1
ĐAI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------
PHẠM THÁI HÀ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC THẢI KHU
CÔNG NGHIỆP GANG THÉP ĐẾN CHẤT LƯỢNG
NƯỚC SUỐI CAM GIÁ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên – năm 2011
ĐAI HỌC THÁI NGUYÊN
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------
PHẠM THÁI HÀ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC THẢI KHU
CÔNG NGHIỆP GANG THÉP ĐẾN CHẤT LƯỢNG
NƯỚC SUỐI CAM GIÁ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
vũ tôi trong suốt quá trình học tập.
Thái Nguyên, ngày….tháng….năm 2011
Người thực hiện luận văn
Phạm Thái Hà
LỜI CAM ĐOAN
4
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực và chưa hề bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và thông tin trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn
gốc.
Thái Nguyên, ngày….tháng….năm 2011
Người thực hiện luận văn
Phạm Thái Hà
5
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
6
1.3.2. Thực trạng ô nhiễm môi trường nước do nước thải công nghiệp
ở Việt Nam ................................................................................................. 8
1.4. Tình hình sản xuất Gang thép trên thế giới và ở Việt Nam ........................ 19
1.4.1. Tình hình sản xuất Gang thép trên thế giới .............................................. 19
1.4.2. Tình hình sản xuất Gang thép ở Việt Nam .............................................. 23
1.5. Thảo luận về tổng quan ................................................................................ 25
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................ 26
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ................................................................ 26
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 2
2.3. Nội dung nghiên cứu .................................................................................... 26
2.4. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................. 26
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu .................................................................... 27
2.4.2. Phương pháp lấy mẫu ................................................................................ 27
2.4.3. Các phương pháp phân tích nước trong phòng thí nghiệm....................... 29
2.4.4. Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu trên Excel ................................ 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ....................... 30
3.1. Khái quát về KCN Gang Thép – Lưu Xá và phường Cam Giá .................. 30
3.1.1. Vị trí địa lí, địa hình phường Cam Giá .................................................... 30
3.1.2. Khí hậu thời tiết, thủy văn ........................................................................ 30
3.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội phường Cam Giá ............................................ 32
3.1.4. Sơ lược về KCN Gang Thép – Lưu Xá .................................................... 33
3.2. Tổ chức sản xuất và sơ đồ công nghệ sản xuất của các nhà máy
thành viên thuộc KCN Gang Thép – Lưu Xá ............................................. 35
3.2.1. Nhà máy Cốc hóa ..................................................................................... 35
3.2.2. Nhà máy Cán thép Lưu Xá ....................................................................... 47
3.2.3. Nhà máy Luyện thép Lưu Xá ................................................................... 51
3.2.4. Nhà máy Luyện Gang .............................................................................. 55
3.3. Đánh giá chất lượng nước thải của KCN Gang Thép – Lưu Xá
Bảo vệ môi trường
CHXHCNVN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
KCN
Khu công nghiệp
TCCP
Tiêu chuẩn cho phép
NTSX
Nước thải sản xuất
NTSH
Nước tải sinh hoạt
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TN & MT
Tài nguyên và môi trường
60
Bảng 3.5. Kết quả quan trắc kiểm soát ô nhiễm suối Cam Giá tại điểm
thượng
nguồn nơi chưa chịu tác động của nguồn thải năm 2010 và 2011
61
Bảng 3.6. Kết quả quan trắc kiểm soát ô nhiễm suối Cam Giá tại điểm
tiếp nhận nguồn thải năm 2010
64
Bảng 3.7. Kết quả quan trắc kiểm soát ô nhiễm suối Cam Giá tại
điểm tiếp nhận nguồn thải năm 2011
65
Bảng 3.8. Kết quả quan trắc chất lượng nước suối Cam Giá tại điểm
đổ ra sông Cầu năm 2010
67
Bảng 3.9. Kết quả quan trắc chất lượng nước suối Cam Giá tại điểm
đổ ra sông Cầu năm 2011
68
57
Hình 3.8. BOD trung bình trên suối Cam Giá năm 2010 và 2 đợt đầu năm 2011
69
Hình 3.9. Biến động BOD trên suối Cam Giá theo không gian và thời gian
69
Hình 3.10. TSS trung bình trên suối Cam Giá năm 2010 và 2 đợt đầu năm 2011
70
Hình 3.11. Biến động TSS trên suối Cam Giá theo không gian và thời gian
70
Hình 3.12. Amoni trung bình trên suối Cam Giá năm 2010 và 2 đợt đầu năm 2011
71
Hình 3.13. Biến động Amoni theo không gian và thời gian
71
Hình 3.14. Phenol trung bình trên suối Cam Giá năm 2010 và 2 đợt đầu năm 2011
72
những vấn đề tiêu cực về môi trường do công cuộc công nghiệp hóa cũng đáng
kể. Một lượng lớn tài nguyên phải được khai thác để phục vụ cho sản xuất của
các khu công nghiệp, đồng thời chất thải được thải ra môi trường từ các khu
công nghiệp ngày càng nhiều, đặc biệt là vấn nạn nước thải công nghiệp.
Trong số các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường nước mặt phải kể đến ngành
công nghiệp sản xuất gang thép.
Thái Nguyên có thể được gọi là cái nôi sản xuất gang thép – luyện kim
đen của cả nước. Công ty Gang Thép Thái Nguyên được thành lập từ năm
1959, trải qua hơn 50 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, đến nay sản
lượng thép của công ty ngày càng nâng cao, quy mô sản xuất ngày càng mở
rộng. Tuy nhiên, quá trình sản xuất công nghiệp của công ty cũng để lại những
tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh, trong đó có môi trường nước
mặt của suối Cam Giá - thành phố Thái Nguyên. Đây là con suối tiếp nhận
trực tiếp nguồn nước thải của khu công nghiệp (KCN) Gang Thép, sau đó đổ
ra sông Cầu.
Vì vậy, để đánh giá được ảnh hưởng của các nguồn nước thải KCN
Gang Thép tới chất lượng nước suối Cam Giá trong những năm gần đây, được
sự cho phép của Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Sau đại học, dưới sự hướng
12
dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh và PGS. TS Đỗ Thị Lan, tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá ảnh hưởng của nước thải Khu công nghiệp
Gang Thép đến chất lượng nước suối Cam Giá thành phố Thái Nguyên”.
Mục đích đề tài
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nguồn nước thải KCN Gang
Thép tới chất lượng nước suối Cam Giá trong giai đoạn 2010 – 2011.
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục cải thiện chất lượng nước suối
Cam Giá.
Ô nhiễm môi trường theo loại hình môi trường có thể phân thành ô
nhiễm môi trường nước, ô nhiễm môi trường không khí và ô nhiễm môi
trường đất.
1.1.2. Ô nhiễm nước
Khái niệm về nước thải và nước ô nhiễm: Theo 2 tác giả Trần Yêm và
Trịnh Thị Thanh (1998) [17] thì:
Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người
và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.
Ô nhiễm nước là sự thay đổi bất lợi môi trường nước, hoàn toàn hay đại
bộ phận do các hoạt động khác nhau của con người tạo nên.
Nguồn gốc gây ô nhiễm nước có thể là tự nhiên và có thể là nhân tạo.
Có nhiều cách để phân loại về nước thải:
14
Phân loại theo cách xác định nguồn thải: Có 2 nguồn gây ô nhiễm là
nguồn gây ô nhiễm xác định (nguồn điểm) và nguồn gây ô nhiễm không xác
định (nguồn không điểm).
Nếu phân loại theo tác nhân ô nhiễm thì gồm có dạng ô nhiễm cơ học
(vật lý), ô nhiễm hóa học (vô cơ, hữu cơ), ô nhiễm vi sinh vật, ô nhiễm nhiệt
và ô nhiễm phóng xạ.
Theo nguồn gốc phát sinh thì ô nhiễm nước do: Nước thải sinh hoạt và
nước thải sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp), nước mưa chảy tràn.
1.2. Các căn cứ pháp luật
1.2.1. Cơ sở pháp lí
Việc đánh giá chất lượng nước thải công nghiệp và nước mặt (sông
suối) được thực hiện trên cơ sở quy định của các văn bản pháp lí sau:
- Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005.
máy xí nghiệp. Việc các KCN, các nhà máy xí nghiệp được mở ra để đẩy
mạnh phát triển kinh tế cũng gây ra nhiều vấn đề tranh cãi về môi trường.
Hiện trạng môi trường nước thải ở các khu vực sản xuất này đã và đang có
những dấu hiệu bị ô nhiễm.
Tỉnh Thái Nguyên có nhiều khu công nghiệp, trong đó KCN Gang
Thép – Lưu Xá là một trong các KCN lớn chuyên sản xuất gang, thép đáp ứng
cho nhu cầu phát triển công nghiệp trong cả nước. Công ty Gang Thép là
doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng công ty Thép Việt Nam (Bộ Công
nghiệp), được thành lập từ năm 1959 và đi vào hoạt động từ năm 1963. Mặc
dù đã có những nỗ lực trong cải thiện chất lượng môi trường nhưng KCN
Gang Thép vẫn có những hoạt động ảnh hưởng gây ô nhiễm môi trường, trong
đó việc xả thải nguồn nước thải (chủ yếu là nước thải sản xuất) đã gây ảnh
hưởng tới môi trường nước xung quanh. Do vậy, tiến hành đánh giá chất
lượng suối Cam Giá do ảnh hưởng của nguồn nước thải KCN Gang Thép có ý
nghĩa thực tiễn quan trọng.
16
1.3. Thực trạng ô nhiễm môi trường nước do nước thải công nghiệp
trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Thực trạng ô nhiễm môi trường nước do nước thải công
nghiệp trên thế giới
Vấn đề môi trường đang là một trong những vấn đề được quan tâm
hàng đầu trên thế giới. Nhiều hội nghị quốc gia, quốc tế về môi trường thường
xuyên được tổ chức nhằm hạn chế tình trạng môi trường toàn cầu đang ngày
càng bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tình hình môi trường thế giới đáng báo động;
treenn khắp hành tinh, các hệ sinh thái đang mất cân bằng, xuống cấp nặng nề;
sự sống bị nạn hạn hán, lũ lụt, sa mạc hóa và nhiều dạng ô nhiễm đe dọa. Các
nhà môi trường đã lên tiếng cảnh báo về tình hình “đầm lầy hóa thành sa mạc”
xả thải các chất độc hại từ các nhà máy công nghiệp trên thượng nguồn như
nhà máy giấy, nhà máy thuộc da, nhà máy sản xuất cán thép, nhà máy lọc dầu
và nhà máy hóa chất…nước sông Hoàng Hà hiện đang chứa một hàm lượng
rất cao các kim loại nặng và chất độc khác, làm cho chất lượng nước suy giảm
tới mức không đạt tiêu chuẩn đối với nước dành cho mục đích thủy lợi. Đoạn
sông Hoàng Hà đi qua tỉnh Sơn Tây, do sử dụng nước tưới cho nông nghiệp
nên kim loại nặng đã đi vào nông sản như hàm lượng Crôm và Chì đã quá
ngưỡng cho phép trong lúa gạo, Cadimi quá ngưỡng trong bắp cải…
Ở Brazil, Baixada Santista cũng là khu vực nổi tiếng thế giới về ô
nhiễm có liên quan đến công nghiệp, cảng và các hoạt động đô thị. Các hoạt
động khai thác mỏ và luyện kim đã cho kết quả là thải ra môi trường các chất
độc hại có khả năng lan truyền theo chuỗi thức ăn như Chì, Thủy ngân,
Niken… Không chỉ có vậy, các hoạt động xả thải công nghiệp ở khu vực này
cũng gây ra hiện tượng phú dưỡng (Elisabete S.Braga et al, 2004) [18].
Trong ngành công nghiệp luyện kim, quá trình sản xuất bắt buộc phải
sử dụng đến một lượng nước khá lớn. Để sản xuất 1 tấn thép cần 100-200 m3
nước/h, tức là cần trung bình 150m3/h. Khối lượng nước thải ra để sản xuất
1.000.000 tấn phôi thép/năm là 250-500m3/năm (vì có phần lớn lượng nước
được sử dụng làm mát tái tuần hoàn). Trung bình mỗi giờ, lượng nước bơm
cho các hoạt động trong sản xuất thép nhu sau:
Thiêu kết: 0-20m3/tấn thiêu kết
Blast lò: 50-80m3/tấn gang
Luyện thép: 20-50m3/tấn thép
18
Máy cán: 20-80m3/tấn cán
Cốc hóa: 2-5m3/tấn than cốc
Lò làm sạch khí: 2-5m3/1000m3 khí (P.Gendy và E.Dohen, 2001) [20].
trong nhiều trường hợp có thể được thu hồi lại. Ví dụ như nước thải này gồm
có nước thải từ quá trình mạ điện, nước thải từ việc rửa hay vệ sinh các thiết bị
phản ứng, nước chứa amoni hay phenol từ quá trình dập lửa của công nghiệp
than cốc, nước ngưng từ quá trình sản xuất giấy. Do đặc trưng về nguồn gốc
phát sinh lên loại nên loại nước thải này nhìn chung có nồng độ chất gây ô
nhiễm lớn, có thể mang tính nguy hại ở mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào bản
thân quá trình công nghệ và phương thức thải bỏ. Nước thải loại này cũng có
thể có nguồn gốc từ các sự cố rò rỉ sản phẩm hoặc nguyên liệu trong quá trình
sản xuất, lưu chứa hay bảo quản sản phẩm, nguyên liệu.
Thông thường các dòng nước thải sinh ra từ các công đoạn khác nhau
của toàn bộ quá trình sản xuất sau khi được xử lý ở mức độ nào đó hoặc không
được xử lý, được gộp lại thành dòng thải cuối cùng để thải vào môi trường (hệ
thống cống, lưu vực tự nhiên như sông, ao hồ…). Có một điều cần nhấn mạnh:
thực tiễn phổ biến ở các đơn vị sản xuất, do nhiều nguyên nhân, việc phân lập
các dòng thải (chất thải lỏng, dòng thải có nồng độ chất ô nhiễm cao với các
dòng thải có tải lượng gây ô nhiễm thấp nhưng lại phát sinh với lượng lớn như
nước làm mát, nước thải sinh hoạt, nước mưa chảy tràn…) cũng như việc tuần
hoàn sử dụng lại các dòng nước thải ở từng khâu của dây chuyền sản xuất,
thường ít được thực hiện.
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng
trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình
trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Nước ta thực hiện công nghiệp
hóa và đương nhiên là kéo theo đô thị hóa. Theo kinh nghiệm của nhiều nước,
tình hình ô nhiễm môi trường cũng gia tăng nhanh chóng. Nếu tốc độ tăng
trưởng GDP trong vòng 10 năm tới tăng bình quân khoảng 7%/năm, trong đó
GDP công nghiệp khoảng 8 – 9%/năm, mức đô thị từ 23%/năm tăng lên 33%
năm 2000, thì đến năm 2010 lượng ô nhiễm do công nghiệp có thể tăng lên
gấp 2,4 lần so với bây giờ. Tại TP. Hồ Chí Minh có 25 KCN tập trung hoạt
động với tổng số 611 nhà máy trên diện tích 2298 ha đất. Theo kết quả tính
dân cư.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp tập trung là rất lớn. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ
Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng
nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt.
21
Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở
sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn
tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu
lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4+
là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó
chịu…(Hoàng Hoa Lan, 2003) [4].
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt
không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông,
hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước
thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước
thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là
những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm
trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng. Ở thành phố Hà Nội,
tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 – 400.000 m3/ngày; hiện
mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước
thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh
hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven
các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4,
NO2-, NO3- ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép
ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có
tra một tháng trước, đoàn kiểm tra đã phát hiện trạm xử lý nước thải này
không hoạt động. Tại miệng cống xả cuối cùng của trạm xử lý vẫn có nước
thải đen, hôi xả thẳng ra môi trường. Nước thải công nghiệp của nhiều cơ sở
chưa được thu gom xử lý mà xả thẳng ra môi trường với lưu lượng lớn. Ngoài
hàm lượng cyanua lên tới 0,56 mg/l, vượt 8 lần tiêu chuẩn cho phép, còn có
BOD5 vượt 13,5 lần, COD vượt 14,7 lần, sunfua vượt hơn 4 lần, colifom vượt
hơn 13 lần… Theo các chuyên gia, cyanua là chất cực độc, chỉ cần 0,15-0,2
gram là đủ để giết chết một người khỏe mạnh. Sở Tài nguyên Môi trường đã
kiến nghị đình chỉ hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn Việt Nam ra môi
trường của Công ty Nam Đức; buộc công ty này phối hợp với các doanh
nghiệp trong khu công nghiệp tổ chức đấu nối toàn bộ nước thải vào hệ thống
thu gom nước thải để xử lý tập trung trước khi đổ ra môi trường; vận hành
23
trạm xử lý nước thải thường xuyên, bảo đảm toàn bộ nước thải của Quang
Minh phải được xử lý đạt tiêu chuẩn…
Riêng với hành vi không vận hành thường xuyên hệ thống xử lý nước
thải, công ty Nam Đức đã bị UBND Hà Nội ra quyết định xử phạt 150 triệu
đồng vào ngày 8/6. Lãnh đạo thành phố Hà Nội cũng đã chỉ đạo lập đoàn kiểm
tra liên ngành để kiểm tra việc thực thi quy định về môi trường của các doanh
nghiệp trong khu công nghiệp Quang Minh.
Trước đó, ngày 24/5 do quá bức xúc với tình trạng ô nhiễm kéo dài do
nước thải từ khu công nghiệp Quang Minh, người dân quanh đây đã tập trung
phản đối, lấp cống xả thải. Đến 27/5, cửa xả cuối cùng của khu công nghiệp
Quang Minh cũng bị người dân thị trấn Quang Minh lấp, đến nay, vẫn chưa
được khơi thông, (Nguyễn Hưng, 2010) [3].
Theo Hà Lê (2009) [5], hiện tại, chúng ta đang tập trung phát triển các
ngành công nghiệp phụ trợ, trong đó kỳ vọng đặc biệt vào ngành gia công kim
cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép; một số cơ sở mạ điện tuy có hệ
thống xử lý nước thải nhưng chưa chú trọng đầy đủ đến các thông số công
nghệ của quá trình xử lý để điều chỉnh cho phù hợp khi đặc tính của nước thải
thay đổi.
Tại TP.HCM, Bình Dương và Đồng Nai, kết quả phân tích chất lượng
nước thải của các nhà máy, cơ sở xi mạ điển hình ở cả 3 địa phương này cho
thấy, hầu hết các cơ sở đều không đạt tiêu chuẩn nước thải cho phép: hàm
lượng chất hữu cơ cao, chỉ tiêu về kim loại nặng vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho
phép, COD dao động trong khoảng 320-885 mg/lít do thành phần nước thải có
chứa cặn sơn, dầu nhớt… Hơn 80% nước thải của các nhà máy, cơ sở xi mạ
không được xử lý. Chính nguồn thải này đã và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng
đến môi trường nước mặt, ảnh hưởng đáng kể chất lượng nước sông Sài Gòn
và sông Đồng Nai.
Về chất lượng nước các hệ thống sông: nhìn chung chất lượng nước ở
thượng lưu các con sông còn khá tốt, nhưng vùng hạ lưu phần lớn đã bị ô
nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng. Nguyên nhân là do nước thải của các cơ sở
sản xuất, kinh doanh, nước thải sinh hoạt không được xử lý đã và đang thải
trực tiếp ra các dòng sông. Chất lượng nước suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu
như BOD, COD, NH4+, tổng N, tổng P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
25
- Sông Đồng Nai : Vùng hạ lưu (tính từ sau hồ Trị An đến điểm hợp lưu
với sông Sài Gòn), ô nhiễm hữu cơ chưa cao (DO = 4 -6 mg/l, BOD = 4 – 8
mg/l) nhưng hầu như không đạt TCVN đối với nguồn loại A. Ô nhiễm vi sinh
và dầu mỡ rõ rệt, ô nhiễm kim loại nặng, phenol, PCB… chưa vượt tiêu chuẩn,
nhiễm mặn không xảy ra từ Long Bình đến thượng lưu. Vùng thượng lưu nước
có chất lượng tốt, trừ khu vực thành phố Đà Lạt đã bị ô nhiễm nặng do hàm
lượng cao của các chất hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh. Khả năng tự làm sạch của