Tiểu luận quản lý nhà nước về kinh tế Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện nay - Pdf 35

MỤC LỤC
MỤC LỤC...................................................................................................................................1
1.3.Các phương pháp QLNN về kinh tế....................................................................................11
Phương pháp quản lý kinh tế của nhà nước là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích
và có thể của Nhà nước lên hệ thống kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý của Nhà nước.
Trong thực tế tổ chức và quản lý đối với nền kinh tế, Nhà nước có thể và cần phải thực hiện các biện
pháp chủ yếu, đó là: phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục thuyết
phục.....................................................................................................................................................11
1.3.1.Phương pháp hành chính....................................................................................................11
a, Khái niệm.............................................................................................................................11
Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước thông qua các quyết
định dứt khoát và có tính bắt buộc trong khuôn khổ luật pháp lên các chủ thể kinh tế, nhằm thực hiện
các mục tiêu của Nhà nước trong những tình huống nhất định...........................................................11
b, Đặc điểm.............................................................................................................................11
- Tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý (các doanh nghiệp, các doanh nhân…) phải chấp
hành nghiêm chỉnh các tác động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng.................11
- Tính quyền lực đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước chỉ đựoc phép đưa ra các tác động
hành chính đúng thẩm quyền của mình. Thực chất của phương pháp này là sử dụng quyền lực nhà
nước để tạo sự phục tùng của đối tượng quản lý (các doanh nghiệp, doanh nhân…) trong hoạt động
quản lý của nhà nước...........................................................................................................................11
c, Hướng tác động...................................................................................................................11
Tác động về mặt tổ chức: Nhà nước xây dựng và không ngừng hoàn thiện khung pháp luật,
tạo ra một hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia vào hoạt động của nền kinh tế. Nhà nước ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về mặt tổ chức hoạt động của các chủ thể kinh tế và
những quy định về mặt thủ tục hành chính buộc tất các những chủ thể từ cơ quan nhà nước đến các
doanh nghiệp đều phải tuân thủ..........................................................................................................11
Tác động điều chỉnh hành động, hành vi của các chủ thể kinh tế là những tác động bắt buộc
của nhà nước lên quá trình hoạt động sản suất kinh doanh của các chủ thể kinh tế, nhắm đảm bảo
thực hiện được mục tiêu quản lý của Nhà nước..................................................................................11
d, Trường hợp áp dụng............................................................................................................11
Phương pháp hành chính được dùng để điều chỉnh các hành vi mà hậu quả của nó có thể gây

cưỡng chế. Trên thực tế, có những hành vi mà nếu không có sự điều chỉnh của Nhà nước, sẽ không
diễn ra theo chiều hướng có lợi cho Nhà nước và cho cộng đồng, nhưng cũng không có nghĩa là nó
gây ra những thiệt hại cần phải điều chỉnh tức thời. Chẳng hạn, Nhà nước muốn các nhà đầu tư trong
và ngoài nước bỏ vốn đầu tư vào các vùng miền núi, biên cương, hải đảo để cải thiện đời sống dân cư
ở các vùng này, song nếu không có những ưu đãi hay khuyến khích của Nhà nước, các nhà đầu tư chỉ
muốn đầu tư vào các vùng đồng bằng, đô thị. Hành vi đầu tư này rõ ràng là trái với lợi ích mà Nhà
nước mong muốn, nhưng không phải vì thế mà gây tác hại cho các nhà đầu tư hoạt động theo hướng
có lợi cho mình, Nhà nước phải chia sẻ lợi ích kinh tế với họ bằng các hình thức như: giảm thuế, miễn
thuế thu nhập, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ về kĩ thuật,…....................................................13
1.4.3. Phương pháp giáo dục...................................................................................................13
a, Khái niệm.............................................................................................................................13
Phương pháp giáo dục là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của
con người nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện tốt
nhiệm vụ được giao..............................................................................................................................13
b, Đặc điểm.............................................................................................................................13
Phương pháp giáo dục mang tính thuyết phục cao, không dùng sự cưỡng chế, không dùng lợi
ích vật chất mà là tạo ra sự nhận thức về tính tất yếu khách quan đẻ đối tượng quản lí tự giác thi
hành nhiệm vụ......................................................................................................................................13
c, Hướng tác động...................................................................................................................13
Giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.......................................13
Giáo dục ý thức lao động sáng tạo, hiệu quả...........................................................................13


3
Xây dựng tác phong lao động trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa...........................13
d, Trường hợp áp dụng phương pháp giáo dục.......................................................................13
Phương pháp giáo dục cần được áp dụng trong mọi trường hợp và phải được kết hợp với hai
phương pháp trên để nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý. Sở dĩ như vậy là do, việc sử dụng
phương pháp hành chính hay kinh tế để điều chỉnh các hành vi của đối tượng quản lý suy cho cùng
vẫn là tác động bên ngoài, và do đó không triệt để, toàn diện. Hơn nữa, bản thân phương pháp hành

Chẳng hạn, những đơn vị nào sản xuất hàng nhái, hàng giả bị Nhà nước phát hiện sẽ phải chịu xử
phạt hành chính như: đình chỉ sản xuất kinh doanh, nộp phạt, tịch thu tài sản…điều này được quy
định rõ trong Nghị Định số 08/2013/NĐ – CP ngày 10/01/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính
đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả........................................................................................15
Chính những điều này đã góp phần quan trọng trong việc góp phần thiết lập trật tự kỷ cương
trong lĩnh vực thương mại, tạo môi trường hành lang pháp lý lành mạnh cho sự phát triển. Thể hiện ở
sự phát triển nhanh chóng và lớn mạnh của các thành phần kinh tế đặc biệt là kinh tế tư nhân và kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài. Môi trường kinh doanh lành mạnh cho tất cả các chủ thể, vấn nạn hàng
nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng từng bước được đẩy lùi.............................................................15


4

2.2. Phương pháp kinh tế.............................................................................................15
Nhà nước áp dụng phương pháp kinh tế trong lĩnh vực thương mại thông qua các công cụ
kích thích kinh tế. Các công cụ này bao gồm các chính sách như: chính sách tiền tệ, chính sách tài
khóa, chính sách thu nhập, chính sách thương mại. Trong những năm gần đây với mục tiêu kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Nhà nước đã triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường tạo động lực cho thương mại phát triển: Chỉ đạo
tháo gỡ khó khăn trong quan hệ vay vốn giữa doanh nghiệp với TCTD, như: Xem xét điều chỉnh kỳ hạn
trả nợ, gia hạn nợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các khách hàng vay được tiếp cận vay mới, thực hiện
miễn, giảm lãi vốn vay, ưu tiên thu nợ gốc trước, thu nợ lãi sau. Cụ thể:............................................15
Năm 2012, NHNN đã đưa ra mục tiêu giảm lãi suất huy động xuống còn 9-10%/năm vào cuối
năm 2012, đồng thời đưa ra lộ trình giảm trung bình mỗi quí 1%/năm. Lãi suất cho vay ưu tiên giảm
về mức 12%/năm, cho vay sản xuất kinh doanh khác và cho vay tiêu dùng ở mức 12-15%/năm, riêng
lãi suất cho vay đối với các khách hàng tốt chỉ còn 9-11%/năm. Tổng phương tiện thanh toán và tín
dụng tăng lần lượt khoảng 20% và 9%, phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức thấp (6,8%),
góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.............................................................16
Năm 2013, NHNN giảm 2%/năm các mức lãi suất điều hành; giảm 3%/năm lãi suất cho vay
ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên; giảm 1%/năm lãi suất tối đa áp dụng đối với


5
Thực hiện trợ cấp xuất khẩu đối với một số mặt hàng: cà phê, rau quả hộp, sản phẩm phụ
tùng xe gắn máy hai bánh,….................................................................................................................17
Khuyến khích đầu tư, phát triển vùng sâu vùng xa, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nhằm
thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.....................................................................................17
Đây là phương pháp có ý nghĩa quan trọng, bởi nó tác động trực tiếp vào lợi ích kinh tế của
các chủ thể thương mại, nó rất nhạy bén, linh hoạt, phát huy được tính năng động, sáng tạo của
doanh nghiệp và người lao động, của các cơ sở sản xuất kinh doanh. Vì vậy, việc thực hiện một cách
đúng đắn sẽ giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các loại lợi ích nhà nước, doanh nghiệp và người
dân, lợi ích giữa thị trường trong nước và quốc tế, tạo động lực thúc đẩy phát triển thương mại, phát
triển kinh tế - xã hội..............................................................................................................................17

2.3. Phương pháp giáo dục..........................................................................................17
Quản lý Nhà nước về thương mại là một lĩnh vực rộng, ở nhiều góc độ khác nhau, nhiều
phương pháp khác nhau. Trong đó có phương pháp giáo dục tuyên truyền. Nhà nước sử dụng
phương pháp giáo dục kết hợp với các phương pháp khác để tuyên truyền giáo dục pháp luật một
cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sát đến từng chủ thể trong nền kinh tế. Với
phương pháp này các phương tiện truyền thông đại chúng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
việc huy động sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động pháp luật. Các văn bản pháp luật như:
Luật bảo vệ môi trường; Luật doanh nghiệp; Luật kinh tế...các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về sản
phẩm... từng bước được phổ biến rộng rãi cho người dân để họ nâng cao nhận thức về việc dùng các
sản phẩm đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, về an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề sống còn của chính mình,
của đất nước. Bên cạnh đó, thông qua các phương tiện truyền thông, biểu dương, khen thưởng
những gương điển hình làm tốt công tác thực thi pháp luật, nhắc nhở, phê phán, lên án những tổ
chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về thương mại................................................................18
Công tác tuyên truyền phổ biến, bồi dưỡng kiến thức về pháp luật và cơ chế chính sách và
nghiệp vụ thương mại đã được Bộ và các Sở Công Thương quan tâm thông qua sự phối kết hợp trong
việc tổ chức các lớp bồi dưỡng tại địa phương....................................................................................18
Tổ chức tuyên truyền cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Nội

cường hỗ trợ kỹ thuật và năng lực quản lý, kinh doanh nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho doanh
nghiệp và hiệu quả ngành....................................................................................................................19

3.2. Đẩy mạnh cải cách hành chính và đơn giản hóa các loại thủ tục trong thương
mại...............................................................................................................................19
Qúa trình lưu thông hàng hóa, cung cấp dịch vụ và chuyển nhượng thương quyền liên quan
đến các thủ tục hành chính (đăng ký kinh doanh, giấy phép xuất nhập khẩu, chứng nhận giám định,
kiểm dịch động thực vật, vệ sinh an toàn thực phẩm, xuất xứ hàng hóa, tài sản thế chấp, cầm cố, bảo
lãnh tín dụng….); Để thuận lợi hóa và thúc đẩy thương mại, vừa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước,
vừa tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, cần tiếp tục cải cách hơn nữa thủ tục hành chính
trong thương mại theo hướng công khai, minh bạch, xóa bỏ mọi phiền hà cho doanh nghiệp và người
tiêu dùng, phù hợp với quy định chính sách và pháp luật....................................................................19
Tăng cường sử dụng các phương tiện kỹ thuật tiên tiến và điện tử trong các hoạt động quản
lý của ngành thương mại, hải quan, ngân hàng và các ngành dịch vụ khác có liên quan cũng như nâng
cao trình độ nghiệp vụ và quản lý của cán bộ công chức, thay đổi các quy định theo hướng đơn giản,
gọn nhẹ, không chồng chéo bất hợp lý.................................................................................................19
Đẩy mạnh cải cách hành chính trong hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, xoá bỏ các thủ tục
rườm rà, tạo môi trường thuận lợi và thông thoáng cho các hoạt động này theo hướng thị trường,
phù hợp với các cam kết của WTO nhưng vẫn giữ được sự lành mạnh cho nền kinh tế, đảm bảo lợi ích
quốc gia................................................................................................................................................20
Đẩy mạnh hơn nữa quá trình cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, loại bỏ
những thủ tục gây cản trở việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhất là các thủ tục cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các đô thị và các thủ tục giao đất, thuê đất. Đẩy mạnh việc
tuyên truyền, giáo dục pháp luật đất đai, thường xuyên phổ biến những quy định mới của Nhà nước
đối với người dân về lĩnh vực này.........................................................................................................20

3.3. Sắp xếp lại, bồi dưỡng và đào tạo kịp thời nhân sự bộ máy tổ chức của các cơ
quan quản lý nhà nước................................................................................................20
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có phầm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính
trị, tận tụy phục vụ nhân dân, có năng lực tổ chức và quản lý nền kinh tế thị trường phát triển theo

2, Lương Xuân Quỳ (2006), Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà xuất bản lý luận chính trị, Hà Nội..............................................................22
3, Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu (2005), Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế, Nhà xuất bản
Lao động xã hội, Hà Nội........................................................................................................................22
BÀI CÁ NHÂN...........................................................................................................................23
Họ và tên: Đinh Quang Điệp....................................................................................................23
Thay hình thức quản lý nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với việc tạo nên hành lang pháp lý cho việc xây dựng nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, xác định chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của các
doanh nghiệp, quyền tự do kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ không bị cấm kinh doanh, quyền tự chủ
trong kinh doanh, xóa bỏ độc quyền về ngoại thương của nhà nước, giảm dần sự can thiệp của Nhà
nước bằng các biện pháp hành chính vào các quan hệ dân sự, kinh tế,(bỏ) thương mại… Điều này
được thể hiện rõ trong các bộ luật, nghị định: Luật thương mại 2005; Thông tư 46/2010/TT-BCT ngày
31/12/2010 Quy định về quản lý hoạt động của các website TMĐT bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch
vụ; Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về
hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện...(Sắp xếp theo
thứ tự: luật, nghị định, thông tư).........................................................................................................33
Nước ta đã từng bước mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư
nước ngoài, đi đến xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan và các rào cản khác (bỏ, vì hàng
rào phi thuế quan bao gồm tất cả các rào cản trừ thuế) để việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, vốn, công
nghệ.. tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thương mại........................................................33


8
Tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, tránh rườm rà trong các thủ tục, tạo điều kiện thuận
lợi cho người dân và giảm gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp..........................................................33
Bên cạnh đó, với các đối tượng quản lý vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Ví dụ,
những đơn vị nào sản xuất hàng nhái, hàng giả bị Nhà nước phát hiện sẽ phải chịu xử phạt hành
chính như: đình chỉ sản xuất kinh doanh, nộp phạt, tịch thu tài sản (2 biện pháp này là biện pháp kinh
tế) (thay bằng: buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc tái xuất hàng giả đối với hành vi nhập khẩu

NƯỚC VỀ KINH TẾ
1.1.

Khái niệm

Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của
Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh
tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh
tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.
Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba
loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.Theo nghĩa hẹp, quản lý
Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm
điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ).
1.2.

QLNN về kinh tế vừa là một khoa học, vừa là nghệ thuật

Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu
riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính
quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia các hoạt
động kinh tế của xã hội. Tính khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế có nghĩa là
hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan
hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên
tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, tức là
xuất phát từ các quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng
giai đoạn phát triển.
Quản lý Nhà nước về kinh tế còn là một nghệ thuật và là một nghề vì nó lệ
thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ
quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả
năng thích nghi cao hay thấp v.v... của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước. Tính

- Tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý (các doanh nghiệp, các doanh
nhân…) phải chấp hành nghiêm chỉnh các tác động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử
lý kịp thời, thích đáng.
- Tính quyền lực đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước chỉ đựoc phép đưa ra
các tác động hành chính đúng thẩm quyền của mình. Thực chất của phương pháp này
là sử dụng quyền lực nhà nước để tạo sự phục tùng của đối tượng quản lý (các doanh
nghiệp, doanh nhân…) trong hoạt động quản lý của nhà nước.
c, Hướng tác động
- Tác động về mặt tổ chức: Nhà nước xây dựng và không ngừng hoàn thiện
khung pháp luật, tạo ra một hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia vào hoạt động
của nền kinh tế. Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về mặt
tổ chức hoạt động của các chủ thể kinh tế và những quy định về mặt thủ tục hành
chính buộc tất các những chủ thể từ cơ quan nhà nước đến các doanh nghiệp đều phải
tuân thủ.
- Tác động điều chỉnh hành động, hành vi của các chủ thể kinh tế là những tác
động bắt buộc của nhà nước lên quá trình hoạt động sản suất kinh doanh của các chủ
thể kinh tế, nhắm đảm bảo thực hiện được mục tiêu quản lý của Nhà nước.
d, Trường hợp áp dụng


12

Phương pháp hành chính được dùng để điều chỉnh các hành vi mà hậu quả của
nó có thể gây ra thiệt hại cho cộng đồng, cho Nhà nước. Trong trường hợp những hành
vi này diễn ra khác với ý muốn của Nhà nước, có thể gây ra những nguy hại nghiêm
trọng cho xã hội thì Nhà nước phải sử dụng phương pháp cưỡng chế để ngay lập tức
đưa hành vi đó tuân theo một chiều hường nhất định, trong khuôn khổ chính sách,
pháp luật về kinh tế. Chẳng hạn, những đơn vị nào sản xuất hàng nhái, hàng giả bị Nhà
nước phát hiện sẽ phải chịu xử phạt hành chính như: đình chỉ sản xuất kinh doanh, nộp
phạt, tịch thu tài sản…

phương pháp hành chính cưỡng chế. Trên thực tế, có những hành vi mà nếu không có
sự điều chỉnh của Nhà nước, sẽ không diễn ra theo chiều hướng có lợi cho Nhà nước
và cho cộng đồng, nhưng cũng không có nghĩa là nó gây ra những thiệt hại cần phải
điều chỉnh tức thời. Chẳng hạn, Nhà nước muốn các nhà đầu tư trong và ngoài nước
bỏ vốn đầu tư vào các vùng miền núi, biên cương, hải đảo để cải thiện đời sống dân cư
ở các vùng này, song nếu không có những ưu đãi hay khuyến khích của Nhà nước, các
nhà đầu tư chỉ muốn đầu tư vào các vùng đồng bằng, đô thị. Hành vi đầu tư này rõ
ràng là trái với lợi ích mà Nhà nước mong muốn, nhưng không phải vì thế mà gây tác
hại cho các nhà đầu tư hoạt động theo hướng có lợi cho mình, Nhà nước phải chia sẻ
lợi ích kinh tế với họ bằng các hình thức như: giảm thuế, miễn thuế thu nhập, cho vay
vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ về kĩ thuật,…
1.4.3. Phương pháp giáo dục
a, Khái niệm
Phương pháp giáo dục là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và
tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và nhiệt tình lao động của
họ trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
b, Đặc điểm
Phương pháp giáo dục mang tính thuyết phục cao, không dùng sự cưỡng chế,
không dùng lợi ích vật chất mà là tạo ra sự nhận thức về tính tất yếu khách quan đẻ đối
tượng quản lí tự giác thi hành nhiệm vụ.
c, Hướng tác động
- Giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
- Giáo dục ý thức lao động sáng tạo, hiệu quả.
- Xây dựng tác phong lao động trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
d, Trường hợp áp dụng phương pháp giáo dục


14

Phương pháp giáo dục cần được áp dụng trong mọi trường hợp và phải được



15

Nước ta đã từng bước mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điều kiện cho các
nhà đầu tư nước ngoài, đi đến xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan và các
rào cản khác để việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ…tạo điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển của thương mại.
Tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, tránh rườm rà trong các thủ tục, tạo
điều kiện thuận lợi cho người dân và giảm gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp
Bên cạnh đó, với các đối tượng quản lý vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của
pháp luật. Chẳng hạn, những đơn vị nào sản xuất hàng nhái, hàng giả bị Nhà nước phát
hiện sẽ phải chịu xử phạt hành chính như: đình chỉ sản xuất kinh doanh, nộp phạt, tịch
thu tài sản…điều này được quy định rõ trong Nghị Định số 08/2013/NĐ – CP ngày
10/01/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán
hàng giả.
Chính những điều này đã góp phần quan trọng trong việc góp phần thiết lập trật
tự kỷ cương trong lĩnh vực thương mại, tạo môi trường hành lang pháp lý lành mạnh
cho sự phát triển. Thể hiện ở sự phát triển nhanh chóng và lớn mạnh của các thành
phần kinh tế đặc biệt là kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Môi
trường kinh doanh lành mạnh cho tất cả các chủ thể, vấn nạn hàng nhái, hàng giả, hàng
kém chất lượng từng bước được đẩy lùi.
2.2. Phương pháp kinh tế
Nhà nước áp dụng phương pháp kinh tế trong lĩnh vực thương mại thông qua
các công cụ kích thích kinh tế. Các công cụ này bao gồm các chính sách như: chính
sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách thu nhập, chính sách thương mại. Trong
những năm gần đây với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Nhà nước
đã triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, hỗ trợ thị trường tạo động lực cho thương mại phát triển: Chỉ đạo tháo gỡ khó
khăn trong quan hệ vay vốn giữa doanh nghiệp với TCTD, như: Xem xét điều chỉnh

trên địa bàn trong công tác quản lý thu, chống thất thu và xử lý nợ đọng. Để thực hiện
được điều này nhà nước đã có những biện pháp như giảm thuế một số lĩnh vực. Năm
2013, mức thuế suất Thuế thu nhập doanh nghiệp chung giảm từ 25% xuống còn 23%.
Riêng doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ sử dụng dưới 200 lao động, làm việc toàn
bộ thời gian và có doanh thu năm không quá 20 tỉ đồng (của 2 năm liền kề) áp dụng
thuế suất 20% trong 2 năm kể từ khi áp dụng. Theo Bộ Tài chính, mức thuế suất phổ
thông 25% là phù hợp với thực tế thời gian qua và là mức trung bình so với các nước
trong khu vực (bằng với Trung Quốc).


17

Để kích thích sự phát triển của thị trường ô tô Chính phủ đã ban hành Nghị
quyết 02/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, trong
đó giảm lệ phí trước bạ với ô tô đăng ký lần 1 xuống mức chung 10% và không tăng
quá 15%, lần 2 trở đi là 2% trên toàn quốc. Đồng thời, Chính phủ cũng quyết định
giảm lệ phí trước bạ đối với xe ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi theo hướng: Đối với ô
tô đăng ký lần đầu, mức thu chung là 10%, các địa phương được điều chỉnh tăng
không quá 50% mức quy định chung. Đối với ô tô đăng ký lần 2 trở đi, mức thu chung
là 2% và thực hiện thống nhất trên toàn quốc. Mức phí này được đánh giá có tác động
tích cực đối với thị trường xe cũ, đặc biệt góp phần kích thích người dân làm các thủ
tục sang tên đổi chủ, giúp công tác quản lý của cơ quan chức năng sẽ đơn giản hơn.
Thực hiện trợ cấp xuất khẩu đối với một số mặt hàng: cà phê, rau quả hộp, sản
phẩm phụ tùng xe gắn máy hai bánh,…
Khuyến khích đầu tư, phát triển vùng sâu vùng xa, các vùng kinh tế đặc biệt
khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.
Đây là phương pháp có ý nghĩa quan trọng, bởi nó tác động trực tiếp vào lợi ích
kinh tế của các chủ thể thương mại, nó rất nhạy bén, linh hoạt, phát huy được tính
năng động, sáng tạo của doanh nghiệp và người lao động, của các cơ sở sản xuất kinh
doanh. Vì vậy, việc thực hiện một cách đúng đắn sẽ giải quyết hài hòa mối quan hệ

phát triển thương hiệu cho các sản phẩm, hàng hóa của cơ sở.
Trong những năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với sự
chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và sự thực hiện nghiêm túc của các Bộ, ngành, địa
phương, các doanh nghiệp và nhân dân cả nước, nền kinh tế nước ta vẫn duy trì ổn
định.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP QLNN VỀ KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC
THƯƠNG MẠI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
3.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật về quản lý các hoạt động
thương mại.


19

Khuôn khổ pháp lý phải nhất quán, đồng bộ, ổn định và đảm bảo thực thi trong
thực tế. Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp theo 16 hiệp định đa
phương của WTO đã ký kết nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, phù hợp
với những yêu cầu, nguyên tắc của WTO về đối xử quốc gia và tối huệ quốc. Đẩy
mạnh việc sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản, quy phạm pháp luật phục vụ cho
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trên cơ sở đối chiếu, so sánh với các
cam kết, chuẩn mực trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, tạo sự phù
hợp giữa pháp luật trong nước và quốc tế, đảm bảo thực hiện đúng các cam kết quốc tế
trong hội nhập.
Khẩn trương rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành luật để loại bỏ những văn
bản chồng chéo, trùng lắp, trái ngược nhau, không phù hợp với thực tế và thiếu tính
khả thi, đồng thời nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật để có thể có
hiệu lực trương đối ổn định trong một thời gian nhất định.
Tiếp tục hoàn thiện các loại luật và văn bản hướng dấn thi hành luật liên quan
tới lĩnh vực thương mại dịch vụ, các khía cạnh thương mại của đầu tư và quyền sở hữu
trí tuệ. Sửa đổi các chính sách bảo vệ sản xuất trong nươc theo hướng xóa bỏ trợ cấp

3.3. Sắp xếp lại, bồi dưỡng và đào tạo kịp thời nhân sự bộ máy tổ chức của
các cơ quan quản lý nhà nước
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có phầm chất đạo đức tốt, có
bản lĩnh chính trị, tận tụy phục vụ nhân dân, có năng lực tổ chức và quản lý nền kinh
tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN.
Tăng cường công tác giám sát, thực hiện dân chủ, tạo cơ chế để nhân dân giám
sát các công việc có liên quan đến ngân sách, tài sản của Nhà nước; nâng cao hiệu quả
hiệu lực của các cơ quan chức năng, khuyến khích phát hiện và xử lý nghiêm các hành
vi tham nhũng, lãng phí; cải cách cơ bản chế độ tiền lương của cán bộ, công chức, viên
chức.
Xây dựng tiêu chí đảm bảo chất lượng, đánh giá chất lượng công chức sau đào
tạo, bồi dưỡng. Trong quá trình đánh giá chất lượng công chức cần chú ý kinh nghiệm
của Pháp, singapo: chất lượng công chức không nằm ở bằng cấp trình độ đào tạo, mà
chủ yếu là năng lực thực hiện công việc. Không nên đề cập đến chất lượng đội ngũ
công chức qua việc thống kê số lượng các loại bằng cấp của công chức, bởi vì bằng
cấp chưa thực sự phản ánh đúng năng lực làm việc của công chức. Tăng cường mở
rộng các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, bám
sát yêu cầu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm quản lý nguồn nhân lực, xây
dựng chính sách, tổ chức, điều hành nền hành chính và hội nhập kinh tế quốc tế.
KẾT LUẬN
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung, quan liêu bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý nhà nước về kinh tế đặc biệt là trong lĩnh
vực Thương mại ở nước ta luôn luôn được đổi mới và hoàn thiện.


21

Về lý luận cũng như thực tiễn đã và đang khẳng định rằng trong bất cứ một nền
kinh tế nào, măc dù đang còn ở các trình độ phát triển khác nhau, nhưng vai trò của

Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba
loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.Theo nghĩa hẹp, quản lý
Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm
điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ).
1.1.

QLNN về kinh tế vừa là một khoa học, vừa là nghệ thuật

Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu
riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính
quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia các hoạt
động kinh tế của xã hội. Tính khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế có nghĩa là
hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan
hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên
tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, tức là
xuất phát từ các quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng
giai đoạn phát triển.
Quản lý Nhà nước về kinh tế còn là một nghệ thuật và là một nghề vì nó lệ
thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ
quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả
năng thích nghi cao hay thấp v.v... của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước. Tính
nghệ thuật của quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện ở việc xử lý linh hoạt các tình
huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học. Bản thân
khoa học không thể đưa ra câu trả lời cho mọi tình huống trong hoạt động thực tiễn.


24

Nó chỉ có thể đưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực
tế. Còn vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào

Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nắm vững
những yêu cầu chặt chẽ sau :
-

Quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó có căn cứ khoa
học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế.

-

Khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách
nhiệm của cấp ra quyết định, chống việc lạm dụng quyền hạn nhưng không có
trách nhiệm, không sử dụng những quyền hạn được phép.

2. Các phương pháp kinh tế
Là phương pháp tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế để
cho đối tượng bị quản lý lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm
vi hoạt động. Các phương pháp quản lý kinh tế chính là các phương pháp tác động của
Nhà nước thông qua sự vận dụng các phạm trù kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, các định
mức kinh tế- kĩ thuật, tức là về thực chất các phương pháp kinh tế là một biện pháp để
sử dụng các quy luật kinh tế.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status