Tiểu luận môn luật kinh tế nâng cao Nhận xét nhận định Các thương nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam được tự do thực hiện các hoạt động thương mại - Pdf 35

Thảo Luận Luật Kinh Tế Nâng Cao
Nhóm 1 - QLKT
Danh sách nhóm:
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Nhóm 1 - QLKT

Họ và Tên
Trần Xuân Bách
Mai Thị Ngọc Bích
Hà Thế Dương
Lê Thị Hương Giang
Phạm Thúy Hà
Dương Thị Thanh Hải
Lại Thị Thúy Hằng
Lê Bích Hằng
Từ Hồng Hạnh

Page 1


Đề Tài Thảo Luận:

hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ. Nhà nước
thực hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về hoạt động thương mại đối với một số
hàng hóa, dịch vụ hoặc tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia. Chính phủ quy
định cụ thể danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền Nhà nước. Chính vì phải
‘đăng ký kinh doanh”, nên về nguyên tắc, thương nhân không thể kinh doanh những
ngành nghề mà pháp luật cấm. Chẳng hạn, một doanh nghiệp mua bán chất ma túy
chắc chắn là vi phạm pháp luật và cũng không có cơ quan nào cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực mua bán
chất ma túy. Pháp luật Việt Nam quy định (Điều 10 Luật Thương Mại 2005) mọi
thương nhân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại,
không phân biệt thành phần kinh tế.
Tuy nhiên, “lý thuyết” là vậy, chứ trên thực tế thương nhân (doanh nghiệp) Nhà
nước ( dù tại thời điểm này không còn nhiều) vẫn thường được “ưu ái” và có những
“đặc quyền đặc lợi” hơn các doanh nghiệp tư nhân nhiều. Với nguyên tắc “bảo vệ lợi
ích chính đáng của người tiêu dùng”, luật Thương mại qui định trong quá trình thực
hiện hoạt động thương mại, thương nhân có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho
người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách
Nhóm 1 - QLKT

Page 3


nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó. Thương nhân thực hiện hoạt động
thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ
mà mình kinh doanh.
Nhắc tới thương nhân theo luật nước Việt Nam thì chúng ta cũng không thể chỉ
nhắc tới thương nhân Việt Nam mà còn phải đề cập đến thương nhân nước ngoài có
hoạt động thương mại ở Việt Nam bởi chính các thương nhân này góp phần không
nhỏ trong việc thúc đẩy quan hệ ngoại giao, giao dịch, buôn bán hàng hóa quốc tế với
các quốc gia khác trong khu vực cũng như trên quốc tế. thương nhân nước ngoài hoạt


Page 4


Mở tài khoản bằng ngoại tệ, bằng đồng Vn có gốc ngoại tệ tại ngân hàng được
phép hoạt động tại VN và chỉ được phép sử dụng tài khoản này vào họa động
của văn phòng đại diện.
5. Nhập khẩu các vật dụng cần thiết cho hoạt động của văn phòng đại diện và
phải nộp thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam.
6. Có con dấu mang tên văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt
Nam.
7. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
• Quyền và nghĩa vụ của chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam:
Tại điều 19 luật thương mại 2015, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt
Nam có những quyền sau:
1. Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của
Chi nhánh.
2. Tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại Chi
nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.
3. Giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội dung hoạt động được quy
định trong giấy phép thành lập Chi nhánh và theo quy định của Luật này.
4. Mở tài khoản bằng đồng Việt Nam, bằng ngoại tệ tại ngân hàng được phép
hoạt động tại Việt Nam.
5. Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.
6. Có con dấu mang tên Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.
7. Thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại khác
phù hợp với giấy phép thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
8. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Điều 20. Nghĩa vụ của Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam

ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là
nước thành viên thì sẽ được coi là thương nhân Việt Nam.
Cụ thể như sau : Theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư 2005 định
nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước
ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại ViệtNam hoặc là doanh nghiệp
Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.
Ngoài ra tại khoản 3, 4 điều 11 nghị định số 102/2010/NĐ-CP của chính phủ có
quy định như sau:
II.

- Trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật
chuyên ngành có quy định khác, doanh nghiệp đã thành lập ở Việt Nam có sở hữu của
nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư,
kinh doanh như đối với nhà đầu tư trong nước.
- Trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật
chuyên ngành có quy định khác, doanh nghiệp đã thành lập ở Việt Nam có sở hữu của
nhà đầu tư nước ngoài trên 49% vốn điều lệ được áp dụng điều kiện đầu tư, kinh
doanh như đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Phân tích
Thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam dưới ba hình thức
một chi chánh, một văn phòng đại diện hoặc một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
a) Văn phòng đại diện và chi nhánh của thương nhân nước ngoài
Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ đại diện
theo ủy quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ cho các lợi ích đó. Tổ chức và
2.

Nhóm 1 - QLKT


thương nhân. Đại diện cho thương nhân, như theo luật thương mại 2005 là việc một
thương nhân ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại
diện) để hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó
và được hưởng thù lao về việc đại diện. Đại diện cho thương nhân trong luật thương
mại có những đặc điểm của dạng đại diện theo ủy quyền trong luật dân sự quan hệ đại
diện xác lập trên nguyên tắc thỏa thuận, theo ý chí của các bên. Nguyên tắc thỏa
thuận theo ý chí giữa các bên có khi giữa hai chủ thể (bên đại diện và bên được đại
diện) độc lập với nhau. Trong khi đó, văn phòng đại diện là chủ thể được tạo lập bởi
Nhóm 1 - QLKT

Page 7


thương nhân nước ngoài, hay văn phòng đại diện thuộc thương nhân nước ngoài
(thương nhân tạo lập) thì đặc điểm thỏa thuận, theo ý chí các bên là không thể có.
Vậy nếu văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài thừa ủy nhiệm của thương
nhân nước ngoài (thông qua trưởng văn phòng đại diện) ký hợp đồng thay thương
nhân nước ngoài thì mối quan hệ giữa văn phòng đại diện và thương nhân nước ngoài
này không được xem là mối quan hệ theo ủy quyền.
Theo luật thương mại 2005 văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài được
thành lập với mục đích tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động thương
mại. Mặc dù văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài chỉ có chức năng văn
phòng liên lạc; Xúc tiến việc xây dựng các dự án hợp tác ; nghiên cứu thị trường;
Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các hợp đồng đã ký kết với các đối tác Việt Nam
hoặc liên quan đến thị trường Việt Nam của thương nhân nước ngoài mà mình đại
diện là không được ký kết các hợp đồng mua bán, kinh doanh sinh lợi nhưng văn
phòng đại diện vẫn phải thực hiện những hoạt động thiết yếu nhằm duy trì bộ máy
hoạt động như ký kết hợp đồng thuê trụ sở, thuê mua các phương tiện, vật dụng cần
thiết cho hoạt động của văn phòng đại diện, tiễn dụng lao động làm việc trong văn
phòng. Chính vì vậy pháp luật nước ta cho phép văn phòng đại diện tự tiến hành ký

Không được thực hiện chức năng làm đại diện cho thương nhân khác không được cho
thuê lại trụ sở chi nhánh, trụ sở văn phòng đại diện; Không được thành lập văn phòng
đại diện chi nhánh trực thuộc.
So với quy định cũ, luật thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành như
Nghị định 72/2006NĐ- CP có điểm mới trong quy định về quyền và nghĩa vụ cho chi
nhánh, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, đặt biệt đã quy
định thêm thời hạn hoạt động tối đa của chi nhánh văn phòng là 05 năm thay vì
không quy định như trước. Hoàn thiện nhiều quy định như quy định rõ chi nhánh, văn
phòng đại diện của thương nhân nước ngoài không được thành lập chi nhánh, văn
phòng đại diện thay vì quy định văn phòng đại diện không được thành lập chi nhánh,
chi nhánh không được thành lập văn phòng đại diện.
Về nghĩa vụ tài chính của văn phòng đại diện: Văn phòng đại diện không làm báo
cáo thuế mà chỉ làm báo cáo các vấn đề thu, chi, nhập xuất hàng. Nói chung là các
báo cáo trừ báo cáo thuế cho phía thương nhân tạo lập, và việc này chỉ theo dõi nội
bộ. Sổ sách hình thức sổ sách hoạch toán...cũng phụ thuộc vào phía thương nhân tạo
lập. Cụ thể luật quy định như sau: Không được thực hiện hoạt động sinh lợi trực tiếp
tại Việt Nam. Chỉ được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi
mà Luật này cho phép. Không được giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã
giao kết của thương nhân nước ngoài, trừ trường hợp Trưởng Văn phòng đại diện có
giấy uỷ quyền hợp pháp của thương nhân nước ngoài hoặc các trường hợp quy định
tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 17 của luật thương mại 2005. Nộp thuế, phí, lệ phí và
thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam. Báo cáo
hoạt động của Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam. Các nghĩa
vụ khác theo quy định của pháp luật.
b) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Nếu thương nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài thì hoạt động của những doanh nghiệp này phải hoàn toàn
Nhóm 1 - QLKT

Page 9

Nhận định Các thương nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam được tự do
thực hiện các hoạt động thương mại như các thương nhân Việt Nam chỉ đúng khi
các thương nhân này thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Các trường hợp khác như việc thành lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện thì họ sẽ
3.

Nhóm 1 - QLKT

Page 10


bị ràng buộc và chỉ được thực hiện những hoạt động mà luật pháp cho phép các
thương nhân nước ngoài thực hiện tại Việt Nam.

Nhóm 1 - QLKT

Page 11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status