù, trại giam và các trại cải tạo lao động có đúng pháp luật hay không.
Nếu phát hiện có vi phạm pháp luật. Viện kiểm sát sẽ có thông báo cho các
cơ quan thi hành để quy định biện pháp khắc phục. Công tác giám sát nhà
tù, trại giam và trại cải tạo lao động phải phối hợp với các nhà tù và trại giam
cải tạo lao động để giúp phạm nhân cải tạo thông qua lao động.
Ngày 29 tháng 11 năm 1979, Uỷ ban thờng vụ Quốc hội khoá 5 tại kỳ
họp lần thứ 12 đã thông qua Quy chế bổ sung của Hội đồng Nhà nớc về cải
tạo lao động. Điều 5 của Quy chế bổ sung quy định: Viện kiểm sát nhân
dân thực hiện giám sát các hoạt động của các trại cải tạo lao động.
ở Trung Quốc, ngoài nhà tù, việc cải tạo phạm nhân còn đợc tiến hành
dới các hình thức khác nhằm giúp họ cải tạo thành những công dân có ích,
loại bỏ tính cách tội phạm của họ. Việc cải tạo tại các trại cải tạo lao động đợc tổ chức sao cho phạm nhân có thể cải tạo tốt và trở lại thanhf ngời có ích
cho xã hội. Đợc trao đầy đủ quyền giám sát cj thi hành pháp luật, Viện kiểm
sát có thể sử dụng quyền đó để buộc phạm nhân phải cải tạo. Trờng hợp


trong thời gian cải tạo mà phạm nhân lại phạm các tội mới, thì các vụ án đó

đòi hỏi phải có các cơ quan t pháp tơng ứng để đảm bảo các quyền lợi hợp
pháp của công nhân và ngời lao động khác. Vì cha thành lập đợc các cơ quan
quyền lực chính trị tại các lĩnh vực kinh tế này nên cha có Hội đồng nhân
dân cùng cấp, do đó Viện trởng Viện kiểm sát và các kiểm sát viên cha đợc
bầu hoặc bổ nhiệm bởi Hội đồng nhân dân. Vì vậy, Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân quy định là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và thành phố phải
trình kiến nghị lên Uỷ ban thờng trực của Hội đồng nhân dân cùng cấp để
chuẩn y việc thành lập các cơ quan kiểm sát trong các khu vực kinh tế này. ở
nơi nào có các cơ quan kiểm sát thì ở đó cũng phải có các cơ quan an ninh xã
hội và Toà án nhân dân để kết hợp xử lý các vụ án hình sự theo Luật tố tụng.
Viện kiểm sát nhân dân đặc biệt là các cơ quan kiểm sát đợc thành lập
trong một số tổ chức nhất định. Ví dụ: Viện kiểm sát quân sự và Viện kiểm


sát giao thông và đờng sắt. Các Viện kiểm sát đặc biệt cấp trên và Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.
Thành phần của Viện kiểm sát nhân dân các cấp gồm có một Viện trởng, một Phó viện trởng và các kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên và các
nhân viên hành chính. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn có một đội ngũ chuyên
viên nghiên cứu pháp luật, làm công việc văn phòng và hành chính.
Viện kiểm sát nhân dân các cấp có các Ban kiểm sát của mình. Khoản 2
Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định: Viện kiểm sát nhân
dân các cấp thành lập các ban kiểm sát của mình. Dới sự lãnh đạo của Viện
trởng Viện kiểm sát, Ban kiểm sát thảo luận và ra các quyết định về vụ án
lớn và các vấn đề quan trọng.
Thành viên của Ban kiểm sát đợc bổ nhiệm theo Luật tố tụng và gồm có
một Viện trởng Viện kiểm sát, một Phó viện trởng, một số kiểm sát viên và
các nhân viên khác. Thành viên của Ban chủ yếu tham gia vào giải quyết các
vụ án phức tạp và các vụ án có ý nghĩa quan trọng về chính trị. Họ quyết
định đờng lối để thực hiện các nguyên tắc chính sách của Nhà nớc, các Nghị
quyết của Uỷ ban thờng trực Hội đồng nhân dân, tổng kết kinh nghiệm kiểm

tối cao và sau đó lên Uỷ ban thờng vụ Quốc hội để phê chuẩn. Viện trởng
Viện kiểm sát nhân dân các huyện tự trị, thành phố thuộc tỉnh, các thành
phố, thành phố tự trị do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu và bãi miễn.
Việc bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm họ phải đợc trình lên Viện trởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp trên và sau đó lên Uỷ ban thờng trực của Hội đồng
nhân dân cấp trên để phê chuẩn. Nhiệm kỳ của các Viện trởng Viện kiểm sát
các cấp bằng nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Theo đề nghị của
Viện trởng Viện kiểm sát cùng cấp, Uỷ ban thờng trực Hội đồng cấp quốc
gia và cấp tỉnh, khu tự trị, thành phố thuộc Trung ơng có thể miễn nhiệm và
thay thế các Viện trởng và Phó viện trởng chứng khoán nhân dân cấp dới.
Về tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân dựa trên các nguyên tắc tập trung
dân chủ. Nguyên tắc này khác với chế độ lãnh đạo trên xuống (dọc) và cơ
chế trách nhiệm cá nhân. Theo Hiến pháp 1982 và Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân, Viện kiểm sát địa phơng các cấp chịu sự lãnh đạo của các cơ
quan quyền lực Nhà nớc cùng cấp và chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát
nhân dân cấp cao hơn. Do vậy, mà đảm bảo đợc sự thực hiện thống nhất thẩm
quyền kiểm sát của các Viện kiểm sát nhân dân trong cả nớc.
Viện kiểm sát nhân dân châp shành sự lãnh đạo của các cơ quan quyền
lực Nhà nớc cùng cấp. Điều này đợc biểu hiện bằnh nhiều hình thức. Viện
kiểm sát báo cáo về công việc của mình cho Hội đồng và Uỷ ban thờng trực.
Sau đó, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban thờng trực xem xét và thông qua các
báo cáo của Viện kiểm sát cấp mình. Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân các
cấp do do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra hoặc bãi miễn. Phó Viện trởng, các thành viên ban kiểm sát và kiểm sát viên do Uỷ ban thờng trực của
Hội đồng nhân dân cùng cấp bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm theo sự đề nghị của
Viện trởng các Viện kiểm sát ssát đó. Việc bổ nhiệm và miễn nhiệm Viện trởng Viện kiểm sát các cấp phải đợc trình lên Viên trởng Viện kiểm sát cấp
cao hơn và sau ddó trình lên Uỷ ban thờng trực của Hội đồng nhân dân cấp
cao hơn nữa để chuẩn y.
Uỷ ban thờng trực của Hội đồng nhân dân có thẩm quyền kiểm tra công
việc của Viện kiểm sát nhân dân cấp mình, giải quyết một cách chính thức
các tranh chấp giữa các thành viên của Ban kiểm sát do Viên trởng báo cáo,

nguyên tắc dựa vào quần chúng. Nếu đợc kết hợp chặt chẽ, các nguyên tắc
này bảo đảm sự phát triển và hoạt động đúng đắn của Viện kiểm nhân dân.
b. Việc thực hiện hợp pháp thẩm quyền kiểm sát
Điều 9 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định: Viện kiểm
sát nhân dân các cấp thực hiện quyền kiểm sát một cách độc lập theo các quy
định của pháp luật và không chịu sự can thiệp của bất kỳ cơ quan hành
chính, tổ chức xã hội hoặc cá nhân nào. Viện kiểm sát nhân dân phải thực
hiện quyền kiểm sát của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân. Nguyên tắc này áp dụng dịch vụ việc thực hiện chức
năng của Viện kiểm sát và các thủ tục mà họ phải tuân theo. Nếu Viện kiểm
sát nhân dân lạm dụng quyền hạn hoặc không làm tròn chức năng của mình
thì các cơ quan này bị điều tra.
Khi thực hiện quyền giám sát theo Luật hình sự và các Đạo luật hoặc
quy định hữu quan. Viện kiểm sát nhân dân phải phân biệt rõ ràng có tội với
không có tội. Họ phải thi hành Luật tố tụng hình sự và các Đạo luật khác có
liên quan để phát hiện tội phạm một cách có hiệu quả. Ngoài ra, Viện kiểm
sát phải thận trọng trong quan hệ của mình đối với các cơ quan quyền lực
Nhà nớc khác. Nguyên tắc độc lập này đảm bảo quyền của Viện kiểm sát đợc thực hiện thẩm quyền kiểm sát nhân danh Nhà nớc, một quyền mà nhân
dân chỉ giao cho ngành kiểm sát.
Sự độc lập thực hiện quyền giám sát bởi Viện kiểm sát nhân dân ở
Trung Quốc khác với sự độc lập của cơ quan t pháp ở các nớc phơng tâ. ở
Trung Quốc, Quốc hội và Uỷ ban thờng vụ Quốc hội là các cơ quan quyền
lực Nhà nớc thống nhất, và Viện kiểm sát là một bộ phận của quyền lực Nhà
nớc. Điều 10 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định: Viện kiểm
sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm vàbáo cáo công việc của mình trớc
Quốc hội và Uỷ ban thờng vụ Quốc hội, Về cơ bản, các Viện kiểm sát
nhân dân chịu trách nhiệm trớc Hội đồng nhân dân và phải lắng nghe và chịu
sự giám sát của nhân dân.



đắn và xử lý các vụ án một cách chính xác và kịp thời. Để làm sáng tỏ các
tình tiết của vụ án, thì cần thiết trả lời những câu hỏi sau:
+ Ai là thủ phạm của hành vi phạm tội?
+ Nơi mà hành vi phạm tội thực hiện?
+ Tính chất của hành vi phạm tội là gì?
+ Tại sao xảy ra hành vi phạm tội?
+ Phơng tiện nào mà hành vi phạm tội đợc thực hiện?
+ Việc phạm tội xảy ra nh thế nào?
+ Nếu phạm tội đợc thực hiện do đồng phạm, thì quan hệ giữa những
ngời phạm tội là thế nào?


Ngoài việc làm sáng tỏ những tình tiết đó, Viện kiểm sát nhân dân phải
áp dụng các Đạo luật và Nghị định một cách đúng đắn để xác định có tội
phạm xảy ra hay không? nếu có thì đề ra hình thức xử phạt một cách chính
xác. Viện kiểm sát nhân dân Trung Quốc không những phải xử lý các vụ án
hình sự một cách chính xác mà còn phải kip thời. Luật tố tụng hình sự còn có
các quy định cụ thể về thời gian điều tra, tạm giam và khởi tố vụ án hình sự.
Đoạ Luật này cũng yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân tiến hành điều tra, xem
xét và phê chuẩn các đơn yêu cầu cho bắt ngời phạm tội, xem xét các vụ án
và khởi tố bị can một cách kịp thời tiến độ điều tra đợc quyết định bởi sự cần
thiết, có đủ các sự kiện của vụ án, đối với các vụ án phải xử lý theo pháp
luật, tất cả các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội phải đợc đa ra làm
sáng tỏ.
IV. Các cơ quan an ninh công cộng (công an) và các cơ quan an
ninh quốc gia của Trung Quốc
Các cơ quan công an và an ninh quốc gia thực hiện các chức năng quan
trọng của công tác an ninh chính trị và pháp luật trong hệ thống các cơ quan
hành chính của Trung Quốc. đây là lực lợng vũ trang hành chính chịu trách
nhiệm duy trì trật tự xã hội và an ninh của quốc gia. Khối lợng công việc lớn


bình trên thế giới, nên công tác giữ gìn trật tự xã hội vô cùng phức tạp. Vì
vậy, cần thiết phải lập ra các sở và các phòng an ninh công cộng để chủ yếu
tập trung vào việc chỉ đạo và điều phối công việc của các tổ chức qnn công
cộng trực thuộc tại nhiều điểm khác nhau. Họ nghiên cứu công nghệ và
chính sách về an ninh, tiến hành điều tra nhằm giữ vững trật tự hiện hữu
trong xã hội.
Nhằm giữ trật tự công cộng, các cơ quan công an đã thành lập hệ thống
nghiệp vụ đặc biệt, nh công an hình sự, công an hộ khẩu, công an trật tự
công cộng, công an giao thông, công an đối ngoại, công an chống nổ, công
an cứu hoả và công an vũ trang.
Công an đợc chia làm hai loại: Chuyên nghiệp và công an bắt buộc.
Hầu hết những ngời làm công tác an ninh công cộng là các cán bộ, chiến sĩ
công an chuyên nghiệp. Chỉ một số loại công an đặc biệt nh công an cứu hỏa
và công an vũ trang là thuộc công an bắt buộc và đợc coi nh là các chiến sĩ
đang làm nghĩa vụ quân sự bắt buộc trong quân đội.
Vai trò của công tác an ninh công cộng càng cao thì cơ quan cơ cấu tổ
chức công tác lực lợng công an lại càng phải đợc cải tiến và hoàn thiện.
Khi đất nớc chuyển sang xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, chức
năng của công an lại một lần nữa trải qua sự thay đổi. Nhiệm vụ chính của
ngành công an chuyển từ phòng chống tội phạm sang bảo đảm an toàn giao
thông tại các thành phố và thi trấn và phòng cháy chữa cháy. Luật pháp của
Nhà nớc quy định rõ nhiệm vụ của ngành công an là đấu tranh chống mọi
hoạt động phản cách mạng và phạm tội, phòng chống hoạt động phá hoại của
bọn tội phạm, giữ trật tự công cộng, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của nhân dân, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp hiện đại hóa
xã hội chủ nghĩa. Sự thay đổi các nhiệm vụ này đã thúc đẩy việc thành lập
các cơ quan công an và hoàn thiện lực lợng cảnh sát.
Từ khi Trung Quốc tiến hành chính sách mở cửa với bên ngoài và đẩy
mạnh sự trao đổi về chính trị, văn hóa và kinh tế với các nớc, các cơ quan

họ nhiệm vụ tổ chức và quản lý trật tự công cộng.
Các cơ quan công an đồng thời là các cơ quan điều tra đặc biệt chịu
trách nhiệm tiến hành điều tra các vụ án hình sự. Nhằm điều tra các vụ án
hình sự, truy tìm tội phạm và bảo vệ ngời vô tội khỏi mọi hành vi sai trái, các
cơ quan công an có thể áp dụng mọi biện pháp điều tra theo quy định của
Luật tố tụng.
Do các nhiệm vụ đặc biệt và tính chất công việc của mình, các cơ quan
công an Trung Quốc có các chức năng và quyền hạn sau đây:
a. Thẩm quyền điều tra hình sự
Họ thu thập và kiểm tra chứng cứ, khám phá tội phạm và bắt những ngời phạm tội theo Luật tố tụng hình sự. Các cơ quan công an chia sẻ quyền
điều tra với cơ quan kiểm sát mặc dù có sự phân công trong việc điều tra các
loại vụ án cụ thể. Các cơ quan công an từ cấp thành phố trở lên chủ yéu điều
tra các vụ án phản cách mạng và các vụ trọng án nh giết ngời, cớp, hiếp dâm,
gây hỏa hoạn... các cơ quan kiểm sát chủ yếu chịu trách nhiệm điều tra các
vụ án tham nhũng, các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của nhân dân
cũng nh các vụ án khác cần phải điều tra.
Công an là cơ quan điều tra chính. Trớc khi điều tra, họ phải căn cứản
thận kiểm tra chứng cứ. Nếu phát hiện chứng cứ phạm tội, họ lập tức khởi tố
vụ án. Trờng hợp cha tìm ra chứng cứ phạm tội nhng tội phạm đã xảy ra thì
họ phải khám nghiệm hiện trờng. Họ phải tiến hành điều tra vụ án nếu hiện
trờng có các dữ kiện phù hợp với các quy định của Luật tố tụng hình sự.
Để nhanh chóng giải quyết vụ án, bắt giữ ngời phạm tội, ngăn ngừa tội
phạm bỏ trốn, nhận tội gian dối, tiêu huỷ chứng cứ hoặc tiếp tục phạm tội,
các cơ quan công an đợc phép tiến hành hỏi cung bị can và ngời làm chứng,
trng cầu giám định, khám xét, tạm giam và truy nã tội phạm. Khi cần thiết
họ có thể tha ngời ngời phạm tội tại nhà, hoặc tạm giữ họ.


Khi kết thúc một vụ điều tra, cơ quan công an phải viết một bản đánh
giá về cuộc điều tra và gửi kèm theo hồ sơ và chứng cứ về vụ án cho cơ quan

Các cơ quan công an có quyền đặt ngời phạm tội dới sự giám sát và tớc
quyền chính trị của họ. Khi mãn thời hạn của bản án, họ sẽ báo cho phạm
nhân và công chúng biết về việc bãi bỏ sự giám sát và phục hồi quyền tự do.
c. Thẩm quyền quản lý trật tự công cộng
Các cơ quan công an có thẩm quyền quản lý xã hội, xử phạt hành chính
và tiến hành hỏi cung ngời bị bắt giữ.


Quản lý trật tự xã hội nghĩa là quản lý đăng ký hộ khẩu, kiểm sát giao
thông, phòng cháy chữa cháy, thông tin liên lạc và trật tự công cộng. Xử phạt
hành chính là trừng phạt hành chính đối với những ai vi phạm quy tắc và quy
định về trật tự công cộng nhng cha thực hiện tội phạm. Các cơ quan công an
có quyền áp dụng nhiều biện pháp cỡng chế khác nhau nh giáo dục thanh,
thiếu niên phạm tội thông qua lao động, huỷ bỏ đăng ký thờng trú của ngời
vi phạm và các hình thức xử phạt khác.
Thẩm quyền tạm giữ là hạn chế tạm thời quyền tự do của một ngời và
thẩm vấn ngời bị tình nghi phạm tội nghiêm trọng.
d. Thẩm quyền đặc biệt trong việc thực hiện nghĩa vụ
Trong trờng hợp khẩn cấp, công an có quyền sử dụng vũ khí để tự vệ và
cỡng chế ngời phạm tội khi thực hiện các nhiệm vụ của các cơ quan công an.
Trong trờng hợp nguy hiểm khi bọn tội phạm chống cự khi bắt, gây rối
hoặc hành hung công an, sử dụng vũ khí để gây rối trật tự công cộng, thì lực
lợng công an có quyền sử dụng vũ khí hoặc cõ thuật để tự vệ và trấn áp bọn
tội phạm đó. Nhà nớc đã ban hành pháp luật quy định chặt chẽ việc các cơ
quan công an và cảnh sát đợc phép sử dụng vũ khí để tự vệ và trấn áp tội
phạm.
Thẩm quyền cần thiết đã đợc trao cho các cơ quan công an để họ có thể
thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm bảo vệ nhân dân. Lực lợng công an phải
sử dụng thẩm quyền của họ một cách hợp pháp. Họ không đợc phép vợt quá
thẩm quyền của mình đã đợc pháp luật quy định hoặc lợi dụng thẩm quyền

tế, các cơ quan an ninh quốc gia phải có các biện pháp thực tế và hữu hiệu để
bảo đảm sự ổn định và an ninh của quốc gia thông qua các cuộc đấu tranh
chống bọn gián điệp nớc ngoài và các vụ phá hoại ngầm.
+ Tăng cờng công tác chống gián điệp. Hoạt động gián điệp và chống
gián điệp đã trở thành vấn đề toàn cầu và ngày càng phức tạp. Từ khi Trung
Quốc mở cửa với bên ngoài một số cơ quan gián điệp bên ngoài đã tìm mọi
cách để thu thập các thông tin tình báo về quân sự và kinh tế ở Trung Quốc.
Các hoạt động của chúng gồm moi các bí mật Nhà nớc và cử các điệp
viên thâm nhập vào Trung Quốc hòng lật đổ Nhà nớc Cộng hoà nhân dân
Trung hoa. Các cơ quan an ninh quốc gia phải áp dụng các biện pháp hiệu
quả và sử dụng các thiết bị kỹ thuật hiện đại để chống đối lại các hoạt động
lật đổ. Họ phải sử dụng chuyên chính dân chủ nhân dân nhằm đập tan các
hoạt động tình báo của bọn tình báo và gián điệp nớc ngoài và nghiền nát các
hành vi phản cách mạng hòng làm suy yếu nền an ninh quốc gia.
V. Các Toà án nhân dân Trung Quốc
Các Toà án nhân dân của nớc Cộng hoà nhân dân Trung hoa là các cơ
quan xét xử thực hiện quyền t pháp thay mặt Nhà nớc. Các hoạt động của Toà
án đợc tuyên bố nhằm mục đích phục vụ nhân dân. Nhiệm vụ của các Toà án
là xét xử các vụ án hình sự và dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự, trừng
trị các tội phạm và giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho các công dân.
Mục tiêu là bảo vệ hệ thống dân chủ của nhân dân và trật tự pháp luật xã hội
chủ nghĩa để các công dân đợc hởng tự do cá nhân và các quyền dân chủ,
quyền tài sản và hạnh phúc cá nhân. Các hoạt động của Toà án là hỗ trợ cho
việc xây dựng nền an ninh xã hội chủ nghĩa cả về vật chất và tinh thần.
Sau khi nớc Cộng hoà nhân dân Trung hoa đợc thành lập, các Toà án
nhân dân đã từng bớc đợc thành lập theo Hiến pháp lâm thời, đợc gọi là
những quy định của chơng trình chung của CPPCC đợc thông qua vào tháng
9/1949. Năm 1950, văn bản tạm thời về tổ chức các Toà án của nớc Cộng hoà
nhân dân Trung hoa đợc ban hành. Năm 1954, Đại hội đại biểu nhân dân
Trung hoa khoá 1 đã thông qua Luật tổ chức các Toà án nhân dân nớc Cộng

+ Thực thi một cách nhanh chóng và chính xác quyền t pháp của Nhà nớc ở cấp độ quốc gia;
+ Giám sát các Toà án cấp dới từ các Toà án cấp trên;
+ Cho sự tham gia của các công dân vào các quy trình tố tụng pháp luật
và của quần chúng giám sát việc quản lý t pháp;
+ Thực hiện thống nhất hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa trên toàn
lãnh thổ trong điều kiện có sự khác biệt về nghề nghiệp và lãnh thổ.
Theo Hiến pháp và Luật tổ chức Toà án nhân dân, hệ thống tổ chức của
các Toà án Trung Quốc gồm 4 cấp Toà án và 2 cấp xét xử.
Hệ thống này gồm có Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân địa phơng các cấp, các Toà án quân sự và các Toà án nhân dân chuyên biệt khác.
Các Toà án địa phơng đợc chia thành Toà án nhân dân cấp cao, Toà án
nhân dân trung cấp, Toà án nhân dân sơ cấp.
Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của đất nớc. những
quyết định và bản án của Toà ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm cũng đồng thời là
chung thẩm. Toà án có thể xét xử các vụ án hình sự và dân sự quan trọng mà
Toà thấy cần thiết. Ví dụ: Toà án nhân dân tối cao thiết lập phiên Toà đặc biệt
để xét xử các hành động phản cách mạng của Lâm Bu và Giang Thanh vào
cuối những năm 80.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status