ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ KIỀU NGỌC
NGUYỄN THỊ KIỀU NGỌC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH
CHẾ BIẾN TỪ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP
NGHIÊN
CỨU ẢNHVÀ
HƯỞNG
PHÂN
HỮU
CƠ
VI2SINH
ĐẾN
SINH TRƯỞNG
CHẤT CỦA
LƯỢNG
CỦA
CHÈ
LDP
TUỔI 5
CHẾ
BIẾN XUÂN
TỪ PHỤ
PHẨM NÔNG
NGHIỆP
TẠI KHẢI
- THANH
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
TS. Nguyễn Thị Ngọc Bình - Phó trưởng bộ môn Nông Lâm kết hợp Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc
Đảng ủy - UBND xã Khải Xuân - Thanh Ba - Phú Thọ
Gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và
thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kiều Ngọc
MỤC LỤC
Danh mục bảng biểu……………………………………………………………........i
Danh mục các chữ viết tắt…………………………………………………………..iv
MỞ ĐẦU.....................................................................................................................6
1.Tính cấp thiết của đề tài ...........................................................................................6
2. Mục đích - yêu cầu của đề tài..................................................................................7
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ..................................................7
PHẦN 1:TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ....................................................9
2.1. Cơ sở khoa học xác định biện pháp kỹ bón phân hữu cơ vi sinh cho chè ...........9
2.2. Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh đến cây chè trên thế giới và ở Việt
Nam………………………………………………………………………………...11
PHẦN 2:VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............19
2.1. Vật liệu nghiên cứu ............................................................................................19
2.2. Phạm vi nghiên cứu............................................................................................19
2.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................19
2.4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................19
PHẦN 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .........................................26
2. Đề nghị ..................................................................................................................65
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................66
i
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng
Bảng 3.1
Nội dung
Tr
Ảnh hưởng của bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm 32
khác nhau đến chiều cao cây chè, chiều rộng tán chè
Bảng 3.2
Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức 33
đạm khác nhau đến động thái tăng trưởng chiều dài búp chè
Bảng 3.3
Ảnh hưởng của bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm 35
khác nhau đến chiều dài búp, các yếu tố cấu thành năng suất
chè: Mật độ búp, khối lượng búp
Bảng 3.4
Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đếnđộng 49
thái sinh trưởng búp chè sau bật mầm
Bảng 3.11
Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến năng 50
suất và các yếu tố cấu thành năng suất chè
Bảng 3.12
Thành phần hóa học của đất trước và sau khi thí nghiệm
53
ii
Bảng 3.13
Thành phần lý tính đất trước và sau khi thí nghiệm
55
Bảng 3.14
Hoạt động của vi sinh vật trước và sau khi thí nghiệm
56
Hình 3.1
Động thái tăng trưởng chiều dài búp
Hình 3.2
Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức 36
34
đạm khác nhau đến chiều dài búp
Hình 3.3
Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức 36
đạm khác nhau đến mật độ búp
Hình 3.4
Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức 38
đạm khác nhau đến năng suất
Hình 3.5
Diễn biến gây hại của bọ cánh tơ
44
Hình 3.6
Hình 3.11
Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến mật độ búp
52
Hình 3.12
Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến năng suất
53
Hình 3.13
Diễn biến gây hại của bọ cánh tơ
63
Hình 3.14
Diễn biến gây hại của bọ xít muỗi
64
Hình 3.15
Diễn biến gây hại của nhện đỏ
65
Đ/C
Đối chứng
ĐHNN
Đại học Nông nghiệp
Công nghệ EM
Công nghệ vi sinh vật hữu hiệu
HCVS
Hữu cơ vi sinh
KHKT
Khoa học kỹ thuật
Viện KHKT NLN MNPB Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi
phía Bắc
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PHCVSVCN
Phân hữu cơ vi sinh vật chức năng
chè đạt được sự phát triển nhanh chóng về diện tích, năng suất và sản lượng.
Ngày nay, mặc dù phân hoá học được coi là yếu tố tiên phong trong việc cải tạo
năng suất cây trồng và xu hướng sử dụng phân hoá học ngày càng có chiều hướng
gia tăng do sử dụng phân hóa học tiết kiệm thời gian và công lao động song phân
hữu cơ vẫn giữ một vai trò quan trọng không thể thay thế trong sản xuất nông
nghiệp nói chung và ngành chè nói riêng, đặc biệt là canh tác chè bền vững. Trong
nền nông nghiệp cổ truyền của các nước trên thế giới cũng như ở các nước Asian và
ở Việt Nam, phân hữu cơ không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng với hàm
lượng vốn có của nó mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện các đặc
tính lý hoá học của đất thông qua vai trò của vật chất hữu cơ (Koorevaar và cộng sự,
1983) [3]. Thực tế sản xuất cho thấy, người trồng chè thường bón phân hữu cơ chủ
yếu là phân chuồng kết hợp với phân vô cơ cho chè ở giai đoạn kiến thiết cơ bản,
trồng mới và chủ yếu sử dụng phân vô cơ cho chè ở các giai đoạn sản xuất kinh
doanh để tiết kiệm thời gian và công lao động, thúc đẩy nhanh quá trình sinh trưởng
của búp mới, tăng năng suất. Mặc dù đã nhận thức được vai trò của phân hữu cơ vi
sinh trong việc nâng cao năng suất, cải thiện độ phì của đất, song ở Việt Nam cho
đến nay mức độ ứng dụng loại phân bón này còn hết sức hạn chế. Vì vậy, việc tìm
ra các giải pháp thay thế một phần phân hóa học và tận dụng phế phụ phẩm nông
2
nghiệp tại chỗ đang là một xu hướng mới được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu. Do đó xây dựng quy trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm nông
nghiệp phục vụ sản xuất chè an toàn là một trong những hướng nghiên cứu của
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc. Dưới sự hướng dẫn
của Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Bình - Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp
miền núi phía Bắc, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“ Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phế phụ
phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè LDP2 tuổi 5 tại
Khải Xuân - Thanh Ba - Phú Thọ ”
nghiệp tại chỗ làm phân hữu cơ vi sinh, thay thế phân chuồng và một phần phân vô
cơ, tăng độ xốp và cải thiện độ phì cho đất, đảm bảo tăng và ổn định năng suất chè,
khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất.
4
PHẦN 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học xác định biện pháp kỹ bón phân hữu cơ vi sinh cho chè
1.1.1. Cơ sở khoa học của kỹ thuật bón phân cho chè
Cây chè Việt Nam chủ yếu được trồng đồi núi có địa hình dốc là chính, nên đất
bị xói mòn lớn, làm trôi lớp đất màu mỡ, nước không được giữ lại, dẫn đến thiếu
nước trầm trọng trong mùa khô sau đó. Việc lạm dụng phân bón hóa học dẫn đến
chất lượng sản phẩm thu được không cao. Tuy bước đầu đã nhận thức được vai trò
của phân bón hữu cơ vi sinh trong việc nâng cao năng suất, cải thiện độ phì của đất,
song ở Việt Nam nói chung đặc biệt là khu vực trung du, miền núi Phía Bắc cho đến
nay mức độ ứng dụng loại phân bón này còn hết sức hạn chế. Mặt khác, chè là cây
công nghiệp dài ngày, sản phẩm là búp chè chỉ chiếm 8-13% sinh khối của cây, lại
phải thu hái nhiều lần trong 1 năm, mặt khác năng suất chè của ta chưa cao, cho nên
so với những cây công nghiệp dài ngày khác như cà phê, cao su...thì nhu cầu dinh
dưỡng của cây chè không lớn. Với năng suất 2 tấn búp khô trên 1ha/năm, chè lấy đi
từ đất trung bình là 80kg N, 23 kg P2O5, 48kg K2O và 16 kg CaO. Tuy nhiên ngoài
hàm lượng búp chè được hái hàng năm, chè còn được đốn cành, chặt cây và mang
đi khỏi vườn, cho nên tổng lượng các chất dinh dưỡng chè lấy đi khỏi đất là 144 kg
N, 71 kgP2O5, 62kg K2O , 24kg MgO và 40 kg CaO.
Như vậy, việc bón phân cân đối, đúng tỷ lệ và liều lượng làm cho năng suất chè
tăng 14-20%, với hệ số lãi là 2,8-3,9 lần. Bón phân đúng còn làm tăng hàm lượng
tanin thêm 2,0-6,5%, chất hoà tan tăng 1,5-3,5% và hương vị chè được cải thiện.
1.1.2. Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng đến sinh trưởng và phát triển của
cây chè
Kẽm (Zn): là thành phần của men metallo-enzymes-carbonic-anhydrase,
anxohol dehydrogenase, quan trọng trong tổng hợp axit indol acetic, axit nucleic và
protein, tăng khả năng sử dụng lân và đạm của cây. Thúc đẩy sinh trưởng, phát
6
triển, tăng năng suất và chất lượng chè. Thiếu kẽm: cây lùn, còi cọc, lá chuyển dần
bạc trắng, số búp ít.
Bo (B): cần cho sự phân chia tế bào, tổng hợp protein, lignin trong cây, tăng khả
năng thấm ở màng tế bào và vận chuyển hydrat carbon. Tăng độ dẻo của búp, giảm
rụng lá, tăng năng suất và chất lượng chè.
Molypđen (Mo): là thành phần của men nitrogenase, cần cho vi khuẩn
Rhizobium cố định đạm, tăng hiệu suất sử dụng đạm, năng suất và chất lượng chè.
Theo định nghĩa: Phân bón hữu cơ vi sinh vật (tên thường gọi: phân hữu cơ vi
sinh) là sản phẩm được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, nhằm
cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng vi
sinh vật sống được tuyển chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn quy định, góp phần nâng
cao năng suất, chất lượng nông sản. Phân hữu cơ vi sinh vật không gây ảnh hưởng
xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản.
1.2. Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh đến cây chè trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh trên thế giới
Quá trình khai hoang trồng mới chè đã phá vỡ hầu hết thực bì trên bề mặt đất.
Qua 4 năm từ lúc khai hoang trồng mới đến hết giai đoạn kiến thiết cơ bản đất bị lộ
thiên, dưới ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, sự tổn thất
về chất hữu cơ càng rõ rệt. Chuyển sang giai đoạn kinh doanh, chế độ canh tác hiện
hành đã làm giảm đáng kể lượng mùn trong đất. Phân tích đất tại điểm cố định sau
khi trồng chè cho thấy: Hàm lượng mùn của đất hoang là 2,83%, sau 7 năm trồng
chè còn 2,09%, sau 11 năm trồng chè giảm 0,73%.
Như vậy, cây trồng hút chất dinh dưỡng từ đất để sinh trưởng và phát triển. Ngoài
các bộ phận thu hoạch ra, trong các sản phẩm phụ cũng chứa đựng các chất dinh dưỡng
Ngoài ra, sử dụng phế phụ phẩm còn tiết kiệm được 50 % lượng phân bón hoá
học, giảm chi phí cho người dân trong sản xuất. Heman và Cs (Viện nghiên cứu
Khoa học Nông nghiệp, trường đại học Banaras Hindu của Ấn Độ, (1992) cũng
thừa nhận ảnh hưởng của vùi phụ phẩm nông nghiệp đến năng suất cây trồng ở
vùng khô hạn của Ấn Độ. Sinh khối tăng 25,3 % và năng suất hạt tăng 9,2 % so với
công thức đối chứng [30].
8
Viện lân và Kali của Canada (1995) xác nhận 80 % tổng số kali cây lấy đi nằm
trong xác bã cây. Nếu các xác bã thực vật này được hoàn lại cho đất đã canh tác thì
chúng sẽ cung cấp một lượng kali đáng kể cho các cây trồng vụ sau.
Ở các nước Canada và Mỹ, sản phẩm hữu cơ sau khi thu hoạch thông thường được
trả lại trực tiếp hoặc qua một thời gian ủ làm cho chúng bị phân huỷ hoặc bán phân
huỷ, bằng cách đó làm tăng hiệu quả sử dụng của cây trồng. Lai (1997) đã cho thấy
rằng lượng phụ phẩm nông nghiệp tạo ra phụ thuộc vào đặc tính của từng loại cây
trồng. Ước tính về phụ phẩm nông nghiệp cho thấy lúa có thể cho từ 3,5- 4,5 tấn / ha,
ngô khoảng 2,7- 3,2 tấn/ ha, đậu tương 0,8- 1,0 tấn/ ha, lúa mạch 2,6- 3,3 tấn/ ha.
Christian Brun và cs (2000) cũng cho thấy nếu phân hữu cơ (làm từ phân người,
gia súc và cây xanh) có bổ xung thêm Baciluus Subtilus, Lactobacillus
Rhammossus bón cho chè thì chất hoà tan trong chè tăng từ 47,31 % (chỉ bón phân
hữu cơ) lên 51,01 % [26].
Thí nghiệm so sánh giữa hiệu lực phân bón hữu cơ và phân bón hữu cơ vi sinh
cho chè vùng Pritchard của Phil Renfrow và Jim Evans (2000) nhận thấy: sử dụng
phân bón hữu cơ vi sinh cho hiệu quả hơn hẳn so với phân bón hữu cơ.
Theo kết quả nghiên cứu của trung tâm Bảo vệ Nguồn lợi tự nhiên - Bộ Nông nghiệp
Hoa Kỳ năm 2002, hàm lượng các phụ phẩm nông nghiệp có khác nhau đối với các
nhóm cây trồng khác nhau, nó phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại cây trồng.
Do vậy, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp tại chỗ cho các cây trồng là một giải
pháp đúng đắn nhằm tận dụng nguồn hữu cơ sẵn có. Tuy nhiên việc lựa chọn các
thuộc vùng Warialda phía Bắc của bang New South Wales ghi nhận năng suất tăng
5-6 % khi vùi phụ phẩm [27].
Như vậy, sự đa dạng về chủng loại phế phụ phẩm cây trồng có thể cho phép
nông dân lựa chọn những loại phế phụ phẩm khác nhau. Và cho thấy sản phẩm phụ
cây trồng như lúa mỳ, rơm rạ, bã mía và các cây phân xanh đều có thể sử dụng như
một loại phân bón hữu cơ và mang lại những hiệu quả kinh tế đáng kể thông qua
việc cải tạo độ phì đất và năng suất cây trồng. Đặc biệt trong điều kiện các nước
đang phát triển để đảm bảo việc bền vững và duy trì độ phì đất thông qua nguồn
hữu cơ tại chỗ là điều hết sức cần thiết.
10
Cây chè cũng vậy, lý tính đất trồng chè có vai trò đặc biệt quan trọng trong
canh tác chè trên đất dốc. Quá trình đi lại, chăm sóc và cạn kiệt chất hữu cơ đã làm
cho đất chặt cứng, không thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và phát triển. Vì vậy các
biện pháp cải tạo lý tính đất làm tăng khả năng giữ nước và lưu thông chất dinh
dưỡng của đất chè được coi là quan trọng hơn cải thiện hoá tính và những chỉ tiêu
hoá tính được quy định bởi lý tính của đất.
Người Pháp đã thử nghiệm nhiều loại phân hữu cơ và qua các kết quả nghiên
cứu cho thấy phân hữu cơ có tác dụng lâu bền và cải tạo đất chè nghèo mùn. Bên
cạnh việc sử dụng phân trâu, phân bò, cây chè còn có thể được bón bằng phân xanh
và phân hữu cơ nhân tạo theo kinh nghiệm của Châu Âu và đã được áp dụng tại một
số nước trồng chè như: Ấn Độ, Srilanca và Indônêxia.
Các đồn điền trồng chè ở Châu Âu, việc sản xuất phân bón hữu cơ là rất khó
khăn vì nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ là không sẵn có. Trước đây, các nhà
trồng trọt phương Tây chưa bao giờ nghĩ đến biện pháp sản xuất phân bón hữu cơ
nhân tạo. Chỉ gần đây, Trạm nghiên cứu Rothamsted ở nước Anh mới bắt đầu
nghiên cứu kinh nghiệm của người Trung Quốc và Nhật Bản khi chế tạo phân hữu
cơ nhân tạo.
Tại Srilanca và Indonêxia người trồng chè nhận thấy phân hoá học chỉ có tác
Bên cạnh việc sử dụng nguồn rác thải nông nghiệp để làm nhiên liệu, trong
nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp sản xuất silic... đa số lượng rác thải còn lại được
đốt bỏ không sử dụng.
Phân hữu cơ vi sinh được hầu hết các nước trên thế giới sử dụng cho sản xuất
nông, lâm nghiệp nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng và cải tạo độ phì
nhiêu của đất. Để làm phân hữu cơ nhìn chung mất khoảng từ 6 - 8 tháng.
Trong quá trình sản xuất phân bón hữu cơ của nhiều quốc gia, vào công đoạn
tạo thành phẩm người ta thường bổ sung thêm một số chủng vi sinh vật đã được
phân lập và tuyển chọn kỹ. Các chủng vi sinh vật thường được bổ sung vào là các
chủng có hoạt tính : Phân giải lân, cố định Nitơ, sinh các chất kích thích sinh trưởng
thực vật, đối kháng nấm bệnh... các chủng vi sinh vật được bổ sung vào sẽ tăng
cường khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây, tăng khả năng kháng bệnh.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh ở Việt Nam
Việt Nam có lịch sử trồng chè từ rất lâu nhưng mới được chú trọng với quy mô
lớn và tập trung khoảng 100 năm trở lại đây. Điều kiện đất đai và khí hậu nước ta
rất thích hợp cho cây chè phát triển, 2/3 diện tích đất là đất đồi núi, đặc biệt ở vùng
12
núi cao có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tạo nên những giống chè đặc sản nổi
tiếng. Trong quá trình canh tác thì người dân đã biết tận dụng các cành chè sau đốn
để tủ gốc cho chè (ép xanh).
Từ những năm 1968 - 1975, Trại thực nghiệm chè Phú Hộ tiến hành thực
nghiệm phân bón trên 8000 m2 chè sản xuất kinh doanh, giống chè Trung du 8 - 15
tuổi tại Phú Hộ, Hợp tác xã Đồng Tâm (Ninh Dân - Thanh Ba - Phú Thọ) và nông
trường chè Văn Lĩnh, không bón phân chuồng mà thay vào ép xanh cành lá chè đốn
hàng năm vào tháng 1 cộng với 800 kg sunfat đạm và 100 kg clorua kali. Kết quả
làm năng suất bình quân trong 8 năm đạt 800 kg bup chè/ha. Bón ép xanh bằng
cành lá già và cỏ Stilo cũng làm năng suất chè tăng 13,9 - 24,2 %. Độ xốp tăng 5 %,
độ mịn (0 - 20 cm) tăng 0,3 % ở khu ép xanh bằng cành lá chè già. Độ xốp đất tăng
HCVS Sông Gianh. Kết quả thí nghiệm cho thấy việc thay thế 30 % lượng phân
khoáng bằng phân hữu cơ vi sinh cho hiệu quả tốt nhất [23].
Nguyễn Thị Ngọc Bình (2005) đã thử nghiệm phân lân hữu cơ vi sinh Sông
Gianh cho cây chè Trung du trồng tại Tân Cương, Thái Nguyên cho thấy khi thay
thế 50 % theo giá trị đầu tư phân bón hóa học bằng phân hữu cơ vi sinh cho hiệu
quả kinh tế cao nhất [1].
Cũng theo TS Nguyễn Thị Ngọc Bình: phế phụ phẩm nông nghiệp ở nước ta
chủ yếu bao gồm: Vỏ trấu, lõi ngô, bã mía, mùn cưa, vỏ dừa, bã thải nhà máy
đường, nhà máy sắn, tổng sản lượng phế thải sinh khối hàng năm ở nước ta có thể
đạt 8 – 11 triệu tấn, trong đó riêng công nghiệp mía đường khoảng 2,5 - 3 triệu tấn
bã mía, 0,25 - 0,3 triệu tấn mùn mía. Công nghiệp cà phê mỗi năm tạo ra khoảng 0,2
- 0,25 triệu tấn vỏ cà phê. Vùng Tây Bắc có tới 55.000 - 60.000 tấn mùn cưa từ việc
khai thác và chế biến gỗ. Tính riêng vỏ sắn thải ra từ các nhà máy sắn đóng trên địa
bàn 3 tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang mỗi năm lần lượt là: 4.500; 11.000 và
2.200 tấn. Ngoài ra còn có, một số cây tạo nguồn phân xanh tốt như: Đậu mèo
(năng suất trên 20 tấn/ha, đến lúc ra hoa tạo lớp thảm dày đạt trên 35 tấn/ha),
Muồng hoa vàng lá tròn (năng suất 30 - 40 tấn/ha), keo giậu, cỏ Lào, các loại cỏ
sinh khối lớn và các phế thải nông nghiệp như rơm rạ, cỏ và các cây hoang dại khác
14
như: Tế, guột, cỏ Lào, cúc quỳ...là nguồn nguyên liệu sạch, thích hợp cho việc làm
phân ủ hữu cơ sinh học [3].
Ngay từ những năm 60, các nhà khoa học Việt Nam đã bắt tay vào nghiên cứu
phân bón hữu cơ sử dụng cho cây trồng, các phương pháp truyền thống trong sản xuất
phân ủ được áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao độ
phì nhiêu của đất trồng. Song đến tận đầu những năm 90, phân bón vi sinh vật mới
chính thức được đưa vào chương trình nghiên cứu cấp nhà nước và kéo dài cho đến
nay. Phân hữu cơ sinh học từ nguồn phế thải giàu xenluloza đã được nghiên cứu và
triển khai tương đối thành công tại một số nhà máy mía đường như Lam Sơn, Thanh
học” thuộc chương trình công nghệ sinh học KHCN - 02 - 04 B. Kết quả của đề tài
đã đề xuất được công nghệ xử lý lá mía thành phân hữu cơ sinh học với thời gian
ngắn (còn 30 % so với bình thường bằng chế phẩm vi sinh vật), xây dựng được
công nghệ xử lý rác thải nông nghiệp bằng bộ chế phẩm vi sinh vật Emuni, hoàn
thiện được công nghệ xử lý vỏ cà phê thành phân hữu cơ vi sinh bằng bộ chế phẩm Mcrocom.
Đào Châu Thu và cs (2003) (Thuộc trung tâm nghiên cứu và phát triển nông
nghiệp bền vững thuộc trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) đã hợp tác với khoa
sinh học và kinh tế Nông nghiệp, Đại học Udine, Italia (2003 - 2005) tiến hành đề
tài: “Sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ rác thải hữu cơ sinh hoạt và phế thải nông
nghiệp để dùng làm phân bón cho rau sạch vùng ngoại ô thành phố” bước đầu cho
kết quả khả quan. Năng suất rau được giữ vững, hàm lượng các kim loại nặng trong
rau giảm 18 - 24 % so với đối chứng [19].
Hiện nay, nước ta có 2 nhà máy xử lý hiếu khí rác thải sinh hoạt làm phân bón
(Cầu Diễn - Hà Nội và Việt Trì - Phú Thọ). Trong nước cũng đã có nhiều dây
truyền sản xuất phân hữu cơ vi sinh đồng bộ. Các dây truyền này thường sản xuất
phân vi sinh từ mùn mía, than bùn...[3].
Tại huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang, Nguyễn Mỹ Hoa và cs (2008) đã đánh
giá chất lượng phân hữu cơ vi sinh được ủ từ nguồn phế thải thực vật nông thôn, kết
luận: Phân hữu cơ - vi sinh do nông dân sản xuất tại nhà từ các nguồn dư thừa thực
vật ở nông thôn như: rơm rạ, bèo tây, cỏ vườn...có bổ xung vi sinh vật đảm bảo chất
lượng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [7].
16
Tuy bước đầu đã nhận thức được vai trò của phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh
trong việc nâng cao năng suất, cải thiện độ phì của đất, song ở Việt Nam nói chung
đặc biệt là khu vực trung du, miền núi Phía Bắc cho đến nay mức độ ứng dụng loại
phân bón này còn hết sức hạn chế. Người nông dân, nhất là đồng bào dân tộc miền
núi chưa thực sự được thừa hưởng thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học Việt
Nam về phân bón hữu cơ vi sinh. Nói cách khác chúng ta mới chỉ sản xuất phân bón