Đề tài: Cán cân thương mại và nguyên nhân gây thâm hụt thương mại ở
Việt Nam (từ năm 2000 đến nay)
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, vai
trò của cán cân thương mại ngày càng quan trọng và có ảnh hưởng đến các vấn đề
kinh tế - xã hội của các nước. Tình trạng của cán cân thương mại (thâm hụt hay
thặng dư) của một quốc gia thể hiện trạng thái của nền kinh tế qua: những thông tin
liên quan đến cung - cầu tiền tệ, đánh giá khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc
tế, thể hiện mức độ an toàn hoặc bất ổn của nền kinh tế, phản ánh hành vi tiết kiệm,
đầu tư và tiêu dùng. Như vậy, cán cân thương mại thể hiện một cách khá tổng quát
các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô như chính sách thương mại, chính sách tiền tệ
(tỷ giá, lãi suất), chính sách cơ cấu, chính sách đầu tư và tiết kiệm, chính sách cạnh
tranh...
Bên cạnh đó, sự mất cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu, tức là nhập khẩu
vượt quá xuất khẩu (thâm hụt cán cân thương mại) duy trì trong dài hạn và vượt quá
mức độ cho phép có thể ảnh hưởng xấu đến cán cân vãng lai và gây nên những biến
động bất lợi đối với nền kinh tế như gia tăng tình trạng nợ quốc tế, hạn chế khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế, tác động tiêu cực đến thu nhập và việc làm ở mức
trầm trọng có thể gây nên khủng hoảng tài chính tiền tệ. Bởi vậy việc điều chỉnh
cán cân thương mại nhằm cân đôi vĩ mô và kích thích tăng trưởng kinh tế, nâng cao
khả năng cạnh tranh được các quốc gia trên thế giới hết sức quan tâm. Đặc biệt
trong bối cảnh tự do hóa thương mại, biến động của cán cân thương mại trong ngắn
hạn và dài hạn là cơ sở để các chính phủ điều chỉnh chiến lược và mô hình phát
triển, kinh tế, chính sách cạnh tranh...
Vậy đâu là gốc rễ cơ bản của thâm hụt cán cân thương mại? Giải pháp cho
nhằm cải thiện cán cân thương mại? Bài thảo luận của chúng tôi sẽ đưa ra câu trả
lời thông qua nghiên cứu về thực trạng cán cân thương mại Việt Nam trong giai
đoạn từ năm 2000 đến nay dưới góc nhìn từ năng lực cạnh tranh quốc gia và mô
hình tăng trưởng.
1
nghiệm của các nước tiến hành công nghiệp hóa ở các nước xã hội chủ nghĩa trước
đây và các nước bảo hộ cao cho thấy rõ điều này. Khảo sát thực tiễn của một số
nước (Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ) cho thấy trong tình trạng thâm hụt
cán cân thương mại, nền kinh tế vẫn có thể ổn định và đạt được sự tăng trưởng cao.
Vấn đề là ở chỗ thâm hụt cán cân thương mại ở mức có thể đảm bảo sức chịu đựng
của cán cân tài khoản vãng lai và nợ nước ngoài.
Tuy nhiên, khi mất cân bằng thương mại của một quốc gia nằm ngoài mức
trọng yếu trong một thời gian dài (thường là chiếm một vài % của GDP trong một
vài năm), thì phải có xu hướng điều chỉnh. Nếu không việc mất cân bằng vượt khỏi
2
tầm kiểm soát tồn tại trong một thời gian dài do sự di chuyển nhiều của cải của một
quốc gia sang một quốc gia khác thường dẫn đến ảnh hưởng không tốt đến sự tăng
trưởng của nền kinh tế.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại
1.3.1. Tác động của chính sách tỷ giá
a, Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái: là nhân tố quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng
đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường
thế giới. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa
nhập khẩu sẽ trở lên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở lên đắt đỏ hơn so
với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất
khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược
lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu
gặp khó khăn và xuất khẩu ròng tăng lên.
b, Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá thường có ảnh hưởng quan trọng đến CCTM của một nước.
Các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF) thường khuyến nghị phá giá đồng nội tệ khi cac nước gặp khó khăn về cán
để đầu tư cho sản xuất nên cần nhập khẩu chúng. Hiệu quả đầu tư liên quan đến khả
năng cạnh tranh của hàng thay thế nhập khẩu và hàng xuất khẩu. Các luồng vốn đầu
tư gián tiếp hoặc nguồn viện trợ nước ngoài, kiều hối cũng ảnh hưởng đến cán cân
thương mại. Những yếu tố nêu trên có thể có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, cải
thiện hoặc gây tình trạng thâm hụt cán cân thương mại.
1.3.4. Tác động của các chính sách khác
Các chính sách như chính sách thuế, tài khóa, chính sách lãi xuất, quản lý nợ
nước ngoài, chính sách tiêu dùng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đối với cán
cân thương mại. Chẳng hạn, chính sách quản lý nợ nước ngoài có tác dụng điều tiết
luồng vốn vay theo hướng sử dụng có hiệu quả và phân bổ hợp lý, tài trợ hợp lý đối
với thâm hụt thương mại... có tác dụng làm lành mạnh hóa cán cân thương mại.
Chính sách thuế có tác dụng hạn chế hoặc mở rộng xuất khẩu hoặc nhập khẩu.
Chính sách lãi suất có tác dụng kích thích hoặc hạn chế đầu tư, tiêu dùng, do đó ảnh
hưởng đến xuất nhập khẩu. Những thay đổi về lãi suất dẫn đến những thay đổi trong
đầu tư kinh doanh. Nhưng kênh tác động của các chính sách nói trên đối với cán cân
thương mại hết sức phức tạp. Cần có những nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này.
Một số chính sách khác cũng có thể ảnh hưởng đến cán cân thương mại như
chính sách bảo hộ như đã phân tích ở trên. Sự yếu kém của thể chế kinh tế thị
trường, chính sách kinh tế (không minh bạch, khó dự đoán) gây ra tình trạng tham
nhũng, lãng phí, gian lận thương mại làm trầm trọng hơn tình trạng cán cân thương
mại
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
2.1. Thực trạng cán cân thương mại ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000
đến nay
2.1.1. Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2011
Trong hai năm liên tiếp 2000 - 2001, cán cân thương mại Việt Nam ở trạng
thái thặng dư, hoạt động xuất khẩu khởi sắc và đạt được những kết quả hết sức khả
4
-1,05
2003 2004 2005 2006
20,15 26,49 32,45 39,8
3
22,73 28,77 34,8 42,6
9
-2,58 -2,28 -2,44 -2,77
2007
48,56
2008
62,69
2009 2010 2011
57,1 72,2 96,9
58,92
75,47
65,4
77,3
97,4
-10,36
2.1.3. Nhận xét
Từ số liệu thống kê phản ánh tình trạng cán cân thương mại của Việt Nam
trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay cho chúng ta thấy: Cán cân thương mại trong
2 năm gần đây (2012 – 2013) thặng dư trong khi ở giai đoạn từ năm 2002 – 2011
diễn ra thâm hụt thương mại. Nếu tính tổng giá trị thâm hụt thương mại và thặng dư
thương mại trong giai đoạn này ta có: tổng giá trị thâm hụt thương mại (2002-2011)
là 48,06 tỷ USD và tổng giá trị thặng dư thương mại (2012-2013) là 20 tỷ USD.
Như vậy, xét tổng thể giai đoạn từ năm 2000 đến nay, cán cân thương mại của Việt
Nam vẫn rơi vào tình trạng thâm hụt nghiêm trọng.
2.2. Nguyên nhân gây thâm hụt cán cân thương mại
2.2.1. Chênh lệch lớn giữa đầu tư và tiết kiệm
Về lý thuyết, cán cân thương mại phản ánh chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu
tư trong nước (tiết kiệm ròng) của một quốc gia. Tiết kiệm ròng quốc gia cân bằng
với tiết kiệm ròng của Chính phủ (cán cân ngân sách) và chênh lệch tiết kiệm - đầu
tư của khu vực tư nhân. Như vậy, nếu một quốc gia có thâm hụt thương mại (nhập
siêu), thì đó là sự phản ánh của tiết kiệm ròng mang dấu âm (có nghĩa tỉ lệ đầu tư
cao hơn tỉ lệ tiết kiệm).
Hình 2.1. Thâm hụt thương mại, chênh lệch đầu tư - tiết kiệm và thâm hụt ngân sách (%GDP)
Nguồn: IFS (IMF), WDI (WB) và Tổng cục Thống kê
Hình 2.1 cho thấy chênh lệch đầu tư - tiết kiệm của nền kinh tế đã tăng mạnh
kể từ năm 2007, và đi kèm là thâm hụt thương mại cũng gia tăng. Chênh lệch đầu tư
- tiết kiệm/GDP đã đạt mức rất cao là 11,5% trong giai đoạn 2006-2011.
Nếu cán cân thương mại thâm hụt chỉ vì lượng vốn dành cho đầu tư vượt quá
tiền tiết kiệm của nền kinh tế thì vấn đề không đáng lo ngại vì hiệu quả đầu tư sẽ
góp phần tạo ra sản phẩm có khả năng xuất khẩu và cán cân thương mại có thể cải
thiện trong tương lai. Tuy nhiên nếu cán cân thương mại thâm hụt do đầu tư nhiều
6
khoảng các giữa tiết kiệm và đầu tư và gia tăng thâm hụt cán cân thương mại. Hình
4 cũng chỉ ra rằng trừ thâm hụt thương mại trong năm 2006-2007 và thay đổi thâm
hụt của thâm hụt thương mại 2008-2009, trong các năm còn lại từ 2001 đến 2010,
thâm hụt thương mại của Việt Nam luôn biến động cùng chiều với thâm hụt ngân
sách năm trước đó. Như vậy thâm hụt ngân sách gia tăng trong giai đoạn 2005-2010
có quan hệ mật thiết với thâm hụt cán cân thương mại Việt nam.
2.2.2. Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu
a, Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Hơn một thập niên qua, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng nông lâm
sản, công nghiệp nặng và khoáng sản, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp
7
(TTCN).Theo thống kê của GSO, trung bình giai đoạn 1999 - 2010, hàng nông lâm
sản chiếm khoảng 15%, trong đó chủ yếu là hàng nông sản với các sản phẩm chính
như gạo, hồ tiêu, cao su; hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm khoảng 34%
mà chủ yếu là khoáng sản với mặt hàng chính là than đá và dầu thô; hàng công
nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 40% với sản phẩm chủ yếu là
hàng dệt may và giầy da (Hình 2.1).
Hình 2.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo nhóm (trung bình) giai đoạn
1999 - 2010
Nguồn: số liệu GSO
Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu cho thấy hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam không
có gì nổi trội so với các quốc gia trong khu vực, cơ cấu mặt hàng của Việt Nam
giống với các nước khác trong ASEAN. Có rất nhiều mặt hàng trong nhóm hàng
công nghiêp nhẹ tiểu thủ công nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu, nhập khẩu dây
chuyền sản xuất. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều ngành nghề sản xuất trong
nước. Không chỉ vậy, nhiều mặt hàng xuất khẩu khả năng gia tăng sản lượng khi giá
cả có lợi, chẳng hạn như tỷ giá hối đoái tăng thì nhiều mặt hàng xuất khẩu không
nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất cao. Nhiều mặt hàng sản xuất trong nước phải nhập
khẩu máy móc thiết bị và nguyên vật liệu, cùng với đó là quá trình công nghiệp hoá
đang diễn ra mạnh mẽ nên nhu cầu thay thế thiết bị lạc hậu bằng cách nhập khẩu
công nghệ từ các nước phát triển góp phần làm gia tăng nhu cầu nhập khẩu chung.
Ngoài ra, lộ trình tự do hoá thương mại của Việt Nam nhất là kể từ năm 2007 - năm
Việt Nam trở thành thành viên WTO đã thu hút một nguồn vốn FDI khá lớn hàng
năm và kèm theo đó là nhu cầu nhập khẩu trang thiết bị, dây chuyền sản xuất phục
vụ đầu tư. Ngoài những nguyên nhân làm gia tăng việc nhập khẩu như đã nêu trên,
nguyên nhân nhập khẩu tăng cao còn phải kể đến:
- Tỷ lệ nhập khẩu trong sản phẩm xuất khẩu ở mức khá cao dẫn tới thực tế là
nếu xuất khẩu muốn tăng lên thì nhất thiết nhập khẩu sẽ tăng;
- Thu nhập ở Việt Nam tăng lên sẽ tạo thêm nhu cầu đối với hàng tiêu dùng và
xa xỉ phẩm;
- Đầu cơ bất động sản và các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng là lý do dẫn
tới nhập khẩu gia tăng trong những năm gần đây;
- Sự biến động trong giá hàng hoá thế giới dẫn tới hoạt động đầu cơ hàng hoá,
nên nhiều hàng hoá được nhập khẩu để tích trữ trước khi giá tăng.
Hình 2.3. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu khẩu theo nhóm (trung bình) giai đoạn
1999 - 2010.
9
Nguồn: số liệu GSO
2.2.3. Tỷ giá hối đoái
Ngày nay, quan hệ thương mại là đa phương, một nước có quan hệ buôn bán
với rất nhiều nước trên thế giới, để có cái nhìn toàn diện hơn về vị thế cạnh tranh
của hàng hóa trong nước với các đối tác thương mại khác người ta dùng tỷ giá thực
đa phương (tỷ giá trung bình), tỷ giá thực đa phương là một chỉ số phản ánh mức độ
cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở để đánh giá đồng nội tệ bị định giá cao
11
KẾT LUẬN
Bài thảo luận trình bày những phân tích về mức độ, nguyên nhân và giải pháp đối
với tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam. Thâm hụt cán cân
thương mại không phải luôn là yếu tố tiêu cực. Tùy thuộc vào tình hình kinh tế vĩ
mô mà thâm hụt cán cân thương mại là dấu hiệu tích cực hay là yếu tố ảnh hưởng
tiêu cực đến nền kinh tế. Hiện tại, mức độ thâm hụt cán cân thương mại và tài
khoản vãng lai của Việt nam là nghiêm trọng cả về tương đối và tuyệt đối. Thâm
hụt thương mại đã vượt quá ngưỡng được coi là an toàn, đồng thời so với các nước
trong khu vực và các nền kinh tế mới nổi trên thế giới, tình trạng thâm hụt cán cân
thương mại của Việt nam là cao và kéo dài dai dẳng. Nguyên nhân chính dẫn đến
thâm hụt thương mại ngày càng tăng là do cơ cấu kinh tế, mất cân đối vĩ mô giữa
tiết kiệm và đầu tư, thâm hụt ngân sách chính phủ, và việc sử dụng chưa hiệu quả
của các dòng vốn nước ngoài. Như vậy, về ngắn hạn Việt Nam nên sử dụng các
công cụ trực tiếp của chính sách thương mại để hạn chế thâm hụt cán cân thương
mại, cùng với đó là chính sách tiền tệ thắt chặt, thực hiện chính sách tỷ giá linh
hoạt, tìm kiếm và sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn ngoài nước một cách hiệu quả.
Về dài hạn cần tích cực cắt giảm đầu tư công, giảm thâm hụt ngân sách, phát triển
các ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm xây dựng cơ cấu hợp lý cho nền kinh tế, nâng
cao hiệu quả sản xuất và khả năng hấp thụ công nghệ từ các nguồn vốn nước ngoài.
Để có thể thực hiện triệt để các biện pháp này đòi hỏi chính phủ phải kiên quyết.
Điều này có thể ảnh hưởng tới quyền lợi của các nhóm lợi ích khác nhau song chính
phủ cần phải cân nhắc sao cho hài hòa những lợi ích đó nhằm giải quyết vấn đề
nhập siêu, lấy lại ổn định vĩ mô cho nền kinh tế Việt Nam hướng tới một giai đoạn
phát triển bền vững.
12