Tiểu luận Lý thuyết tài chính GVHD: Thầy Võ Văn Hiển
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta điều biết, thâm hụt ngân sách là một vấn đề mà mọi quốc gia
trên thế giới đều gặp phải. Ngay cả một cường quốc kinh tế như Mỹ cũng phải đau
đầu và vật lộn với vấn đề này, và tất nhiên Việt Nam cũng không ngoại lệ. Việc xử
lý thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ
tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững
của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có những biến động lớn như:
giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều
nước trên thế giới…, việc tìm ra giải pháp để điều chỉnh thâm hụt ngân sách ở các
quốc gia trên thế giới nói chung và ở tại Việt Nam nói riêng là hết sức cấp bách và
cần thiết. Ở nước ta, mức độ thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng và ngày càng tác
động tiêu cực tới đời sống nhân dân cũng như tới toàn bộ nền kinh tế. Đây chính là
một trong những nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế, gia tăng lạm phát gây khó
khăn cho chính phủ trong việc thực hiện các chính sách tài khóa và tiền tệ.
Vậy thâm hụt ngân sách là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân sách diễn ra ở
Việt Nam trong các năm qua như thế nào? Giải pháp nào để xử lý thâm hụt NSNN,
ổn định vĩ mô nền kinh tế, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển
kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay? Bài tiểu luận này
với đề tài “Thâm hụt ngân sách nhà nước ở Việt Nam – Thực trạng và giải
pháp” là quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra đáp án cho những câu hỏi trên.
Bài tiểu luận gồm có 3 chương:
Chương I: KHÁI NIỆM THÂM HỤT NGÂN SÁCH
Chương II: THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở VIỆT NAM
Chương III: GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở
VIỆT NAM
Tuy nhiên, thâm hụt NSNN là một vấn đề mang tính vĩ mô, với trình độ hiểu
biết cũng như trình độ lý luận có hạn nên bài viết của em không thể tránh khỏi
những khiếm khuyết. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô để bài
viết được hoàn thiện hơn.
Chương I
Nguyễn Bảo Ân K48C – A7 2
Tiểu luận Lý thuyết tài chính GVHD: Thầy Võ Văn Hiển
phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. Trường hợp ngược lại, khi các
khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách.
Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ
lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước.
VD: Thâm hụt NSNN năm 2009 là 155 900 tỷ đồng, tỉ lệ thâm hụt so với GDP
là 6.9 % (theo cách tính của Việt Nam).
Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau:
Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm
Thu Chi
A. Thu thường xuyên (thuế,
phí, lệ phí).
B. Thu về vốn (bán tài sản
nhà nước).
C. Bù đắp thâm hụt.
– Viện trợ.
– Lấy từ nguồn dự trữ.
Vay thuần (= vay mới – trả
nợ gốc).
D. Chi thường xuyên.
E. Chi đầu tư.
F. Cho vay thuần
(= cho vay mới – thu nợ gốc).
Trong đó: A + B +C = D + E + F. Công thức tính thâm hụt NSNN của một
năm sẽ như sau:
Thâm hụt NSNN = Tổng chi – Tổng thu = (D + E + F) – (A + B) = C
Các lý thuyết tài chính hiện đại cho rằng, NSNN không cần thiết phải
cân bằng theo tháng, theo năm. Vấn đề là phải quản lý các nguồn thu và chi
sao cho ngân sách không bi thâm hụt qua lớn và kéo dài. Tuy vậy, trong nhiều
sách ổn định tự động.Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng
quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi
thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm
hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh
chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế.
II – NGUYÊN NHÂN GÂY THÂM HỤT NGÂN SÁCH:
Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra thâm hụt NSNN:
- Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh.
Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi
Nguyễn Bảo Ân K48C – A7 4
Tiểu luận Lý thuyết tài chính GVHD: Thầy Võ Văn Hiển
lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội.
Điều đó làm cho mức thâm hụt NSNN tăng lên. ở giai đoạn kinh tế
phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng
tương ứng. Điều đó làm giảm mức thâm hụt NSNN. Mức thâm hụt do
tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là thâm hụt chu kỳ.
- Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu
thu chi của Nhà nước. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh
đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức thâm hụt NSNN. Ngược
lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì
mức thâm hụt NSNN sẽ giảm bớt. Mức thâm hụt do tác động của chính
sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là thâm hụt cơ cấu.
Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai
lớn,…), tổng hợp của thâm hụt chu kỳ và thâm hụt cơ cấu sẽ là thâm hụt NSNN.
III – TÁC ĐỘNG CỦA THÂM HỤT NGÂN SÁCH ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ:
1. Thâm hụt ngân sách và vấn đế thoái lui đầu tư:
Theo “Thuyết tương đương” của Ricardo khi có tình trạng thâm hụt
ngân sách thì tiết kiệm của dân chúng tăng lên bằng mức thâm hụt. Vì thế sẽ
không ảnh hưởng đến lãi suất, không gây cản trở đầu tư.
Tuy nhiên, qua thực tế ở nhiều nước khi ngân sách nhà nước thâm hụt,
tăng cường theo hướng tích cực và ngược lại (nếu như khối lượng hàng không
thay đổi).
Như ta đã phân tích ở trên, tình trạng thâm hụt ngân sách sẽ làm cho lãi
suất thị trường tăng. Lãi suất tăng làm cho giá trị đồng nội tệ tăng giá, giá
hàng hóa trong nước theo đó cũng tăng theo đó cũng tăng làm giảm lượng
hàng xuất khẩu. Trong khi tương ứng, hàng hóa của đất nước khác sẽ rẻ tương
đối so với nước đó, dẫn tới việc tăng lượng hàng nhập khẩu. Vì vậy, thâm hụt
ngân sách sẽ gây ra tình trạng nhập siêu: Nhập vào lớn hơn xuất ra, việc sử
dụng hàng hóa sản xuất trong nước bị hạn chế, sản xuất gặp nhiều khó khăn,
tác động không ít tới sự tăng trưởng kinh tế.
Nguyễn Bảo Ân K48C – A7 6
Tiểu luận Lý thuyết tài chính GVHD: Thầy Võ Văn Hiển
Chương II
THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM
I – THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở NƯỚC TA TRONG
NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY (2000 – 2010):
Bảng thông kê tình hình thâm hụt ngân sách qua các năm (2000 – 2010)
Đơn vị: Tỷ đồng
Nguyễn Bảo Ân K48C – A7 7
Tiểu luận Lý thuyết tài chính GVHD: Thầy Võ Văn Hiển
Chỉ tiêu
Năm
Tổng thu
cân đối
NSNN
Tổng chi cân đối
ngân sách nhà
GDP và 5,3% GDP, có giảm so với năm 2009 nhưng vẫn còn ở mức cao.
Ngoài ra, những khoản chi ngoài ngân sách trong mấy năm gần đây lên tới 20
– 25 % tổng ngân sách. Một tỉ quá cao.
Tuy nhiên, theo một số chuyên gia và tổ chức kinh tế trên thế giới thì
những con số trên còn lớn hơn nhiều. Cụ thể, theo chuyên gia tư vấn quốc tế
Jitendra Modi thì tỉ lệ thâm hụt ngân sách ở Việt Nam năm 2007 phải là 6.9%
GDP thay vì con số xấp xỉ 5% GDP như báo cáo của Chính phủ đã trước Quốc
hội. Trong cuộc họp Hội nghị Nhóm tư vấn cho Việt Nam được tổ chức tại
Kiên Giang, thì đại diện của Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF cho biết mức thâm hụt
năm 2009 đã lên tới 9% GDP, theo cách tính của IMF. Tỷ lệ này cao hơn
nhiều so với mức Việt Nam công bố chỉ là 6,9% GDP. Đối với IMF, rõ ràng
đó là một mức thâm hụt "lớn" và "không bền vững". Mức chênh lệch giữa 2
cách tính gần 2% GDP nếu quy đổi ra con số tuyệt đối sẽ lên đến hàng nghìn
tỷ đồng – một con số quá lớn trong điều kiện phải kiểm soát và thắt chặt chi
tiêu như hiện nay. Tình hình thâm hụt ngân sách ở Việt Nam hiện nay đang
diễn ra hết sức phức tạp.
Dưới đây là biểu đồ so sánh thâm hụt ngân sách của Việt Nam và một
số nước trong khu vực (2001 - 2007)
Thâm hụt ngân sách của Việt Nam và một số nước (2001 - 2007)
Nguyễn Bảo Ân K48C – A7 9
Tiểu luận Lý thuyết tài chính GVHD: Thầy Võ Văn Hiển
Nguồn: Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)
Biểu đồ cho thấy tình trạng thâm hụt ở nước ta có xu hướng ngày càng
gia tăng và cao hơn các nước trong khu vực.
II – BỘI CHI NGÂN SÁCH VÀ MỐI LIÊN HỆ ĐẾN LẠM PHÁT VÀ MẤT
CÂN ĐỐI VĨ MÔ:
Thâm hụt ngân sách và lạm phát cùng mất cân đối vĩ mô có mối quan
hệ mật thiết với nhau.Nguyên nhân của lạm phát cao về cơ bản có một phần
quan trọng là do chính sách tài khóa quá lỏng lẻo mà thể hiện cụ thể qua mức
thâm hụt NSNN tăng liên tục qua các năm.
Mức phát hành tiền
để bù đắp thâm
hụt NSNN
1984 0.4
1985 9.3
1986 22.9
1987 89.2
1988 450
1989 1655
1990 1200
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nguyễn Bảo Ân K48C – A7 11
Tiểu luận Lý thuyết tài chính GVHD: Thầy Võ Văn Hiển
Số còn lại được bù đắp bằng các khoản vay nợ và viện trợ của nước ngoài và một số
nhỏ do các khoản thu từ bán công trái trong nước.
Tỉ lệ % các khoản vay nợ và viện trợ nước ngoài so với thâm hụt (1984 – 1990)
Đơn vị: %
Năm
Tỉ lệ % các khoản vay
nợ và viện trợ so với
thâm hụt
1984 71.3
1985 40.8
1986 38.4
1987 32.1
1988 32.6
1989 24.9
1990 46.7
Mặc dù có nhiều cố gắng đáng kể trong năm 1989, nhưng tình trạng
thiếu hụt NSNN vẫn trầm trọng. Tổng chi đã tăng gấp đôi so với năm 1988,
4,95%). Tỷ lệ thâm hụt bình quân 5 năm là 3,87% GDP, cao hơn mức bình
quân năm 1991-1995 (2,63%). Năm 2000 có mức thâm hụt cao nhất là 4,95%
GDP và năm 1998 có mức thâm hụt thấp nhất là 2,49%. Đây là thời kỳ suy
thoái và thiểu phát, nên mức thâm hụt NSNN như trên không tác động gây ra
lạm phát mà có tác động làm cho nền kinh tế chuyển sang giai đoạn đi lên.
Giai đoạn từ năm 2001-2007, NSNN cũng đã có chuyển biến đáng kể.
Tốc độ tăng thu hằng năm bình quân là 18,8%. Tốc độ tăng chi bình quân
hằng năm đạt 18,5%. Thâm hụt NSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân
đối ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4,9%-5% GDP. Nếu chỉ xét ở tỷ lệ so
với GDP, cũng thấy thâm hụt NSNN trong 7 năm trở lại đây tăng cao hơn các
năm trước đó khá nhiều (bình quân khoảng 4,95% GDP) vì giai đoạn năm
1991-1995, mức thâm hụt NSNN so với GDP chỉ ở mức 2,63% và giai đoạn
từ năm 1996-2000 ở mức 3,87% so với GDP.
Thực tế trong các năm qua, từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng thâm hụt
NSNN là khá cao, ở mức 17-18%/ năm. Tốc độ này nếu trừ đi yếu tố tăng
trưởng thì còn cao hơn tỷ lệ lạm phát hằng năm (năm 2001: 0,2%; năm 2002:
1,6%; năm 2003: 9,7%; năm 2004: 8,1%; năm 2005: 9,0%; năm 2006: 11,1%;
năm 2007: 7,8%).
Đồ thị 2: Bội chi NSNN so với GDP
Nguyễn Bảo Ân K48C – A7 13