nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ - Pdf 22



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ KIỀU NGỌC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH
CHẾ BIẾN TỪ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP
ĐẾN SINH TRƢỞNG VÀ CHẤT LƢỢNG CỦA CHÈ LDP
2
TUỔI 5
TẠI KHẢI XUÂN - THANH BA - PHÚ THỌ Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01


CHẾ BIẾN TỪ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP
ĐẾN SINH TRƢỞNG VÀ CHẤT LƢỢNG CỦA CHÈ LDP
2
TUỔI 5
TẠI KHẢI XUÂN - THANH BA - PHÚ THỌ Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - năm 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình của
các thầy cô giáo giảng dạy, cô giáo hƣớng dẫn khoa học, đƣợc sự giúp đỡ của
các cơ quan, tập thể, cá nhân và nhân dân địa phƣơng nơi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
TS. Nguyễn Thị Ngọc Bình - Phó trƣởng bộ môn Nông Lâm kết hợp -
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc
Đảng ủy - UBND xã Khải Xuân - Thanh Ba - Phú Thọ

2.1. Vật liệu nghiên cứu 19
2.2. Phạm vi nghiên cứu 19
2.3. Nội dung nghiên cứu 19
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 19
PHẦN 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1.Nghiên cứu ảnh hƣởng của phân hữu cơ vi sinh phối hợp với các mức đạm khác
nhau đến sinh trƣởng và chất lƣợng của chè LDP
2
tuổi 5 26
3.1.1. Ảnh hƣởng của bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm khác nhau đến
động thái sinh trƣởng chiều cao cây và chiều rộng tán chè 26
3.1.2. Ảnh hƣởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm khác nhau
đến một số chỉ tiêu sinh trƣởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất chè 27
3.1.3. Ảnh hƣởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm khác nhau
đến tỷ lệ mù xòe, chất lƣợng nguyên liệu chè 32
3.1.4. Ảnh hƣởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm khác nhau
đến chất lƣợng chè: chất lƣợng sinh hóa, chất lƣợng cảm quan 34
3.1.5. Ảnh hƣởng của bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm khác nhau đến
sâu bệnh hại chè 37 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

3.1.6. Hiệu quả kinh tế 40
3.2. Thí nghiệm 2 42
3.2.1. Ảnh hƣởng của các công thức bón phân khác nhau đến động thái sinh trƣởng
của cây chè 42
3.2.2. Ảnh hƣởng của các công thức bón phân khác nhau đến một số chỉ tiêu sinh
trƣởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất chè 43
3.2.3. Ảnh hƣởng của các công thức bón phân khác nhau đến lý tính, hóa tính và vi

khác nhau đến chiều dài búp, các yếu tố cấu thành năng suất
chè: Mật độ búp, khối lƣợng búp
35
Bảng 3.4
Ảnh hƣởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức
đạm khác nhau đến chất lƣợng nguyên liệu chè
38
Bảng 3.5
Ảnh hƣởng của việc bón các mức đạm khác nhau phối hợp
với phân HCVS đến chất lƣợng sinh hóa của chè
40
Bảng 3.6
Ảnh hƣởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức
đạm khác nhau đến kết quả thử nếm cảm quan
42
Bảng 3.7
Ảnh hƣởng của bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm
khác nhau đến sâu bệnh hại chè
43
Bảng 3.8
Ảnh hƣởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức
đạm khác nhau đến hiệu quả kinh tế của các công thức bón
phân
46
Bảng 3.9
Ảnh hƣởng của các công thức bón phân khác nhau đến
chiều cao cây và chiều rộng tán chè
48
Bảng 3.10
Ảnh hƣởng của các công thức bón phân khác nhau đếnđộng

Bảng 3.18
Kết quả thử nếm cảm quan chè thành phẩm của các công
thức nghiên cứu
61
Bảng 3.19
Ảnh hƣởng của các công thức bón phân khác nhau đến sâu
bệnh hại
62
Bảng 3.20
Ảnh hƣởng của các công thức bón phân khác nhau đến hiệu
quả kinh tế
66
Hình 3.1
Động thái tăng trƣởng chiều dài búp
34
Hình 3.2
Ảnh hƣởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức
đạm khác nhau đến chiều dài búp
36
Hình 3.3
Ảnh hƣởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức
đạm khác nhau đến mật độ búp
36
Hình 3.4
Ảnh hƣởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức
đạm khác nhau đến năng suất
38
Hình 3.5
Diễn biến gây hại của bọ cánh tơ
44

64
Hình 3.15
Diễn biến gây hại của nhện đỏ
65
Hình 3.16
Diễn biến gây hại của rầy xanh
66
iv


TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
VIETGAP
Thực hành sản xuất Nông nghiệp tốt theo tiêu chuẩn
Việt Nam
VSV
Vi sinh vật
TCN
Tiêu chuẩn ngành
1

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có lịch sử trồng chè lâu đời nhƣng cây chè mới chỉ đƣợc trồng và phát triển
với quy mô lớn từ khoảng 100 năm nay. Với đặc điểm là loại cây công nghiệp dài ngày,
dễ trồng và chăm sóc, nhiệm kỳ kinh tế dài 30 - 40 năm, phù hợp với điều kiện tự nhiên
ở các vùng đất dốc của Việt Nam, do vậy cây chè đã trở thành cây công nghiệp mũi
nhọn, mang lại giá trị kinh tế cao, tham gia vào thị trƣờng xuất khẩu.
Năng suất và chất lƣợng chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: giống, khí hậu, đất
đai, phân bón, kỹ thuật canh tác và công nghệ chế biến. Việc áp dụng tiến bộ kỹ
thuật trong thâm canh chè ở các khâu: chọn tạo đƣa giống năng suất cao vào sản
xuất, chế độ bón phân, áp dụng kỹ thuật hái, kỹ thuật đốn chè đã giúp cho ngành
chè đạt đƣợc sự phát triển nhanh chóng về diện tích, năng suất và sản lƣợng.
Ngày nay, mặc dù phân hoá học đƣợc coi là yếu tố tiên phong trong việc cải tạo
năng suất cây trồng và xu hƣớng sử dụng phân hoá học ngày càng có chiều hƣớng
gia tăng do sử dụng phân hóa học tiết kiệm thời gian và công lao động song phân
hữu cơ vẫn giữ một vai trò quan trọng không thể thay thế trong sản xuất nông
nghiệp nói chung và ngành chè nói riêng, đặc biệt là canh tác chè bền vững. Trong
nền nông nghiệp cổ truyền của các nƣớc trên thế giới cũng nhƣ ở các nƣớc Asian và
ở Việt Nam, phân hữu cơ không chỉ cung cấp dinh dƣỡng cho cây trồng với hàm

tuổi 5.
- Nâng cao năng suất, phẩm chất chè búp góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho
ngƣời trồng chè tại địa phƣơng.
2.2. Yêu cầu
- Đánh giá ảnh hƣởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh khác nhau
đến khả năng sinh trƣởng, năng suất của cây chè.
- Đánh giá ảnh hƣởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đƣợc sản xuất
từ phụ phẩm nông nghiệp đên chất lƣợng búp chè nguyên liệu và chè thành phẩm.
- Xác định đƣợc diễn biến loài sâu hại chính gây hại trên giống chè LDP
2

- Xác định đƣợc thành phân lý hóa tính của đất trƣớc và sau khi tiến hành thí nghiệm.
- Xác định đƣợc công thức cho hiệu quả kinh tế cao nhất.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu các biện pháp bón phân hữu cơ vi đƣợc sản xuất từ phụ phẩm nông
nghiệp sẽ là cơ sở khoa học để xác định mức bón phân hữu cơ vi sinh hợp lý cho
giống chè LDP
2
tuổi 5.
3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

- Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình sử dụng phân hữu cơ vi sinh
cho giống chè LDP
2
, phục vụ cho sản xuất chè an toàn tại tỉnh Phú Thọ.
- Kết quả nghiên cứu góp phần củng cố cơ sở khoa học và thực tiễn, phục vụ
canh tác bền vững trên đất dốc, bảo vệ và cải tạo đất.

1.1. Cơ sở khoa học xác định biện pháp kỹ bón phân hữu cơ vi sinh cho chè
1.1.1. Cơ sở khoa học của kỹ thuật bón phân cho chè
Cây chè Việt Nam chủ yếu đƣợc trồng đồi núi có địa hình dốc là chính, nên đất
bị xói mòn lớn, làm trôi lớp đất màu mỡ, nƣớc không đƣợc giữ lại, dẫn đến thiếu
nƣớc trầm trọng trong mùa khô sau đó. Việc lạm dụng phân bón hóa học dẫn đến
chất lƣợng sản phẩm thu đƣợc không cao. Tuy bƣớc đầu đã nhận thức đƣợc vai trò
của phân bón hữu cơ vi sinh trong việc nâng cao năng suất, cải thiện độ phì của đất,
song ở Việt Nam nói chung đặc biệt là khu vực trung du, miền núi Phía Bắc cho đến
nay mức độ ứng dụng loại phân bón này còn hết sức hạn chế. Mặt khác, chè là cây
công nghiệp dài ngày, sản phẩm là búp chè chỉ chiếm 8-13% sinh khối của cây, lại
phải thu hái nhiều lần trong 1 năm, mặt khác năng suất chè của ta chƣa cao, cho nên
so với những cây công nghiệp dài ngày khác nhƣ cà phê, cao su thì nhu cầu dinh
dƣỡng của cây chè không lớn. Với năng suất 2 tấn búp khô trên 1ha/năm, chè lấy đi
từ đất trung bình là 80kg N, 23 kg P
2
O
5
, 48kg K
2
O và 16 kg CaO. Tuy nhiên ngoài
hàm lƣợng búp chè đƣợc hái hàng năm, chè còn đƣợc đốn cành, chặt cây và mang
đi khỏi vƣờn, cho nên tổng lƣợng các chất dinh dƣỡng chè lấy đi khỏi đất là 144 kg
N, 71 kgP
2
O
5
, 62kg K
2
O , 24kg MgO và 40 kg CaO.
Nhƣ vậy, việc bón phân cân đối, đúng tỷ lệ và liều lƣợng làm cho năng suất chè

Magiê (Mg): cấu tạo diệp lục tố, enzym chuyển hóa hydratcacbon và axit
nucleic, thúc đẩy hấp thụ, vận chuyển lân và đƣờng trong cây, giúp cây cứng chắc
và phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lƣợng chè khô.
Thiếu magiê: xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá, lá già
dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, năng suất thấp, chất lƣợng chè khô giảm.
Kẽm (Zn): là thành phần của men metallo-enzymes-carbonic-anhydrase,
anxohol dehydrogenase, quan trọng trong tổng hợp axit indol acetic, axit nucleic và
protein, tăng khả năng sử dụng lân và đạm của cây. Thúc đẩy sinh trƣởng, phát
6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

triển, tăng năng suất và chất lƣợng chè. Thiếu kẽm: cây lùn, còi cọc, lá chuyển dần
bạc trắng, số búp ít.
Bo (B): cần cho sự phân chia tế bào, tổng hợp protein, lignin trong cây, tăng khả
năng thấm ở màng tế bào và vận chuyển hydrat carbon. Tăng độ dẻo của búp, giảm
rụng lá, tăng năng suất và chất lƣợng chè.
Molypđen (Mo): là thành phần của men nitrogenase, cần cho vi khuẩn
Rhizobium cố định đạm, tăng hiệu suất sử dụng đạm, năng suất và chất lƣợng chè.
Theo định nghĩa: Phân bón hữu cơ vi sinh vật (tên thƣờng gọi: phân hữu cơ vi
sinh) là sản phẩm đƣợc sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, nhằm
cung cấp chất dinh dƣỡng cho cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng vi
sinh vật sống đƣợc tuyển chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn quy định, góp phần nâng
cao năng suất, chất lƣợng nông sản. Phân hữu cơ vi sinh vật không gây ảnh hƣởng
xấu đến ngƣời, động vật, môi trƣờng sinh thái và chất lƣợng nông sản.
1.2. Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh đến cây chè trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh trên thế giới
Quá trình khai hoang trồng mới chè đã phá vỡ hầu hết thực bì trên bề mặt đất.
Qua 4 năm từ lúc khai hoang trồng mới đến hết giai đoạn kiến thiết cơ bản đất bị lộ
thiên, dƣới ảnh hƣởng trực tiếp của điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, sự tổn thất

O trong tổng số của bộ phận thu
hoạch. Nhƣ vậy có nghĩa nếu trả lại ngọn lá mía bón lại cho vụ sau thì cung cấ p một
lƣợng dinh dƣỡng tƣơng đối lớn cho cây [37].
Theo tà i liệ u củ a Đỗ Ngọ c Quỹ , Kooevaar và cộng sự (1983) nhận thấy rằng:
nền nông nghiệp cổ truyền của các nƣớc trên thế giới, các nƣớc Asian và ở Việt
Nam, phân hữu cơ không chỉ cung cấp chất dinh dƣỡng cho cây trồng với hàm
lƣợng vốn có của nó mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện các đặc
tính lý hoá học của đất thông qua vai trò của vật chất hữu cơ.
Từ năm 1992- 1997, Quỹ Kellogg, W.K tài trợ thử nghiệm bón phân hữu cơ
đƣợc bổ xung thêm một số loài vi sinh vật có ích thuộc 2 chi: Bacillus,
Pseudomonas có khả năng phân giải lân , kali tại 2 vùng trồng chè trọng điểm của
Srilanca và nhận thấy năng suất chè tăng từ 9- 14 % so với đối chứng có bón phân
hữu cơ và tăng 17 % so với đối chứng không sử dụng loại phân bón này [31].
Ngoài ra, sử dụng phế phụ phẩm còn tiết kiệm đƣợc 50 % lƣợng phân bón hoá
học, giảm chi phí cho ngƣời dân trong sản xuất. Heman và Cs (Viện nghiên cứu
Khoa học Nông nghiệp, trƣờng đại học Banaras Hindu của Ấn Độ, (1992) cũng
thừa nhận ảnh hƣởng của vùi phụ phẩm nông nghiệp đến năng suất cây trồng ở
vùng khô hạn của Ấn Độ. Sinh khối tăng 25,3 % và năng suất hạt tăng 9,2 % so với
công thức đối chứng [30].
8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

Viện lân và Kali của Canada (1995) xác nhận 80 % tổng số kali cây lấy đi nằm
trong xác bã cây. Nếu các xác bã thực vật này đƣợc hoàn lại cho đất đã canh tác thì
chúng sẽ cung cấp một lƣợng kali đáng kể cho các cây trồng vụ sau.
Ở các nƣớc Canada và Mỹ, sản phẩm hữu cơ sau khi thu hoạch thông thƣờng đƣợc
trả lại trực tiếp hoặc qua một thời gian ủ làm cho chúng bị phân huỷ hoặc bán phân
huỷ, bằng cách đó làm tăng hiệu quả sử dụng của cây trồng. Lai (1997) đã cho thấy
rằng lƣợng phụ phẩm nông nghiệp tạo ra phụ thuộc vào đặc tính của từng loại cây

đấ t rất tốt (giảm 40,4% so với không bón) vì phân bón thúc đẩy cây trồng sinh
trƣởng và phát triển tốt, tạo độ che phủ nhiều hơn. Khi bón phân, đất có kết cấu tốt
hơn, khả năng ngấm vào đất tốt hơn, thúc đẩy vi sinh vật hoạt động, góp phần cải
tạo các tính chất của đất.
Kết quả điều tra của Zhen va cộng sự (2005) tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc
cho thấy tình hình sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp ủ thành phân bón hữu cơ
trong sản xuất nông nghiệp đã tăng dần. Khoảng 77 % nông dân sử dụng 60 % phụ
phẩm của cây trồng vụ trƣớc cho cây trồng vụ sau, 18 % hộ nông dân sử dụng 90 %
sản phẩm phụ cho cây trồng vụ sau [3].
Tại Brazil, Nghiên cứu dài hạn về ảnh hƣởng của việc sử dụng nguồn phụ phẩm
nông nghiệp trên đất phiến thạch. Diekow và cộng sự (2005) sau 17 năm đã chỉ ra
rằng, trong công thức luân canh với sử dụng tối đa nguồn hữu cơ từ thân lá ngô và
cây họ đậu đã làm tăng hàm lƣợng cácbon trong tầng đất mặt (0- 17,5 cm) 24 % và
đạm tổng số tăng 15 % và hàm lƣợng kali dễ tiêu cũng tăng 5 % so với đối
chứng.Tại Úc, thí nghiệm đƣợc tiến hành đối với cây lúa mỳ, trên đất đỏ thoái hoá
thuộc vùng Warialda phía Bắc của bang New South Wales ghi nhận năng suất tăng
5-6 % khi vùi phụ phẩm [27].
Nhƣ vậy, sự đa dạng về chủng loại phế phụ phẩm cây trồng có thể cho phép
nông dân lựa chọn những loại phế phụ phẩm khác nhau. Và cho thấy sản phẩm phụ
cây trồng nhƣ lúa mỳ, rơm rạ, bã mía và các cây phân xanh đều có thể sử dụng nhƣ
một loại phân bón hữu cơ và mang lại những hiệu quả kinh tế đáng kể thông qua
việc cải tạo độ phì đất và năng suất cây trồng . Đặc biệt trong điều kiện các nƣớc
đang phát triển để đảm bảo việc bền vững và duy trì độ phì đất thông qua nguồn
hữu cơ tại chỗ là điều hết sức cần thiết.
10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

Cây chè cũng vậy, lý tính đất trồng chè có vai trò đặc biệt quan trọng trong
canh tác chè trên đất dốc. Quá trình đi lại, chăm sóc và cạn kiệt chất hữu cơ đã làm


Do vậy, cần tăng cƣờng cung cấp nguồn chất hữu cơ ổn định và bổ xung thêm
một số chủng vi sinh vật thuộc: Mycorrhiza, Trichoderma, Bacillus,
Pseudomonas một cách tƣơng đối là con đƣờng trọng yếu để tăng năng suất và
chất lƣợng chè. Giải quyết nguồn chất hữu cơ cho nƣơng chè kinh doanh bằng biện
pháp khả thi nhất là sử dụng các nguồn tại chỗ: Cành lá chè đốn hàng năm, chất
xanh từ cây che bóng mát họ đậu, cỏ dại trên nƣơng chè và ven đƣờng lộ, rơm rạ,
thân lõi ngô, phế phụ phẩm nhà máy tinh bôt sắn, bồm cẫng chè.
Hàng năm, theo ƣớc tính trên thế giới lƣợng phế phụ phẩm tạo ra từ sản xuất lúa
là 1017 triệu tấn. Chỉ riêng Mỹ, lƣợng rác thải nông nghiệp hàng năm đã là 4 tỷ tấn.
Đã có nhiều biện pháp sử lý rác thải nông nghiệp nhƣ: đốt, chôn lấp, ủ phân hữu cơ
vi sinh. Ở Austrlia, Pháp, Indonexia, Malaysia, Miến Điện, Philppine, Tây Ban Nha
và Thái Lan phụ phẩm nông nghiệp thƣờng đƣợc đem đốt. Các nƣớc Mỹ, Đức,
Italia xử lý bằng cách chôn vùi chiếm 60 - 80 % [3].
Bên cạnh việc sử dụng nguồn rác thải nông nghiệp để làm nhiên liệu, trong
nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp sản xuất silic đa số lƣợng rác thải còn lại đƣợc
đốt bỏ không sử dụng.
Phân hữu cơ vi sinh đƣợc hầu hết các nƣớc trên thế giới sử dụng cho sản xuất
nông, lâm nghiệp nhằm cung cấp chất dinh dƣỡng cho cây trồng và cải tạo độ phì
nhiêu của đất. Để làm phân hữu cơ nhìn chung mất khoảng từ 6 - 8 tháng.
Trong quá trình sản xuất phân bón hữu cơ của nhiều quốc gia, vào công đoạn
tạo thành phẩm ngƣời ta thƣờng bổ sung thêm một số chủng vi sinh vật đã đƣợc
phân lập và tuyển chọn kỹ. Các chủng vi sinh vật thƣờng đƣợc bổ sung vào là các
chủng có hoạt tính : Phân giải lân, cố định Nitơ, sinh các chất kích thích sinh trƣởng
thực vật, đối kháng nấm bệnh các chủng vi sinh vật đƣợc bổ sung vào sẽ tăng
cƣờng khả năng hấp thu dinh dƣỡng của cây, tăng khả năng kháng bệnh.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh ở Việt Nam
Việt Nam có lịch sử trồng chè từ rất lâu nhƣng mới đƣợc chú trọng với quy mô
lớn và tập trung khoảng 100 năm trở lại đây. Điều kiện đất đai và khí hậu nƣớc ta
rất thích hợp cho cây chè phát triển , 2/3 diện tích đất là đất đồi núi , đặc biệt ở vùng

Năm 1996 - 1997 kết quả nghiên cứu ở Trại chè Phú Hộ cho thấy: Cứ 2 hàng
chè đào rãnh rộng 25 cm, sâu 25 cm vào trung tuần tháng 12 hàng năm rồi bỏ phân
chuồng, nguyên liệu đốn chè cuối vụ, cỏ dại đƣa vào rãnh, vùi toàn bộ lân, bón
magie 20 kg/ha, lấp đất phía gốc chè cao hơn giữa hàng 5 - 7 cm, năm sau đào rãnh
13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

ở hàng bên cạnh theo chu kỳ luân phiên 2 năm đã làm tăng đáng kể khả năng giữ ẩm
của đồi chè kinh doanh, nƣơng chè đủ ẩm cho thu hoạch búp ở cả những tháng khô hạn [15].
Biện pháp bón thẳng nguồn vật liệu hữu cơ có sẵn và chƣa qua xử lý có mang
lại hiệu quả tăng năng suất và bƣớc đầu nâng cao độ phì nhiêu đất, tăng độ ẩm
nhƣng sử dụng nhiều năm (từ 3 năm trở lên ) sẽ dẫn đến tăng mật độ nấm bệnh đối
với nƣơng chè. Bởi khi sử dụng phƣơng thức bón phân hữu cơ cho chè nhƣ vậy chỉ
đáp ứng đƣợc nhu cầu cung cấp chất hữu cơ cho đất, cải thiện đƣợc một phần lý tính
đất nhƣng mối quan hệ giữa vi sinh vật - đất - thực vật chƣa đƣợc cải thiện một cách
đáng kể, vì vậy Nguyễn Văn Sức và cs (2003) bắt đầu thử nghiệm đá nh giá hiệu lực
của 3 loại phân bón hữu cơ vi sinh là: phân HCVS Cầu Diễn, Fitohocmon và phân
HCVS Sông Gianh. Kết quả thí nghiệm cho thấy việc thay thế 30 % lƣợng phân
khoáng bằng phân hữu cơ vi sinh cho hiệu quả tốt nhất [23].
Nguyễn Thị Ngọc Bình (2005) đã thử nghiệm phân lân hữu cơ vi sinh Sông
Gianh cho cây chè Trung du trồng tại Tân Cƣơng, Thái Nguyên cho thấy khi thay
thế 50 % theo giá trị đầu tƣ phân bón hóa học bằng phân hữu cơ vi sinh cho hiệu
quả kinh tế cao nhất [1].
Cũng theo TS Nguyễn Thị Ngọc Bình: phế phụ phẩm nông nghiệp ở nƣớc ta
chủ yếu bao gồm: Vỏ trấu, lõi ngô, bã mía, mùn cƣa, vỏ dừa, bã thải nhà máy
đƣờng, nhà máy sắn, tổng sản lƣợng phế thải sinh khối hàng năm ở nƣớc ta có thể
đạt 8 – 11 triệu tấn, trong đó riêng công nghiệp mía đƣờng khoảng 2,5 - 3 triệu tấn
bã mía, 0,25 - 0,3 triệu tấn mùn mía. Công nghiệp cà phê mỗi năm tạo ra khoảng 0,2
- 0,25 triệu tấn vỏ cà phê. Vùng Tây Bắc có tới 55.000 - 60.000 tấn mùn cƣa từ việc

sinh hoạt, chƣa đƣợc áp dụng nhiều trong việc xử lý chất thải nông nghiệp cũng nhƣ
đƣa ra mô hình xử lý phù hợp cho các loại chất thải nông nghiệp. Do vậy, việc
nghiên cứu và tuyển chọn các chủng giống vi sinh vật cũng nhƣ xây dựng mô hình
xử lý rác thải nông nghiệp làm phân bón hữu cơ chất lƣợng cao là cần thiết
Kết quả thực hiện chƣơng trình công nghệ sinh học KHCN - 02: “Nghiên cứu
và áp dụng công nghệ sinh học trong sản xuất phân bón vi sinh - hữu cơ từ nguồn
phế thải hữu cơ rắn” xác định đƣợc quy trình chế biến phân hữu cơ vi sinh có hoạt
tính sinh học cao.
15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

Giai đoạn 1996 - 2000 và 2001 - 2005, trong quá trình triển khai các đề tài
KHCN cấp nhà nƣớc về phân bón vi sinh vật, các cán bộ khoa học, Viện khoa học
kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu xử lý một số nguyên liệu
và phế thải giàu hợp chất cacbon thành các chất hữu cơ đơn giản sử dụng làm cơ
chất cho sản xuất phân bón hữu cơ sinh học trên nền chất không mang khử trùng.
Viện công nghệ sinh học và công nghệ thực phẩm, Đại học Bách Khoa Hà Nội
năm 1999 - 2000 đã thực hiện đề tài: “Công nghệ xử lý một số phế thải nông sản
chủ yếu (lá mía, vỏ thải cà phê, rác thải nông nghiệp) thành phân bón hữu cơ sinh
học” thuộc chƣơng trình công nghệ sinh học KHCN - 02 - 04 B. Kết quả của đề tài
đã đề xuất đƣợc công nghệ xử lý lá mía thành phân hữu cơ sinh học với thời gian
ngắn (còn 30 % so với bình thƣờng bằng chế phẩm vi sinh vật), xây dựng đƣợc
công nghệ xử lý rác thải nông nghiệp bằng bộ chế phẩm vi sinh vật Emuni, hoàn
thiện đƣợc công nghệ xử lý vỏ cà phê thành phân hữu cơ vi sinh bằng bộ chế phẩm Mcrocom.
Đào Châu Thu và cs (2003) (Thuộc trung tâm nghiên cứu và phát triển nông
nghiệp bền vững thuộc trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội) đã hợp tác với khoa
sinh học và kinh tế Nông nghiệp, Đại học Udine, Italia (2003 - 2005) tiến hành đề
tài: “Sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ rác thải hữu cơ sinh hoạt và phế thải nông
nghiệp để dùng làm phân bón cho rau sạch vùng ngoại ô thành phố” bƣớc đầu cho

bã sắn thì chôn lấp trong các ao hồ xung quanh khu vực của nhà máy. Rõ ràng
lƣợng phụ phẩm này hiện chƣa đƣợc sử dụng một cách hợp lý, gây ô nhiễm môi
trƣờng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên [3].
Để khuyến khích, tạo điều kiện cho ngƣời nông dân nghèo, các đối tƣợng thiệt
thòi trong xã hội sử dụng hữu cơ vi sinh, giảm thiểu mức đầu tƣ trong sản xuất
nông nghiệp, góp phần phát triển bền vững và bảo vệ môi trƣờng, trong khuôn khổ
kinh phí từ Chƣơng trình Nông nghiệp Hƣớng tới Khách hàng của Dự án: “Khoa
học Công nghệ Nông nghiệp vốn vay của ADB” Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
Lâm nghiệp Miền núi Phía Bắc phối hợp với Viên Thổ nhƣỡng Nông hóa thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu chuyển giao kỹ thuật chế biến phân hữu cơ vi sinh từ phế phụ
phẩm nông nghiệp phục vụ sản xuất chè an toàn”
Đề tài đã đánh giá hàm lƣợng N, P
2
O
5
và K
2
0 tổng số trong phế phụ phẩm vỏ bã
sắn, thân cây ngô và một số phụ phẩm khác lựa chọn nguyên liệu, lựa chọn các
thông số của quy trình ủ tạo phân hữu cơ thực nghiệm quy trình ủ tạo phân hữu cơ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status