Thực trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên trên thế giới và việt nam - Pdf 35

3.3.3. Khai thác và quản lý tài nguyên thiên nhiên trong phát triển
kinh tế
3.3.3.1. Khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên
MỞ ĐẦU
Phát triển là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu
thành khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hóa... Mục tiêu
của phát triển là nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của loài
người; làm cho con người ít phụ thuộc vào thiên nhiên, tạo lập nên cuộc
sống công bằng và bình đẳng giữa các thành viên. Sự chuyển đổi của xã hội
loài người từ xã hội nguyên thủy - xã hội nô lệ - xã hội phong kiến - xã hội
tư bản… là quá trình phát triển. Tuy nhiên trong một thời gian khá dài
người ta thường đặt mục tiêu kinh tế quá cao, xem sự tăng trưởng kinh tế là
độ đo duy nhất của sự phát triển.
Sau một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế thế giới vào các
năm 50-80 của thế kỷ XX, loài người nhận thức được rằng : độ đo kinh tế
không phản ánh được đầy đủ quan niệm về phát triển. Thay cho chỉ số duy
nhất đánh giá sự phát triển của các quốc gia là GDP, GNP xuất hiện các chỉ
tiêu khác như HDI., HFI,... Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, sự gia tăng
nhanh dân số thế giới trong những thập niên vừa qua và các tác động của
chúng đến môi trường trái đất đã dẫn loài người đến việc xem xét và đánh
giá các môi quan hệ: con người-trái đất, phát triển kinh tế xã hội - bảo vệ
môi trường. Ngày nay, con người đã biết nguồn tài nguyên của trái đất
không phải là vô tận, không thể khai thác hoặc thống trị theo ý mình; khả
năng đồng hóa chất thải của môi trường trái đất là có giới hạn nên con
người còn thiết phải sống hài hòa với tự nhiên; sự cần thiết phải tính toán
đến lợi ích chung của cộng đồng, của các thế hệ tương lai và các chi phí
môi trường cho sự phát triển... Tất cả các yêu cầu trên dẫn đến sự ra đời
một quan niệm sống mới của con người : “Phát triển bền vững”. Quản lý
khai thác tài nguyên hiện nay có xu hướng tiến tới sự phát triển bền vững.
I. TỔNG QUAN
1. Khái niệm phát triển bền vững

hết đều không đủ khai thác với quy mô công nghiệp. Thêm vào đó, nguồn
tài nguyên không tái tạo này đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt vì sự khai
thác và sử dụng quá lãng phí. Đối với các mỏ vừa và nhỏ (chiếm đa số), sự
thất thoát không dừng lại ở một vài chục phần trăm mà nguy cơ mất mỏ là
rất nghiêm trọng. Do năng lực có hạn, khai thác phần lớn là thủ công, nên
2


đa số các mỏ nhỏ hiện nay chỉ lấy được những phần giàu nhất, bỏ đi toàn
bộ các quặng nghèo và khoáng sản đi cùng, dẫn đến không thể tận thu
được. Bên cạnh đó, tổn thất trong chế biến khoáng sản cũng rất cao. Khai
thác vàng là một ví dụ, do độ thu hồi quặng vàng trong chế biến (tổng thu
hồi) hiện chỉ đạt khoảng 30% - 40%, nghĩa là hơn một nửa thải ra ngoài bãi
thải, không chỉ mất mát mà còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nếu
so với chỉ tiêu một số nước, thu hồi vàng trong quặng thường chiếm 92% 97%, rõ ràng đây là một tổn thất quá lớn. Đối với những mỏ vừa và nhỏ,
chủ yếu do dân tự khai thác với công nghệ thô sơ, vì vậy càng không thể
đánh giá được hết những tổn thất.
Với tài nguyên nước, mức sử dụng nước ở nhiều ngành công nghiệp
là rất cao và lãng phí, đặc biệt khu vực tư nhân, các doanh nghiệp vừa và
nhỏ để thất thoát nước dùng trong sản xuất phần lớn không thể kiểm soát
được. Rõ rệt nhất là ngành bia, trên thế giới để sản xuất 1 lít bia trung bình
sử dụng khoảng 4 lít nước, song ở Việt Nam cao hơn gấp ba lần (khoảng 13
lít nước). Các ngành dệt và ngành giấy cũng ở tình trạng tương tự.
Về tiêu hao năng lượng, với ngành thép, công nghệ sử dụng của Việt
Nam hiện có thời gian nấu cao hơn 360% so với thế giới, các chỉ tiêu tiêu
hao thép phế, điện và điện cực đều quá cao, đặc biệt tiêu hao điện bằng
257% so với các nước, song công đoạn cán có tốc độ chỉ bằng 12,7% so
với các nhà máy trên thế giới. Về tài nguyên rừng, hiện tại, rừng tự nhiên
có khả năng khai thác gỗ không còn bao nhiêu (ước tính khoảng 0,5 triệu
ha). Diện tích rừng sản xuất chỉ chiếm hơn 50% trong tổng diện tích rừng

quốc gia cần có những chính sách riêng phù hợp với điều kiện thực tế của
họ. Một số biện pháp có thể tập trung vào những khía cạnh sau:
- Quản lý tốt hơn tài nguyên rừng hiện còn và trồng rừng mới
Áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế việc chặt phá rừng. Tăng
cường trồng rừng và các khu công nghiệp phù hợp, phát triển hình thức
nông lâm kết hợp ở những vùng bắt buộc phải trồng cây nông nghiệp trên
đất dốc. Nâng cao hiệu suất sử dụng củi đốt, phát triển khí sinh học và sử
dụng năng lượng mặt trời. Thâm canh cây công nghiệp và tạo việc làm mới
để phát triển nông thôn, giảm sức ép của sản xuất nông nghiệp với đất rừng
4


còn lại. Việc bảo vệ rừng phải đi đôi giữa bảo tồn, phục hồi đối với trồng
rừng và quản lý buôn bán gỗ nhằm phát triển bền vững tài nguyên rừng.
Việc áp dụng một giải pháp đơn lẻ nào đó sẽ không có khả năng giải quyết
được vấn đề này, dù chỉ là làm chậm một cách có ý nghĩa việc phá rừng
hiện nay. Trong quá trình áp dụng các giải pháp bảo vệ rừng, cần chú ý bảo
đảm quyền lợi của những người dân bản xứ với nền văn hóa, lối sống và
kiến thức bản địa của họ.
- Thành lập khu bảo tồn thiên nhiên và các vườn quốc gia
Đây được coi là biện pháp quan trọng nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên
rừng, trước hết là nguồn tài nguyên sinh vật. Tuy vườn quốc gia và khu bảo
tồn thiên nhiên có những yêu cầu riêng nhưng đều được vây dựng trên cơ
sở bảo tồn sự đa dạng sinh học, đa dạng về mục đích sử dụng với mục tiêu
hàng đầu là bảo tồn thiên nhiên.
Các vườn quốc gia trên thế giới đã được thành lập từ rất sớm ở nhiều
nước khác nhau, ở Nam Phi có vườn quốc gia được thành lập từ 1898, ở Ấn
Độ 1908, ở Achentina tử 1909, ở Astralia từ 1915. Đến năm 1990 đã có
khoảng 560 khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia được thiết lập ở vùng
rừng mưa nhiệt đới, với tổng diện tích khoảng 780.000 km 2 (chiếm 4%

Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp và xác định làm phần ổn định.
Thực hiện giao đất khoán rừng bảo đảm cho mọi khu rừng đều có chủ rừng.
Áp dụng các chính sách và hình thức thích hợp trong quản lý rừng phòng
hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Thực hiện các chương trình trồng rừng
và xã hội về nghề rừng. Tiếp tục cuộc vận động định canh, định cư thông
qua các dự án của Nhà nước. Vấn đề định canh định cư, hạn chế đốt nương
làm rẫy, nâng cao đời sống và dân trí cho đồng bào thiểu số ở các vùng
rừng núi là một trong những chính sách quan trọng mà Chính phủ quan tâm
nhằm tăng cường việc bảo vệ và quản lý tốt rừng tự nhiên hiện có.
Hiện trạng nghành lâm nghiệp cũng đang tiến hành nghiên cứu soạn
thảo các quy định chuẩn bị cho việc cấp chứng chỉ rừng. Trước mắt cần xác
định các tiêu thức chủ yếu cho 1 khu rừng được cấp chứng chỉ. Ngoài các
giải pháp thực hiện trong nước, Việt Nam còn ký kết và thực hiện các công
6


ước quốc tế và đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm thực hiện một cách có hiệu
quả việc bảo vệ và PTBV nguồn tài nguyên rừng.
- Một số chương trình trồng rừng lớn
Chương trình 327 đã được thực hiện từ 1993, sau đó được bổ sung
vào năm 1995. Năm 1998 chúng ta bắt đầu thực hiện chương trình 5 triệu
ha rừng. Mục tiêu chính của chương trình 327 là nhằm phủ xanh đất trống
đồi trọc, bảo vệ rừng và MT. Định canh định cư gắn liền với gắn liền với
phát triển kinh tế xã hội. Ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho những người mới định cư. Tăng cường sự phục hồi tài nguyên đất
nước. Tăng cường an ninh quốc phòng quốc gia. Kết quả của chương trình
327 đã quản lý và bảo vệ 1,6 triệu ha rừng; trồng được trên 1,3 triệu ha
rừng.
Chương trình phục hồi 5 triệu ha rừng (gọi là chương trình 5 triệu
ha)

trọng đối với các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Các phương
thức được sử dụng trong báo cáo ĐTM của các dự án khai thác và chế biến
khoáng sản bao gồm danh mục điều kiện môi trường, ma trận môi trường,
ma trận môi trường, phân tích lợi ích và chi phí mở rộng, mô hình lan
truyền chất ô nhiễm…
Kiểm toán môi trường (kiểm toán các chất thải) các cơ sở đang hoạt
động khai thác và chế biến khoáng sản có mục đích xác định số lượng chất
thải mà cơ sở đang tạo ra, các tác động đến môi trường xung quanh của nó
và những biện pháp hạn chế các tác động tiêu cực đến MT. Thanh tra các
cơ sở đang hoạt động nhằm kiểm tra sự tuân thủ về mặt pháp lý và kỹ thuật
công nghệ các quy định luật pháp của nhà nước về BVMT.
Các công trình xử lý và giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn cũng rất đa
dạng. Để xử lý bụi có thể sử dụng phương pháp phun nước, tạo sương mù,
tạo độ ẩm cho nguyên liệu khoáng sản… Để hạn chế tác động của khí độc
hại có thể sử dụng phương pháp thu hồi khí độc, thông khí hoặc pha
loãng… để hạn chế tác động ô nhiễm nước mặt trên các khai trường mỏ, có
thể sử dụng các công trình kè đập chắn đất đá thải trên dòng chảy, lọc và
8


xử lý nước thải.. Đối với dây chuyền tuyển khoáng có thể sử dụng việc
quay vòng nước thải trong công nghệ sản xuất, lọc nước thải…Để hạn chế
tác động đối với tài nguyên rừng, đất, địa hình, cảnh quan có thể áp dụng
các biện pháp trồng cây và phủ xanh bãi thải…
Các công cụ kinh tế có thể sử dụng hiệu quả cho cac hoạt động khai
thác và chế biến khoáng sản là đặt cọc và hoàn trả, địa tô đất, sử dụng thuế
và phí môi trường, … Các hoạt động quan trắc MT đối với vùng khai thác
khoáng sản hoặc mỏ và cơ sở chế biến koáng sản lớn thường rất cần thiết
trong công tác BVMT.
b. Sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản

Phải sử dụng một cách có hiệu quả và hết sức tiết kiệm quĩ đất cho
phát triển công nghiệp. Phải quy hoạch thành các khu công nghiệp có cơ sở
hạ tầng, xử lý chất thải tập trung để tiết kiệm quỹ đất và hạn chế ô nhiễm
đất. Khi di dời các cơ sở công nghiệp, cần đánh giá mức độ ô nhiễm đất để
có kế hoạch xử lý ô nhiễm và tái sử dụng hợp lý.
Cần kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, nhập khẩu và sử dụng các loại
phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Khắc phục tình trạng lạm dụng các loại
phân vô cơ và hoá chất trong sản xuất nông nghiệp làm bạc màu, thoái hoá
đất, ô nhiễm các nguồn nước và suy giảm đa dạng sinh học các vùng nông
thôn, đặc biệt các vùng đất có năng suất cao. Nghiên cứu thay đổi phương
thức canh tác theo hướng đảm bảo cân bằng sinh thái và bền vững, nâng
cao chất lượng đất, giảm diện tích đất thoái hoá, bạc màu. Áp dụng các
biện pháp canh tác trên đất dốc một cách khoa học, chống rửa trôi, xói
mòn. Cần mở rộng chương trình IPM, tăng cường dùng phân hữu cơ,
phòng trừ sâu bệnh bằng phương pháp sinh học. Chiến lược phát triển nông
nghiệp bền vững bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp gắn liền với chiến lược
khai thác hợp lý tài nguyên đất, với bảo vệ tài nguyên và môi trường đất.
Các vùng đất phải cải tạo để sử dụng nhưng có vùng đất phải sử dụng phù
hợp với sinh thái, tránh tốn kém trong đầu tư quá đắt mà hiệu quả mang lại
không lớn.

10


Từng bước bố trí tại các khu dân cư ở cả nông thôn và đô thị, ở
những nơi đã hình thành kết hợp với quy hoạch, xây dựng các khu dân cư
mới phát triển theo hướng vừa chú ý tới sinh thái môi trường như cây xanh,
lâm viên, công viên… vừa đáp ứng các nhu cầu về giao thông, thông tin
liêu lạc, giáo dục, văn hóa, thể thao, du lịch và các công trình phúc lợi khác
Khai thác sử dụng đất đai phải đặc biệt coi trọng nguyên tắc quốc phòng

bền vững nguồn nước mặt và nước ngầm. Thực hiện việc quy hoạch và
quản lý các lưu vực sông . Đây là biện pháp mang tính chất pháp lý, thiết
chế và hành chính để áp dụng cho việc sử dụng và phân phối tài nguyên
nước, đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên nước. Tăng cường công tác
hướng dẫn, tuyên truyền luật tài nguyên nước. Tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra và xử lý kịp thời các nguồn gây ô nhiễm tài nguyên nước.
5. Quản lý động thực vật hoang dã
Để tạo điều kiện gìn giữ và phát triển nguồn tài nguyên đa dạng sinh
học quan trọng cần bảo vệ các chức năng sinh thái của rừng và thảm thực
vật, bảo vệ tốt nguồn nước, môi trường không khí, biển… Tổ chức quản lý
tổng hợp theo nguyên tắc phát triển bền vững.
Công tác quản lý và bảo vệ rừng nguyên sinh, các khu bảo tồn thiên
nhiên cần được chú trọng trước hết. Bên cạnh đó phải có quy hoạch khôi
phục lại những vùng rừng đã bị tàn phá và phát triển trồng mới rừng. Cần
có biện pháp quản lý chống cháy rừng.
Chức năng sinh thái có giá trị lớn nhất đối với thực vật tự nhiên là
bảo vệ lưu vực nước. Rừng đầu nguồn giúp giữ lại lượng nước mưa, điều
hòa dòng chảy, duy trì nguồn nước cung cấp cho đòng bằng, hạn chế lũ lụt
và hạn hán, chống xói mòn đất. Điều hòa dòng chảy là cực kỳ quan trọng
cho kinh tế nông nghiệp, riêng sản xuất lúa phải chịu đến 50% ảnh hưởng
từ việc mất rừng đầu nguồn. Duy trì tốt nguồn nước sạch cũng góp phần
bảo tồn các hệ sinh thái nước, các loài cá, các loài lưỡng cư, than mền,…
Phát triển lâm nghiệp bền vững sẽ tạo điều kiện duy trì và phát triển
nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên đất đai,… Khôi phục
sinh cảnh tự nhiên, kiểm soát cháy rừng,…
12


Quản lý bền vững tài nguyên biển, vùng ven bờ, các vùng đất ngập
mặn cũng là quản lý các nguồn tài nguyên động thực vật hoang dã thuộc

quản lý nhà nước có liên quan. Luật bảo vệ môi trường cùng các văn bản
dưới luật, đặc biệt đề cập đến vấn đề khai thác và sử dụng bền vững tài
nguyên thiên nhiên, kiểm soát việc mua bán các sinh vật thuộc diện quý
hiếm hay đặc hữu, ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm cần được quán triệt
thực hiện. Đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, đánh giá và bảo tồn đa
dạng sinh học cần được đào tạo về chuyên môn.
Công tác phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo vệ giữ gìn
nguồn tài nguyên thiên nhiên cần làm thường xuyên, rộng rãi. Bảo tồn đa
dạng sinh học chỉ có thể có hiệu quả nếu bản thân những người sử dụng tài
nguyên được thuyết phục và hiểu rõ về nhu cầu bảo vệ và quản lý tốt hơn.
Nếu họ thấy lợi ích từ việc quản lý và bảo vệ tốt hơn nguồn lợi thiên nhiên
thì họ sẽ tăng cường kiểm soát nguồn tài nguyên của họ.
3.3.3.2 Quản lý tài nguyên thiên nhiên trong phát triển kinh tế
1) Phát triển kinh tế
- Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền
kinh tế. Nó bao gồm sự thay đổi về lượng và chất: là quá trình hoàn thiện 2
vấn đề về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia.
- Phát triển kinh tế bao gồm 3 nội dung cơ bản là: tăng trưởng kinh
tế, mức độ biển đổi cơ cấu kinh tế và sự tiến bộ trong xã hội
2) Quản lý tài nguyên thiên nhiên trong phát triển kinh tế
- Phần lớn sự tăng trưởng kinh tế dựa trên sự khai thác mạnh mẽ các
nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Sử dụng đất tăng mạnh, tài nguyên nước ngày càng bị lạm dụng,
rừng tự nhiên bị khai thác lấy gỗ, trữ lượng cá cho hoạt động đánh bắTbỊ
cạn kiệt, và tài nguyên khoáng sản ngày càng bị khai thác nhiều hơn.
Không có gì sai nếu sử dụng tài nguyên thiên nhiên để tăng trưởng kinh tế.
Nhưng để phát triển bền vững, cần phải đảm bảo rằng các tài nguyên có thể
tái tạo được khai thác ở mức thích hợp để có thể bổ sung, và lợi nhuận thu

14

tế (WTO) vào năm 2006. Hầu hết nguồn tài nguyên nước mặt của Việt
15


Nam đều bắt nguồn từ lãnh thổ nước ngoài. Do đó Việt Nam sẽ ảnh hưởng
bởi các nhà máy thủy điện lớn trên sông Mê Kông.
Ngành chế biến gỗ của Việt Nam lệ thuộc khá mạnh mẽ vào nguồn
nguyên liệu nhập khẩu. Ngoài ra, nhiều sản phẩm của ngành này được sản
xuất để xuất khẩu, và các thị trường nhập khảu lại đang đặt ra những quy
định mới, dẫn đến những yêu cầu mới đối với Việt Nam.
Ngành đánh bắt hải sản và nuôi trồng thủy sản cũng chủ yếu tập
trung vào định hướng xuất khẩu, trong đó ngành đánh bắt hải sản phải cạnh
tranh với các đội tàu nước ngoài ở các vùng biển quốc tế. Một số thị trường
quan trọng nhập khẩu sản phẩm hải sản của Việt Nam sẽ đòi hỏi các bằng
chứng về quản lý tài nguyên bền vững tại Việt Nam.
Nghành khai thác khoáng sản cũng phát triển mạnh theo định hướng
xuấ khẩu. Tất cả những tình hình này đều có ảnh hưởng lớn đến chương
trình cải cách của Việt Nam. Việt Nam đã và đang thực hiện một chương
trình cải cách năng động - cải cách quản lý tài nguyên thiên nhiên trong
phát triển kinh tế gắn với các mục tiêu về hiệu quả kinh tế bền vững môi
trường.
3) Các giải pháp để quản lý tài nguyên thiên nhiên trong phát triển
kinh tế
- Có biện pháp tạo thu nhập cho người dân như du lịch sinh thái, sử
dụng khi sinh học (biogas) và lò tiết kiệm năng lượng để giảm thiểu nhu
cầu sử dụng, cũng như tập trung vào công tác quản lý rừng và đất nông
nghiệp. Những biện pháp nằm giảm bớt nhu cầu của người dân địa phương
trong việc khai thác trái phép nguồn tài nguyên.
- Sản xuất và sử dụng khí sinh học cũng như việc phát triển sinh kế
cho người dân tại các tỉnh nghèo.

triển.
5. Vai trò của nhà nước trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên.
- Để nâng cao vai trò quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường.
Toàn ngành tài nguyên và môt trường, tập trung thực hiện các nhiệm vụ

17


trọng tâm đó là quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm tăng trưởng
kinh tế phát triển bền vững.
- Chú trong xây dựng hệ thống quản lý về tài nguyên và môi trường
từ trung ương đến địa phương theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính,
phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Có sự kết hợp
rộng rãi và có hiệu quả giữa ngành tài nguyên và môi trường với các ngành
khác. Nhằm mục đích phát huy tối đa và đa dạng hóa các nguồn lực của xã
hội tham gia giải quyết tốt các vấn đề tài nguyên môi trường.
Nhà nước đã ban hành một số nghị định về luật thuế và thực hiện
pháp lệnh thế. Đã góp phần bảo vệ khai thác sử dụng tài nguyên môi
trường.
Nhà nước đã ban hành một số nghị định về luật thuế và thực hiện
pháp lệnh thuế đã góp phần bảo vệ khai thức sử dụng tài nguyên tiết kiệm,
hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ một trường và bảo đảm nguồn thu ngân sách
nhà nước.
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống
nhất quản lý bảo vệ môi trường của cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ
môi trường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện giáo dục đào tạo, nghiên cứu
khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật để bảo vệ
môi trường.
Tăng cường đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ quản lý về
môi trường. Đầu tư nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội có ý

Việt Nam có 3260 km bờ biển với vùng lãnh thổ rộng tới 226000 km2, diện
tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là 2 triệu ha trong đó 1 triệu ha nước
ngọt; 0,62 triệu ha nước lợ và 0,38 triệu ha nước mặn. Phần lớn diện tích
này đã được đưa vào sử dụng để khai thác hoặc nuôi trồng thuỷ sản.
- Tài nguyên rừng:
Nước ta có tới 3/4 diện tích là đồi núi và rừng che phủ hơn 30% diện tích.
Rừng Việt Nam là kho tài nguyên quí báu, là bộ phận quan trọng của môi
trường sinh thái, rừng làm cho không khí trong lành, điều hoà
Độ che phủ của rừng cao và hợp lý làm giảm dòng chảy mặt ngay sau mưa,
làm chậm lũ, điều hoà dòng chảy giữa mùa mưa và mùa khô...
- Tài nguyên sinh vật:
- Hệ thực vật:
19


Việt Nam là một quốc gia có sự đa dạng sinh học, hệ thực vật có khoảng
14.000 loài thực vật bậc cao có mạch; đã xác định được khoảng 7.000 loài
thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm, 600 loài rong biển. Trong đó
có 1.200 loài thực vật đặc hữu, hơn 2.300 loài thực vật đã được sử dụng
làm lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, tinh dầu, vật liệu trong xây
dựng. Tỷ lệ số loài thực vật dùng làm dược liệu ở nước ta lên tới 28%. Hệ
thực vật nước ta có nhiều loài quý hiếm như gỗ đỏ, gụ mật, Hoàng Liên
chân gà, ba kích, hoàng đàn, cẩm lai, pơ mu…
- Hệ động vật:
Tính đến nay đã xác định được ở nước ta có 275 loài thú, 1.009 loài và
phân loài chim, 349 loài bò sát và lưỡng cư, 527 loài cá nước ngọt, khoảng
2.038 loài cá biển, 12.000 loài côn trùng, 1.600 loài động vật giáp xác, 350
loài động vật da gai, 700 loài giun nhiều tơ, 2.500 loài động vật thân mềm,
350 loài sa nhô được biết tên…
Hệ động vật Việt Nam có mức độ đặc hữu rất cao, 80 loài thú và phân loài

Việt Nam ""rừng vàng biển bạc"" là điều hoàn toàn đúng, nhưng chưa đủ.
Việt Nam có trên 5.000 mỏ, với khoảng 60 loại khoáng sản, nhưng phần
lớn lại là loại mỏ vừa và nhỏ, hầu hết đều không đủ khai thác với quy mô
công nghiệp. Thêm vào đó, nguồn tài nguyên không tái tạo này đang đứng
trước nguy cơ cạn kiệt vì sự khai thác và sử dụng quá lãng phí.
Thất thoát từ khai thác đến chế biến...
Hiệu quả kém vì công nghệ khai thác lạc hậu

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status