TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỆ
ĐÀO
TẠO SAU ĐẠI
HỌC
Môn học: LUẬT KINH TẾ
Đề tài:
Phân tích, đánh giá về số liệu, cơ cấu
các loại hình DN, lĩnh vực KD & quy mô
các DN được thành lập ở TPHCM trong
5 năm gần đây.
Nguyên nhân có loại hình DN được
chọn nhiều nhất và ít nhất
GVHD: PGS. TS. Bùi Xuân Hải
Khóa 22 – Lớp Đêm 4 – Nhóm 4
Quyên
8. Trần Thị Cẩm
Tú
10.Nguyễn Thị Nhật
Vy
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 1
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 2
III. Nguyên nhân loại hình DN được chọn ít 18
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21 CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 4
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và hội
nhập nền kinh tế thế giới. Do vậy sự đa dạng về các thành phần kinh tế cùng các hoạt động
kinh doanh ở nước ta ngày càng được củng cố và phát triển. Các quyền tự do kinh doanh của
các chủ đầu tư cũng ngày càng được nâng cao, họ có quyền tự do lựa chọn cho mình loại hình
kinh doanh phù hợp nhất. Trong đó, xu hướng thành lập các doanh nghiệp, công ty ngày càng
gia tăng ở nước ta.
Trong vòng 5 năm trở lại đây, từ 2008-2012 cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế
giới đã ảnh hưởng không ít đến xu hướng thành lập DN ở nước ta. Thực tế, môi trường kinh
doanh ngày càng khó khăn, những ảnh hưởng của bối cảnh kinh tế chung của toàn cầu tác
động đến tất cả các doanh nghiệp trên thế giới, không riêng gì ở Việt Nam.
Song song với việc khiến nhiều công ty sụp đổ, khủng hoảng kinh tế là cơ hội tuyệt vời
để thành lập và phát triển doanh nghiệp cho các nhà đầu tư. Việc lựa chọn loại hình doanh
nghiệp phù hợp chính là rào cản đầu tiên khiến các nhà đầu tư băn khoăn. Vì vậy nhóm xin
được chọn đề tài: “Phân tích, đánh giá về số liệu, cơ cấu các loại hình doanh nghiệp, lĩnh
vực kinh doanh và quy mô các doanh nghiệp được thành lập ở TPHCM trong 5 năm gần
đây. Nguyên nhân có loại hình doanh nghiệp được chọn nhiều nhất và ít nhất” nhằm mục
đích làm rõ vấn đề thành lập doanh nghiệp hiện nay ở nước ta.
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 5
và các nghĩa vụ tài chính khác trong phạm vi tài sản của công ty.
Có 2 loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn:
a/ Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: Điều 38 Luật doanh nghiệp 2005
quy định:
- Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50;
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 6
- Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;
- Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43, 44
và 45 của Luật doanh nghiệp;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần.
b/ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Điều 63 Luật doanh nghiệp 2005 quy
định:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một
cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần.
1.1.3 Công ty hợp danh:
Theo Điều 130 luật doanh nghiệp 2005 Công ty hợp danh thì Công ty hợp danh là
doanh nghiệp, trong đó:
- Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh
dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp
danh có thể có thành viên góp vốn;
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
3,043
Công ty TNHH
14,997
19,524
15,852
19,751
DNTN
1,450
1,388
784
913
Công ty hợp danh -
-
-
Tổng cộng
19,576
24,484
19,792
24,413
23,707
Nguồn: Trang web: (Sở KH&ĐT TPHCM)
Tỷ trọng doanh nghiệp đăng ký mới theo loại hình doanh nghiệp
Đơn vị: %
Loại hình
2008
100.00%
100.00%
100%
100.00%
Nguồn: Trang web:
Dựa vào số liệu trên thì trong thời gian qua các doanh nghiệp tại TPHCM chỉ đăng ký
mới 3 loại hình doanh nghiệp là Công ty cổ phần, công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân,
loại hình công ty hợp danh hầu như không được các doanh nghiệp lựa chọn. Theo số liệu thống
kê của Sở Kế hoạch Đầu tư TP.HCM thì loại hình công ty hợp danh từ năm 1995 đến 2010 chỉ
có 9 doanh nghiệp đăng ký. Trong các loại hình doanh nghiệp được đăng ký thì Công ty
TNHH có tỷ lệ cao hơn hẳn, từ năm 2008 đến năm 2012 loại hình doanh nghiệp này trung bình
chiếm khoảng 80% doanh nghiệp đăng ký mới, loại hình công ty cổ phần khoảng 15%, còn lại
là doanh nghiệp tư nhân.
II. Tình hình doanh nghiệp được thành lập theo quy mô
Theo tiêu thức quy mô, các doanh nghiệp được phân làm ba loại:
- Doanh nghiệp quy mô lớn.
- Doanh nghiệp quy mô vừa.
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 8
- Doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ thì quy mô của DN vừa và
nhỏ được xác định như sau:
Quy mô Khu vực
Doanh nghiệp
siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
xuống
từ trên 10
người đến 200
người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
III. Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng trở
xuống
từ trên 10
người đến 50
người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50
người đến 100
người
Để thuận lợi khi phân biệt doanh nghiệp theo quy mô thì chỉ xem xét trên mức vốn điều lệ của
doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp theo quy mô vốn được xác định như sau:
- Doanh nghiệp quy mô lớn: Trên 100 tỷ đồng:
- Doanh nghiệp quy mô vừa: Trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
Tỷ lệ doanh nghiệp theo quy mô
Đơn vị: %
Doanh nghiệp
2008
2009
2010
Doanh nghiệp lớn
1.00%
0.76%
0.89%
Doanh nghiệp vừa
5.05%
4.16%
4.10%
Doanh nghiệp nhỏ
93.95%
95.09%
95.01%
Tổng cộng
100.00%
100.00%
100.00%
Nguồn: Trang web:
Như vậy theo quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng cao trong loại hình
doanh nghiệp tại TP.HCM, nếu loại trừ doanh nghiệp siêu nhỏ thì tỷ lệ doanh nghiệp vừa và
nhỏ chiếm khoảng 98% doanh nghiệp.
DNVVN chiếm tỷ lệ cao trên tổng số doanh nghiệp ngày càng đóng góp vai trò to lớn
đối với nền kinh tế như: đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng GDP, cụ thể năm 2011 cả
nước có 500.000 DNVVN, chiếm 98% số lượng doanh nghiệp, đóng góp hơn 40% GDP cả
nước, 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, gần 80% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận
- Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí thấp:
DNVVN có nguồn vốn kinh doanh ít nên cũng ít đầu tư vào tài sản cố định do đó dễ
đổi mới trang thiết bị khi có điều kiện, nhờ sự phát triển tiến bộ khoa học và công nghệ
mới, đặc biệt là công nghệ thông tin đã tạo ra khả năng cho việc ứng dụng khoa học
công nghệ hiện đại vào hoạt động của các DNVVN từ đó nâng cao năng suất và hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Ngoài ra DNVVN cũng được sự quan tâm, hỗ trợ của cơ quan nhà nước, cụ thể Chính
phủ đã ban hành các quy định nhằm tạo môi trường về pháp luật và các cơ chế, chính
sách thuận lợi cho DNVVN phát triển:
Theo quyết định số 236/2006/QĐ-TTg ngày 23/10/2006 v/v phê duyệt kế hoạch
phát triển DNVVN 5 năm (2006 – 2010) thì mục tiêu nhằm đẩy nhanh tốc độ
phát triển DNVVN, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao năng lực
cạnh tranh quốc gia, các DNVVN đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng cho
kinh tế. Để đạt được mục tiêu thì Chính phủ đã đưa ra 7 nhóm giải pháp gồm:
Đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh; tạo điều kiện về đất đai và mặt bằng
sản xuất; tạo điều kiện DNVVN tiếp cận nguồn vốn; hỗ trợ nâng cao năng lực
cạnh tranh; phát triển nguồn nhân lực; tạo lập môi trường tâm lý xã hội và quản
lý thực hiện kế hoạch phát triển DNVVN.
Ngày 30/6/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP áp dụng
tám chính sách căn bản để hỗ trợ các DNNVN phát triển, gồm: Chính sách trợ
giúp tài chính; mặt bằng sản xuất; đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình
độ kỹ thuật; xúc tiến mở rộng thị trường; tham gia kế hoạch mua sắm, cung ứng
dịch vụ công; thông tin và tư vấn; nguồn nhân lực; vườn ươm doanh nghiệp.
Ngày 07/09/2012 Chính phủ có Quyết định số 1231/2012/QĐ-TTg phê duyệt kế
hoạch phát triển DNVVN giai đoạn 2011 – 2015 theo đó Chính phủ khẳng định
phát triển DNVVN là chiến lược lâu dài, nhất quán và xuyên suốt trong chương
trình hành động của Chính phủ, là nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát
triển kinh tế quốc gia. Có 8 nhóm giải pháp được thực hiện trong giai đoạn này
bao gồm: Hoàn thiện khung pháp lý, hỗ trợ tiếp cận tài chính, hỗ trợ đổi mới
công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, cung cấp thông tin hỗ trợ, xây dựng hệ
69.04%
71.10%
72.90%
76.30%
Ngành công nghiêp - xây dựng
32.05%
30.52%
28.79%
26.50%
23.10%
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
0.08%
0.43%
0.11%
0.60%
0.60%
Tổng cộng
100.00%
100.00%
100.00%
100.00%
100.00%
(cục thống kê TPHCM)
Theo số liệu của Cục thống kê TPHCM thì số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng nhiều nhất, dao động khoảng 70%, đến năm 2012 thì
tỷ lệ loại hình doanh nghiệp này khoảng 76%, số lượng doanh nghiệp nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực công nghiệp và xây dựng trong năm 2008 và 2009 có tỷ trọng tương đối cao nhưng có
xu hướng giảm từ năm 2010 đến nay. Nguyên nhân các doanh nghiệp đang ký hoạt động kinh
doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ có thể kể đến như:
- Định hướng phát triển các ngành thuộc lĩnh vực thương mại dịch vụ của cả nước và
dịch vụ chiếm 53,6% GDP, công nghiệp - xây dựng chiếm 45,3% GDP, nông nghiệp
chiếm 1,1%; tỷ trọng giá trị gia tăng các ngành dịch vụ cao cấp tăng dần qua các năm,
từng bước đưa TP trở thành trung tâm thương mại, dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao
của cả nước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2001 là 7,4%, bình quân giai đoạn 2001 -
2005 là 10%, giai đoạn 2006 - 2010 là 11,2%/năm, bằng 1,2 lần tốc độ tăng trưởng
chung của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và trên 1,5 lần tốc độ tăng trưởng chung
của cả nước. Để có được kết quả này thì TPHCM bên cạnh việc phát triển 4 ngành
công nghiệp có hàm lượng khoa học – công nghệ và giá trị cao là cơ khí, điện tử - công
nghệ thông tin, hóa dược – cao su, chế biến lương thực thực phẩm, thành phố còn tập
trung phát triển 9 nhóm ngành dịch vụ trọng điểm trong đó tập trung nâng cao tỷ trọng
các ngành dịch vụ thương mại, tài chính ngân hàng, dịch vụ cảng, kho bãi, hậu cần
hàng hải và xuất nhập khẩu, vận tải đa phương thức, phát huy lợi thế của hệ thống cảng
biển, du lịch, bất động sản, công nghệ. 4 trong 9 ngành dịch vụ chủ yếu của TP (tài
chính - ngân hàng, du lịch, vận tải - dịch vụ cảng - kho bãi, bưu chính - viễn thông)
tăng trưởng mạnh cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu các ngành dịch vụ là đúng hướng.
Như vậy với những chính sách tập trung phát triển các ngành thương mại dịch vụ
của TPHCM trong thời gian qua đã theo đúng định hướng, chính sách của Đảng và
Nhà nước.
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 13
- Hiện nay tình trạng các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất thiếu nhân sự lao động
phổ thông diễn ra ngày càng nhiều nên các doanh nghiệp đăng ký trong ngành dịch vụ
tăng cũng nhằm mục đích tránh thâm dụng lao động.
- Quy mô về vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ cũng thấp hơn so
với các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất vì không phải đầu tư nhà xưởng, máy
móc thiết bị; hơn nữa vốn của các doanh nghiệp thương mại dịch vụ quay vòng vốn
nhanh, rủi ro thấp trong khi đó lĩnh vực công nghiệp sản xuất phải đầu tư vốn dài hạn.
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 14
công ty thường phải tiết lộ những tin tức tài chính quan trọng, những thông tin này có
thể bị đối thủ cạnh tranh khai thác.
- Phía các cổ đông thường thiếu quan tâm đúng mức, rất nhiều cổ đông chỉ lo nghĩ đến
lãi cổ phần hàng năm và ít hay không quan tâm đến công việc của công ty. Sự quan tâm
đến lãi cổ phần này đã làm cho một số ban lãnh đạo chỉ nghĩ đến mục tiêu trước mắt
chứ không phải thành đạt lâu dài. Với nhiệm kỳ hữu hạn, ban lãnh đạo có thể chỉ muốn
bảo toàn hay tăng lãi cổ phần để nâng cao uy tín của bản thân mình.
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 15
- Việc quản lý và điều hành công ty cổ phần phức tạp hơn do số lượng cổ đông có thể rất
nhiều và các cổ đông không có mối quan hệ quen biết nhau, thậm chí có thể có sự phân
hóa các cổ đông thành các nhóm đối kháng nhau về lợi ích.
- Công ty cổ phần bị đánh thuế hai lần. Lần thứ nhất thuế đánh vào công ty. Sau đó, khi
lợi nhuận được chia, nó lại phải chịu thuế đánh vào thu nhập cá nhân của từng cổ đông.
1.2 Công ty TNHH
* Ưu điểm
- Nhiều thành viên cùng tham gia góp vốn nên công ty TNHH thường có nguồn dồi dào
hơn doanh nghiệp tư nhân.
- Có tư cách pháp nhân do đó các thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản theo
tỉ lệ vốn góp (chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đưa vào kinh doanh) nên người
góp vốn ít gặp rủi ro hơn.
- Số lượng thành viên thường ít hơn công ty cổ phần, hơn nữa các thành viên của công ty
TNHH thường quen biết, tin tưởng nhau nên việc quản lý, điều hành công ty không có
nhiều phức tạp.
- Do có nhiều người hơn để tham gia điều hành công việc kinh doanh nên khả năng quản
lý toàn diện hơn doanh nghiệp tư nhân, các thành viên có trình độ kiến thức khác nhau,
có thể bổ sung cho nhau về các kỹ năng quản trị.
- Chế độ chuyển nhượng vốn của công ty được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ
dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên.
đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh nên công ty hợp danh dễ dàng
tạo được sự tin cậy với các đối tác.
- Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng thành viên ít, các
thành viên là những người có uy tín và tin tưởng nhau.
* Nhược điểm
- Các thành viên hợp danh cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản liên quan đến
các hoạt động của Công ty.
1.4 Doanh nghiệp tư nhân
* Ưu điểm
- Chủ sở hữu là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, có toàn quyền tự quyết
định cơ cấu tổ chức và điều hành hoạt động kinh doanh cũng như không phải phân chia
lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nhgiệp tạo sự tin tưởng cho các đối tác.
- Có quy mô lớn hơn hộ kinh doanh cá thể, không bị hạn chế về số lượng lao động.
- Chủ sở hữu có thể bán doanh nghiệp nếu muốn.
- Thủ tục thành lập DNTN đơn giản, dễ dàng.
- Người chủ sở hữu toàn quyền quyết định kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh doanh, do
vậy dễ kiểm soát các hoạt động.
- Có tính linh hoạt cao do người chủ có thể thay đổi ngành hàng kinh doanh của mình
theo ý muốn.
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 17
- Tính bí mật, mọi khoản lợi nhuận do doanh nghiệp đem lại đều thuộc về chủ doanh
nghiệp, không phải chia sẻ bí quyết nghề nghiệp hay kinh doanh với người khác.
- Giải thể dễ dàng, chủ doanh nghiệp có thể bán cơ sở kinh doanh cho người khác.
* Nhược điểm
- Không có tư cách pháp nhân, chủ sở hữu DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng
toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên dễ xảy ra
rủi ro khi hoạt động kinh doanh bị thua lỗ.
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 18
trong khối tài sản riêng của công ty mà các thành viên không phải chịu trách nhiệm liên
đới trả nợ thay cho công ty.
- Trường hợp công ty TNHH không còn khả năng trả nợ do các yếu tố không liên quan
đến tội phạm và yêu cầu phá sản được tòa án chấp nhận thì các thành viên không phải
chịu sức ép từ các chủ nợ, đây có thể được coi là một cách thức để người kinh doanh có
thể trốn nợ.
- Mặc dù loại hình công ty cổ phần có ưu điểm hơn Công ty TNHH ở chỗ có thể dễ dàng
huy động vốn trong công chúng thông qua việc phát hành cổ phiếu, dễ dàng chuyển
nhượng cổ phần nhưng doanh nghiệp vẫn lựa chọn hình thức công ty TNHH bởi lẽ: đa
số các doanh nghiệp Việt Nam đăng ký mới là các công ty mới khởi nghiệp hoạt động
kinh doanh và vốn kinh doanh còn hạn chế, trong khi đó công ty cổ phần chỉ dành cho
những đối tượng đã nắm vững hoạt động kinh doanh, quy mô hoạt động của doanh
nghiệp tương đối lớn và doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng quy mô hoạt động của công
ty; chế độ pháp lý đối với loại hình công ty cổ phần rất phức tạp do pháp luật phải bảo
vệ lợi ích của công chúng đầu tư, chế độ báo cáo tài chính khắt khe theo quy định của
luật kế toán.
III. Nguyên nhân loại hình DN được chọn ít
Công ty hợp danh là một loại hình doanh nghiệp có từ lâu trong lịch sử loài người. Tuy
nhiên, loại hình này mới chỉ được ghi nhận trong pháp luật của Việt Nam chưa lâu. Lần đầu
tiên loại hình doanh nghiệp này được ghi nhận là ở Luật Doanh nghiệp năm 1999[1]. Những
quy định hiện hành về công ty hợp danh tập trung trong Luật Doanh nghiệp năm 2005. Theo số
liệu thống kê của Sở Kế hoạch Đầu tư TPHCM thì loại hình công ty hợp danh từ năm 1995
đến 2010 chỉ có 9 doanh nghiệp đăng ký, số lượng doanh nghiệp đăng ký loại hình công ty hợp
danh ít là do:
- Vì hợp danh là hợp tác liên kết từ hai người trở lên và thường được các thành viên tự
thỏa thuận về cách thức góp vốn, việc chia quyền điều hành, phân chia lỗ, lãi và các cơ
quan nhà nước thường đề cao sự thỏa thuận của các bên. Chính vì vậy nếu không có sự
- Công ty hợp danh có thể được giải thể tự nguyện hoặc bắt buộc, khi mất khả năng
thanh toán có thể nộp đơn yêu cầu phá sản, tuy nhiên nghĩa vụ về tài sản của thành viên
hợp danh đối với chủ nợ chưa được thanh toán nợ không được miễn trừ (Điều 90 Luật
phá sản), điều đó có nghĩa là thành viên hợp danh vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn về
các khoản nợ của công ty ngay cả khi công ty hợp danh được Tòa án tuyên bố phá sản
- Ngoài ra thành viên hợp danh của công ty hợp danh bị tuyên bố phá sản không được
quyền thành lập doanh nghiệp, không được làm người quản lý doanh nghiệp trong thời
hạn từ 1 đến 3 năm kể từ ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP GVHD: PGS. TS. BÙI XUÂN HẢI
HVTH: Nhóm 4 – Đêm 4 – K22 Page 20
KẾT LUẬN
Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời đã tạo ra khung pháp lý cơ bản, tạo nền tảng pháp
lý vững chắc cho các hoạt động kinh doanh. Trong đó nó đã quy định một cách chi tiết và cụ
thể về vấn đề thành lập doanh nghiệp; tuy nhiên trong thực tế việc áp dụng những quy định của
pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều vướng mắc cần được giải quyết.
Việc phân tích ưu nhược điểm của các loại hình DN hiện nay ở Việt nam nhằm giúp
cho các nhà đầu tư dễ dàng chọn lựa loại hình DN phù hợp với quy mô, nguồn lực cũng như
chiến lược kinh doanh của mình.
Mặc dù pháp luật Việt Nam luôn khuyến khích các nhà đầu tư thành lập và phát triển
doanh nghiệp, tuy nhiên cần quản lý chặt chẽ hơn để loại ra khỏi danh sách các doanh nghiệp
hoạt động trá hình, thành lập nhằm mục đích buôn bán hóa đơn giá trị gia tăng, không thực
hiện nghĩa vụ thuế, không có địa chỉ rõ ràng, không treo biển hiệu mà vẫn hoạt động như hộ
kinh doanh cá thể, còn nợ thuế hoặc không thực hiện thủ tục phá sản, giải thể, chuyển đổi loại
hình doanh nghiệp theo quy định của pháp luật,… Như vậy thì các doanh nghiệp Việt Nam
mới có thể đứng vững và phát triển được trước xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới theo chủ
trương của Đảng và Nhà nước ta đề ra.
Trong quá trình thực hiện, mặc dù rất cố gắng để hoàn thiện đề tài nhưng do kiến thức
và thông tin cũng như số liệu có giới hạn nên đề tài không thể tránh khỏi thiếu sót. Rất mong