Phát Triển Kinh Tế Hàng Hoá Nhiều Thành Phần Trong Thời Kỳ Quá Độ Ở Nước Ta Hiện Nay - Pdf 35

Phần mở đầu
Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, loài ngời không ngừng tìm
kiếm những mô hình thể chế kinh tế thích hợp đề đạt hiệu quả kinh tế - xã hội
cao. Một trong những mô hình thể chế kinh tế nh thế là mô hình kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Kinh tế thị trờng là nấc thang phát triển cao
hơn kinh tế hàng hoá, khi mà các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất
đều đợc thực hiện thông qua thị trờng.
Sự phát triển của sản xuất hàng hoá làm cho phân công lao động xã hội
ngày càng sâu sắc, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá ngày càng tăng, mối liên hệ
giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ.
Hơn nữa, những nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm đợc u thế trên thị
trờng phải năng động, nhạy bén, không ngừng cải tiến kỹ thuật và hoịp lý hoá
sản xuất. Từ đó làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lợng sản xuất
phát triển.
Phát triển sản xuất hàng hoá với quy mô lớn sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ
và tập trung sản xuất, mở rộng giao lu kinh tế ở trong nớc và nớc ngoài, hội
nhập nền kinh tế thế giới.
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát
triển t bản chủ nghĩa nên cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, lạc hậu, khả
năng cạnh tranh hạn chế. Trong khi đó, thị trờng thế giới và khu vực đã đợc
phân chia bởi hầu hết các nhà sản xuất và phân phối lớn. Ngay cả thị trờng nội
địa cùng chịu sự phân chia này.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế xã hội, để ổn định kinh
tế trong nớc và hội nhập quốc tế ta phải xây dựng một nền kinh tế mới, một
nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hoá các hình thức sở hữu.
Phát triển kinh tế thị trờng có vai trò rất quan trọng, đối với nớc ta muốn
chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thì phải phát triển
kinh tế thị trờng là một tất yếu khách quan. Qua đây em xin chọn đề tài:
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ ở
nớc ta hiện nay
Do trình độ và hiểu biết còn nhiều hạn chế nên trong quá trình làm đề án


II/ Tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần ở Việt Nam

8

1. Phát triển kinh tế hàng hoá do yêu cầu của sự phát triển lực lợng
sản xuất. Thực chất là việc chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn

8

2. Phát triển kinh tế hàng hoá do ở Việt Nam tồn tại nền kinh tế
nhiều thành phần

9

3. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần do đòi hỏi nâng
cao đời sống nhân dân

12

III/ Những giải pháp để phát triển kinh tế hàng hoá ở Việt Nam

13

1. Nội dung của phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hớng XHCN ở Việt Nam

13


giai đoạn phát triển thấp của xã hội (công xã nguyên thủy, nô lệ, phong kiến).
ở Việt Nam hiện nay, kinh tế tự nhiên vẫn còn tồn tại ở vùng sâu, vùng
xa, vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên, đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, khi lực lợng sản xuất phát triển cao, phân công lao động đợc
mở rộng thì dần dần xuất hiện trao đổi hàng hoá. Khi trao đổi hàng hoá trở
thành mục đích thờng xuyên của sản xuất thì sản xuất hàng hoá ra đời.
* Sản xuất hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm đợc sản
xuất ra để bán trên thị trờng.
Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sản xuất phân phối trao đổi - tiêu dùng; sản xuất ra cái gì, nh thế nào và cho ai đều thông qua việc
mua bán, thông qua hệ thống thị trờng và do thị trờng quyết định.
Cơ sở kinh tế - xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá là
phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa ngời sản xuất này và
ngời sản xuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất quy
định.
Phân công lao động xã hội là việc phân chia ngời sản xuất vào các ngành
nghề khác nhau của xã hội. Hoặc nói cách khác đó là chuyên môn hoá sản
xuất.
Do phân công lao động, xã hội nên mỗi ngời chỉ sản xuất một hay một
vài sản phẩm nhất định. Song, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của mọi ngời đều
cần có nhiều loại sản phẩm. Vì vậy họ đòi hỏi phải có mối liên hệ trao đổi sản
phẩm cho nhau, phụ thuộc vào nhau.
Trong lịch sử đã diễn ra 3 cuộc phân công lớn:
+ Ngành chăn nuôi tách khỏi ngành trồng trọt.
3


+ Ngành thủ công tách ra khỏi ngành nông nghiệp.
+ Dẫn tới xuất hiện ngành thơng nghiệp.
Phân công lao động xã hội là điều kiện của sản xuất hàng hoá. Điều kiện

Ngày nay sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội phổ biến để
phát triển kinh tế của một quốc gia. Sản xuất hàng hoá luôn gắn chặt với thị trờng. Vậy thị trờng là gì?

4


Thị trờng là một lĩnh vực trao đổi hàng hoá mà trong đó các chủ thể kinh
tế thờng cạnh tranh với nhau để xác định giá cả và số lợng hàng hoá làm ra.
Thị trờng thờng đợc gắn với một địa điểm nhất định nh chợ, cửa hàng,
văn phòng giao dịch... thị trờng hoạt động dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự
do: thuận mua vừa bán. Hàng hoá bán trên thị trờng chia làm hai loại tơng ứng
với hai loại thị trờng:
Thị trờng đầu vào của sản xuất bao gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu,
sức lao động... Thị trờng đầu ra bao gồm: lơng thực, thực phẩm và những mặt
hàng tiêu dùng thiết yếu.
Cơ chế thị trờng là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó các vấn đề
kinh tế đợc giải quyết thông qua thị trờng (mua bán và trao đổi hàng hoá), cơ
chế thị trờng hoàn toàn đối lập với nền kinh tế tự nhiên. Trong cơ chế thị trờng
ngời sản xuất và ngời tiêu dùng thờng tác động lẫn nhau để giải quyết 3 vấn
đề trung tâm của một tổ chức kinh tế: sản xuất ra cái gì, sản xuất nh thế nào và
sản xuất cho ai.
Trong thị trờng có 3 yếu tố chính: hàng hoá, tiền tệ, ngời mua bán. Động
lực hoạt động của con ngời trong cơ chế thị trờng là lợi nhuận, nó bị chi phối
bởi một số quy luật nh: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lu thông
tiền tệ.
* Ưu thế của sản xuất hàng hoá.
Thứ nhất, sự phát triển của sản xuất hàng hoá làm cho phân công lao
động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá ngày càng
tăng,mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ. Từ đó, nó xoá
bỏ tính tự cấp tự túc, bảo thủ trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình xã

tìm thấy thêm đợc nhiều thuộc tính có ích. Giá trị sử dụng của hàng hoá rất
phong phú, vừa thoả mãn nhu cầu về vật chất, của thoả mãn nhu cầu về mặt
tinh thần. Nó là một phạm trù vĩnh viễn nhng trong nền kinh tế hàng hoá giá
trị sử dụng đồng thời là vật mang tính giá trị trao đổi.
Giá trị hàng hoá là một phạm trù rất trừu tợng vì nó là thuộc tính xã hội
của hàng hoá và muốn hiểu đợc giá trị hàng hoá ta phải xuất phát từ việc
nghiên giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lợng mà một giá trị tự sử dụng này trao
đổi với một giá trị tự sử dụng khác.
Ví dụ nh
1 Rìu= 20 kg thóc
Hai hàng hoá có còng dụng khác nhau mà đợc đem ra trao đổi với nhau
là do chúng có một thuộc tính chung duy nhất, chúng đều là sản phẩm của lao
động của con ngời.
Việc trao đổi hàng hoá chính là việc trao đổi lao động của ngời sản xuất
hàng hoá đợc kết tinh trong hàng hoá.
Thông qua trao đổi chúng ta phát hiện ra thuộc tính thứ hai của hàng hoá,
đó là giá trị.
Vậy thực thể của giá trị hàng hoá là lao động của ngời sản xuất kết tinh
trong hàng hoá.
* Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.
Lao động cụ thể: là lao động đợc tiến hành dới một hình thức nhất định,
có mục đích, phơng pháp hoạt động, đối tợng và kết quả riêng biệt.
Mỗi loại lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định có bao
nhiêu loại sản phẩm hàng hoá thì có bấy nhiêu loại lao động cụ thể khác nhau.
Các loại lao động đó hợp thành hệ thống phân công lao động ở từng quốc gia.
Xã hội càng phát triển thì phân công lao động càng cao, lao động cụ thể là
phạm trù vĩnh viễn nó tạo ra giá trị sử dụng cho hàng hoá.
Lao động trừu tợng: Đó là sự hao phí lao động nói chung của ngời sản
xuất hàng hoá (hao phí sức thần kinh và sức cơ bắp).

thiết.
c. Kinh tế hàng hoá.
Kinh tế hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó hình thái phổ
biến của sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm để bán để trao đổi trên thị
trờng.
Kinh tế hàng hoá đối lập với kinh tế tự nhiên và kinh tế chỉ huy. Khi sản
xuất hàng hoá, lợng sản phẩm hàng hoá lu thông trên thị trờng ngày càng dồi
dào, phong phú, thị trờng đợc mở rộng, khái niệm thị trờng đợc hiểu ngày đầy
đủ hơn. Đó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ làm môi giới. ở đây
ngời mua và ngời bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lợng
hàng hoá lu thông trên thị trờng.
Để phát triển kinh tế hàng hoá ở nớc ta, cần đẩy mạnh và chú trọng phát
triển các loại thị trờng. Quá trình chuyển đổi ở nớc ta cần phải từng bớc hình
thành thị trờng thống nhất và thông suốt cả nớc. Từng bớc hình thành và mở
7


rộng đồng bộ thị trờng hàng tiêu dùng, t liệu sanả xuất, dịch vụ, thị trờng vốn
là tiền tệ... Cần phải mở rộng giao lu hàng hoá, phát triển thị trờng trong nớc,
chú trọng nông thôn, miền núi, xoá bỏ triệt để mọi hình thức chia cắt thị trờng
theo địa giới hành chính. Đồng thời gắn thị trờng trong nớc với thị trờng quốc
tế, giải quyết mối quan hệ giữa tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu; có chính
sách khuyến khích sanả xuất nội địa để phát triển mạnh mẽ thị trờng nớc ta,
hội nhập với thị trờng khu vực và thế giới.
ở nớc ta, kinh tế hàng hoá mà Đảng chủ trơng xây dựng và phát triển
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa, vận động theo cơ chế thị trờng có
sự quản lý của Nhà nớc.
2. Những u điểm của kinh tế hàng hoá.
So với kinh tế tự nhiên, một loại hình kinh tế còn in đậm dấu vết ở nớc ta,


3. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá độ
Kinh tế hàng hoá ra đời và tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế xã hội,
gắn với hai điều kiện tiền đề:
Sự phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu khác nhau về t liệu
sản xuất và sản phẩm lao động. ở nớc ta hiện nay, những điều kiện chug của
kinh tế hàng hoá vẫn còn nên sự tồn tại của kinh tế hàng hoá là một tất yếu
khách quan.
Một là, phân công lao động xã hội với t cách là cơ sở kinh tế của sản xuất
hàng hoá chẳng những không mất đi, trái lại ngày càng phát triển cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu, xoá bỏ tính tự cấp tự túc, đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện
đại hoá.
ở nớc ta hiện nay ngày càng có nhiều ngành nghề mới ra đời sống phát
triển. Bên cạnh đó các nghề cổ truyền có tiếng không chỉ trong nớc mà cả trên
thế giới trớc đây bị cơ chế thị trờng cũ làm mai một nay đang dần đợc khôi
phục và phát triển. Trong nội bộ từng khu vực, từng ngành, địa phơng, phân
công lao động ngày càng chi tiết hơn. Điều đó chứng tỏ tính phong phú đa
dạng và chất lợng cao hơn của sản phẩm lao động đa ra trên thị trờng. Sự
chuyên môn hoá, hợp tác đã vợt qua phạm vi quốc gia trở thành phân công lao
động trên phạm vi quốc tế.
Hai là, ở nớc ta đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trình độ xã hội hoá
giữa các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cùng một thành phần
kinh tế vẫn cha đều nhau. Do vậy việc hạch toán kinh doanh, phân phối và
trao đổi sản phẩm lao động tất yếu phải thông qua hình thái hàng hoá - tiền tệ
để thực hiện mối quan hệ kinh tế, đảm bảo lợi ích kinh tế giữa các tổ chức
kinh tế thuộc các thành phần với nhau.
Nếu xuất phát từ ý muốn chủ quan mà thu hẹp hay cản trở quá trình tiền
tệ hoá các mối quan hệ kinh tế trong giai đoạn lịch sử hiện nay bằng các hình
thức khác nhau sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế nớc ta. Do vậy các
thành phần kinh tế trong cơ chế thị trờng đều phải tiến hành sản xuất hàng

Một trong những t tởng xuyên suốt do hội nghị lần thứ t ban chấp hành
trung ơng (khoá VIII) nhằm cụ thể hoá và thực hiện thành công những mục
tiêu kinh tế xã hội mà đại hội VIII của Đảng đề ra ra là Ưu tiên phát triển lực
lợng sản xuất đi đôi với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hớng
XHCN Đây là bớc phát triển mới trong t duy lý luận của Đảng ta. Nó bắt
nguồn từ việctất yếu phải giải phóng mọi năng lực sản xuất, thúc đẩy tăng trởng kinh tế bằng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Theo định hớng XHCN. Xét từ quan hệ
biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, thì lực lợng sản xuất
luôn là yếu tố động nhất, quyết định đối với sự phát triển của sản xuất xã hội.
Chính vì vậy, để đạt đợc mục tiêu cơ bản trở thành nớc công nghiệp vào
năm 2020 Đảng đã xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc bằng cách
u tiên phát triển lực lợng sản xuất, thực chất là việc chuyển từ sản xuất nhỏ lên
sản xuất lớn.
2. Phát triển kinh tế hàng hoá do ở Việt Nam tồn tại nền kinh tế
nhiều thành phần.
Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần đó là do còn nhiều
hình thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất. Đại hội Đảng VIII khẳng định,
các thành phần kinh tế tồn tại khách quan tơng ứng với tính chất và trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất, trong giai đoạn lịch sử hiện nay, đó là kinh tế
Nhà nớc, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể, kinh tế t bản chủ nghĩa và kinh tế t
bản Nhà nớc.
Nếu kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trờng nớc
ta là nguồn lực tổng hợp to lớn để đa nền kinh tế vợt khỏi tình trạng thấp kém,
đa nền kinh tế hàng hoá phát triển cả trong điều kiện ngân sách hạn hẹp.
Để có những chính sách và chiến lợc phát triển thích hợp cho từng thời
kỳ ta phải tìm hiểu rõ các thành phần kinh tế đang tồn atại hiện nay.

10



Tiếp tục đổi mới và phát triển KTNN để đảm bảo những mục tiêu kinh tế
xã hội. Trớc hết cần hoàn thiện chế độ chính sách, luật pháp đảm bảo doanh
nghiệp Nhà nớc thật sự là một đơn vị sản xuất hàng hoá có t cách pháp nhân.
Phân định dứt khoát quyền sở hữu Nhà nớc với quyền đại diện chủ sở hữu Nhà
nớc; quyền sở hữu Nhà nớc với quyền sở dụng, quản lý v.v...
Thứ hai, thành phần kinh tế hợp tác là sự liên kết kinh tế tự nguyện của
chủ thể kinh tế với các hình thức đa dạng, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu, khả
năng và lợi ích của các bên tham gia, có thể dẫn tới hoặc không dẫn tới pháp
nhân.

11


Hình thức tồn tại của kinh tế hợp tác là: Hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác
xã tiểu thủ công nghiệp hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng.
Các hợp tác xã đợc hình thành với các quy mô và góc độ khác nhau, tuỳ
vào sự phát triển của lực lợng sản xuất. ở đây ngời lao động đợc tự do trong
việc tham gia và rút lui khỏi hợp tác xã.
Trong những năm đổi mới, kinh tế hợp tác xã có những biến đổi cơ bản:
hộ nông dân đợc coi là đơn vị kinh tế tự chủ, ruộng đất đợc giao sử dụng lâu
dài. Thực tế xuất hiện những hình thức hợp tác xã giản đơn, từng khâu nh hợp
tác xã cổ phần, hợp tác xã dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ cho kinh tế hộ gia
đình, và kinh tế trang trại phát triển.
Thứ ba, thành phần kinh tế t bản Nhà nớc (TPKTTBNN) là sản phẩm của
sự can thiệp của Nhà nớc vào hoạt động của các tổ chức, đơn vị kinh tế t bản
trong và ngoài nớc.
Thành phần kinh tế t bản nhà nớc bao gồm tất cả các hình thức hợp tác,
liên doanh sản xuất kinh doanh giữa kinh tế Nhà nớc và kinh tế t bản trong và
ngoài nớc, nhằm sử dụng, khai thác phát huy thế mạnh của mỗi bên tham gia,
đặt dới sự kiểm soát giúp đỡ của Nhà nớc.

do một hoặc một số nhà t bản trong và ngoài nớc đầu t để sản xuất kinh doanh
dịch vụ.
Kinh tế t bản t nhân tổ chức dới hình thức doanh nghiệp, t nhân, doanh
nghiệp cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn...
Từ năm 1991, sau khi có luật doanh nghiệp t nhân ở nớc ta, kinh tế t bản
t nhân phát triển mạnh và đóng góp nhất định vào phát triển kinh tế - xã hội.
Cần khẳng định nhất quán chủ trơng phát triển kinh tế t bản t nhân, bình
đẳng với các thành phần kinh tế khác khuyến khích t bản t nhân đầu t vào sản
xuất, bảo vệ quyền sở hữu và lợi ích hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi và củng cố
lòng tin cho các nhà đầu t phát triển.
Tuy nhiên cần lu ý rằng, mỗi thành phần kinh tế đồng thời vừa tồn tại
độc lập tơng đối vừa tác động qua lại lẫn nhau, vừa hợp tác cạnh tranh với
nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn trong một chỉnh thể kinh tế xã hội.
Không nên hiểu mỗi thành phần kinh tế nh những bộ phận tách rời, những lực
lợng tự trị và theo đó cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là sự hợp nhất cơ học
của các bộ phận đó.
Trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trờng, một vấn đề có tính nguyên tắc cần phải nắm vững, đó là
kinh tế Nhà nớc phải giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác dần dần
trở thành nền tảng của nền kinh tế. Nếu thành phần kinh tế nhà nớc đủ mạnh
và đóng đợc vai trò chủ đạo thì sẽ lôi kéo đợc các thành phần kinh tế khác
theo định hớng XHCN. Nếu ngợc lại, sẽ không loại trừ khả năng thành phần
kinh tế t bản chủ nghĩa sẽ lớn mạnh hơn và kéo nền kinh tế quốc dân theo
định hớng TBCN. Cần phải luôn nhớ rằng thành phần TBCN đã, đang, và sẽ
còn có sự hậu thuẫn quốc tế rất mạnh. Nhất là trong tình hình hiện nay, các
thế lực chống đối XHCN đang tìm cách làm cho kinh tế t nhân TBCN ở nớc ta
thắng thế.
Ta phải phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần để sản xuất
phát triển liên tục, không bị gián đoạn, tạo sự cạnh tranhh giữa các thành phần
kinh tế trong cơ chế thị trờng.

GDP bình quân đầu ngời
USD - Phơng pháp Atlas

170

730

3.160

830

19.310

2.040

GDP bình quân đầu ngời
USD - Phơng pháp PPP

1.040

3.140

8.630

2.660

20.470

6.390


trung quan liêu bao cấp khiến cho sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, giữa
thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân c tăng nhanh, đời sống một bộ
phận nhân dân, nhất là ở một số vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ,
đồng bào dân tộc, còn quá khó khăn vất vả. Chất lợng giáo dục đào tạo, y tế ở
nhiều nơi rất thấp. Ngời nghèo không đủ tiền để chữa bệnh và cho con em đi
học. Trong khi đó nguồn tài chính từ ngân sách và các nguồn lực khác có thể
huy động đợc cho yêu cầu phúc lợi xã hội vừa hạn chế vừa cha đợc sử dụng có
hiệu quả. Tình trạng ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trờng sinh thái, huỷ hoại
tài nguyên ngày càng tăng. Văn hoá phẩm độc hại lan tràn, tệ nạn xã hội phát
triển, trật tự an toàn xã hội còn nhiều phức tạp.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của đời sống xã hội, để ổn định kinh tế
trong nớc và hội nhập quốc tế ta phải xây dựng một nền kinh tế mở, một nền
kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hoá các hình thức sở hữu.
Sự thành công của nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN không chỉ
biểu hiện ở tốc độ tăng trởng cao, mà còn ở chỗ mức sống thực tế của mọi
tầng lớp dân c đều đợc nâng lên, y tế, giáo dục đều phát triển, khoảng cách
giữa giàu nghèo đợc thu hẹp, đạo đức, truyền thống bản sắc văn hoá dân tộc đợc giữ vững, môi trờng đợc bảo vệ.
III. Những giải pháp để phát triển kinh tế hàng hoá ở Việt
Nam.

1. Nội dung của phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hớng XHCN ở Việt Nam.
Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó hình thái
phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm là để bán, để trao đổi trên thị trờng.
Nội dung của phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN ở Việt Nam là:
14


Phát triển nền kinh tế hàng hoá dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành
phần.

trệ. Đặc biệt đến giai đoạn t bản chủ nghĩa sự phát triển của kinh tế hàng hoá
đã làm cho thị trờng dân tộc hoạt động gắn bó với thị trờng thế giới.
Việc mở rộng quan hệ hợp tác với nớc ngoài là tất yếu vì sản xuát và trao
đổi hàng hoá tất yếu vợt qua phạm vi quốc gia, mang tính chất quốc tế, đồng
thời đó cũng là tất yếu sự phát triển nhu cầu. Biệt lập trong sự phát triển kinh
tế dẫn đến đói nghèo. Do đó mở rộng quan hệ kinh tế với nớc ngoài dới nhiều
dạng khác nhau đối với nớc ta nh là một tất yếu trong sự phát triển, khi trình
độ khoa học kỹ thuật của thế giới cho phép đáp ứng nhu cầu cả về sản xuất lần
tiêu dùng. Thông qua mở rộng quan hệ kinh tế với nớc ngoài để biến nguồn

15


lực bên ngoài thành nguồn lực bên trong. Điều đó tạo điều kiện cho quá trình
phát triển rút gắn ở nớc ta.
Mở rộng quan hệ kinh tế với nớc bằng nhiều hình thức nh tăng cờng hoạt
động ngoại thơng, hợp tác, liên doanh, liên kết đề thu hút vốn đầu t cho nớc ta.
Gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực. Tranh thủ nắm bắt
những, những mặt hàng mũi nhọn có tơng lai, gắn với công nghệ mới, tiến tới
có khả năng cạnh tranh trên thị trờng thế giới., nhanh chóng đa nền kinh tế nớc ta hội nhập vào nhịp điệu của nền kinh tế thế giới.
Việc mở cửa về kinh tế phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng
lẫn nhau, đảm bảo chủ quyền và cũng có lợi.
3. Phát triển kinh tế hàng hoá theo định hớng XHCN thông qua bản
chất và vai trò quản lý của Nhà nớc.
Mặc dù có rất nhiều u điểm nhng nền KTTT không thể nào giải quyết đợc những vấn đề do chính cơ chế và đời sống kinh tế xã hội đặt ra. Vì vậy, sự
tác động của Nhà nớc - một chủ thể có khả năng nhận thức và vận dụng các
quy luật khách quan - vào nền kinh tế là một tất yếu cho sự phát triển kinh tế xã hội. Thiên sử can thiệp của Nhà nớc vào kinh tế, để cho thị trờng tự do
hoạt động, thì việc điều kinh tế nớc ta sẽ không có hiệu quả.
Nhà nớc sử dụng luật pháp và các công cụ kinh tế vĩ mô khác để quản lý
kinh tế hàng hoá, làm cho nền kinh tế lành mạnh hơn, giảm bớt các thăng

nhiên, kinh tế thị trờng ở nớc ta vẫn còn ở trình độ kém phát triển. Biểu hiện ở
số lợng và chủng loại hàng hoá nghèo nàn, khối lợng hàng hoá lu thông thị trờng và kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ, chi phí sản xuất và giá cả hàng hoá cao,
chất lợng thấp, quy mô và dung lợng thị trờng hẹp, sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp và hàng hoá trên thị trờng trong nớc cũng nh nớc ngoài còn yếu,
đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp giỏi còn ít, thu nhập của ngời lao động
còn thấp... Trình độ phát triển thấp của hàng hoá bắt nguồn từ trình độ thấp
của lực lợng sản xuất, từ tính chất sản xuất nhỏ của nền kinh tế, từ trình độ
phân công lao động xã hội kém phát triển, từ sự kém phát triển của hệ thống
kết cấu hạ tầng, lao động thủ công còn chiếm tỷ trọng lớn, từ sự kìm hãm của
nền kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp một thời gian quá lâu
dài, từ sự nhận thức giản đơn về CNXH.
Ba là, nền kinh tế phát triển theo hớng hoà nhập vào thị trờng thế giới và
khu vực. Cách mạng khoa học - kỹ thuật công nghệ càng phát triển càng làm
cho lực lợng sản xuất phát triển trình độ xã hội hoá cao, dẫn đến quá trình khu
vực hoá, quốc tế hoá nền kinh tế ngày càng mở rộng. Do vậy, phát triển kinh
tế thị trờng không phải chỉ dựa trên cơ sở điều kiện trong nớc mà còn phải tính
đến quan hệ quốc tế, đến xu hớng quốc tế hoá đời sống kinh tế. Nền kinh tế
thị trờng của mỗi quốc gia muốn phát triển không thể không gắn với thị trờng
thế giới. Bất cứ một quốc gia nào, cho dù là nớc phát triển nhất cũng không
thể sản xuất tất cả các loại hàng hoá. Vì vậy mỗi nớc phải tùy theo lợi thế của
mình lựa chọn mặt hàng xuất khẩu có hiệu quả và cạnh tranh đợc trên thị trờng thế giới. Sản xuất hàng hoá của nớc ta sẽ phát triển nếu biết cách thu hút
vốn đầu t nớc ngoài và áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trên thế
giới để khai thác những tiềm năng của nền kinh tế. Muốn vậy, con đờng đúng
đắn là phát triển nền kinh tế mở: hớng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế
nhập khẩu có hiệu quả.
Bốn là, nền kinh tế thị trờng phát triển định hớng XHCN thông qua bản
chất và vai trò của nhà nớc. Sự vận động của nền kinh tế hàng hoá thông qua
cơ chế thị trờng không thể nào giải quyết đợc những vấn đề nh: lạm phát, thất
nghiệp, khủng hoảng, phân hoá bất bình đẳng, ô nhiễm môi trờng, sự bùng nổ
dân số cũng nh các hiện tợng xã hội khác. Những tình trạng và hiện tợng trên

hoá cũng đã có tác dụng ở miền Bắc trong những năm chiến tranh chống Mỹ
cứu nớc, nhng tiếc rằng chúng ta không duy trì đợc, cho đến năm 1990 các
nhà soạn thảo chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 không còn
biết tỷ trọng bộ phận kinh tế hợp tác là bao nhiêu.
Nhận thấy rõ những khiếm khuyết của nền kinh tế kế hoạch tập trung
quan liêu bao cấp, tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, qua thực hiện 5
năm đổi mới Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo định hớng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của
nhà nớc.
Sự tác động của Nhà nớc vào nền kinh tế là một tất yếu của sự phát triển
kinh tế xã hội. Thiếu sự cạn thiệp của Nhà nớc vào nền kinh tế thị trờng tự
do hoạt động, thì sự điều hành kinh tế nớc ta sẽ không có hiệu quả, cũng
giống nh ta muốn vỗ tay mà chỉ dùng một bàn tay.
Nhà nớc sử dụng luật pháp vào các công cụ vĩ mô khác để quản lý kinh
tế làm cho nền kinh tê lành mạnh hơn, giảm bớt những thăng trầm, đột biến
xấu trên con đờng phát triển của nó, khắc phục đợc tình trạng phân hoá bất
bình đẳng, bảo vệ đợc tài nguyên môi trờng của đất nớc.
Nh vậy, sự vận động của nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc là sự vận hành đợc điều tiết bởi sự thống nhất giữa cơ chế
thị trờng - bàn tay vô hình và sự quản lý của Nhà nớc - bàn tay hữu hình.

18


5. Những giải pháp cụ thể.
a. Trớc hết cần đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá các chế độ sở hữu,
tạo điều kiện pháp triển mạnh nền kinh tế hàng hoá ở nớc ta.
Cơ sở tồn tại và phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng là sự tách
biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau, về t liệu sản xuất quy định. Vì
vậy, để phát triển kinh tế thị trờng phải đa dạng hoá các hình thức sở hữu

Muốn vậy ta phải tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, vai trò điều
tiết, quản lý của Nhà nớc pháp quyền XHCN và nhân tố quyết định vận động
thành công KTTBCN ở Việt Nam. Cần xây dựng hệ thống pháp luật rõ ràng,
nhất quán, phù hợp với tập quán quốc tế, đủ sức hẫp dẫn nhng công bằng

19


nghiêm minh. Đa dạng hoá các hình thức TBNN trong cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần.
Thực tế nớc ta hiện nay ở vùng nông thôn và đặc biệt là vùng núi còn tồn
tại khá nặng nền sản xuất tính chất của nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc. Vì
vậy, cần có chính sách thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất hàng hoá
ở các vùng này, đặc biệt phải chú ý tới việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, đẩy
mạnh lu thông hàng hoá với các vùng phát triển trong nớc.
b. Đẩy mạnh quá trình phân công lại lao động xã hội ở nớc ta.
Phân công lao động xã hội là điều kiện của sản xuất hàng hoá, của phát
triển KTTT. Vì vậy, quá trình phát triển KTTT ở nớc ta đòi hỏi phải đẩy mạnh
phân công lại lao động xã hội. Muối khai thác mọi nguồn lực cần phải phát
triển nhiều ngành nghề, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có và
tạo việc làm cho ngời lao động. Phân công lại lao động giữa các ngành theo hớng chuyên môn hoá sản xuất, hợp tác hoá, lao động công nghiệp và dịch vụ
tăng tuyệt đối và tơng đối, lao động nông nghiệp giảm tuyệt đối giữa lao động
và tài nguyên, bảo vệ và phát triển môi trờng sinh thái. Cùng với mở rộng
phân công lao dộng trong nớc tiếp tục mở rộng phân công và hợp tác lao động
quốc tế.
c. Tạo lập và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trờng.
Đây là biểu hiện và tiền đề quan trọng nhất để phát triển KTTT. Thị trờng là sản phẩm tất yếu của sản xuất và lu thông hàng hoá. Sản xuất và lu
thông hàng hoá phát triển thị trờng càng mở rộng. Sản xuất, lu thông hàng hoá
quyết định thị trờng, song thị trờng cũng tác động trở lại, thúc đẩy sản xuất và
lu thông hàng hoá. Để mở rộng thị trờng và tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trờng cần tôn trọng quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp,

dụng lu thông tiền tệ, chính sách phân phối thu nhập và kế hoạch hoá phát
triển kinh tế xã hội. Việc đổi mới này vừa phải theo quy tắc phù hợp với
những phơng thức quản lý của nền kinh tế thị trờng, đồng thời, đảm bảo cho
nền kinh tế phát triển theo định hớng mà Đảng đã chọn.
d. Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới
chính sách tài chính tiền tệ giá cả.
Đây là những nhân tố quan trọng để phát tiển KTTT, để các nhà sản xuất
kinh doanh trong và ngoài nớc yên tâm đầu t. Nhà nớc cần hạn chế can thiệp
trực tiếp vào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, mà tập trung làm tốt
các chức năng tạo môi trờng, hớng dẫn, hỗ trợ những yếu tố cần thiết để doanh
nghiệp phát triển. Nhà nớc cần tăng cờng kiểm soát việc sử dụng mọi nguồn
lực nhằm bảo toàn và phát triển những tài sản quốc gia. Xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ rất quan trọng để quản lý nền
KTTT nhiều thành phần. Nó tạo hành lang pháp lý cho tất cả mọi hoạt động
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong và ngoài nớc. Với hệ thống pháp
luật đồng bộ, các doanh nghiệp chỉ có thể làm giàu trên cơ sở tuân thủ pháp
luật.

g. Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh giỏi.
Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con ngời vào vị trí trung tâm, thống nhất
tăng trởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội. Con ngời lao giờ cũng là
lực lợng sản xuất cơ bản nhất của xã hội. Con ngời vừa là kết quả, vừa là đièu
kiện để sản xuất phát triển. Mỗi cơ chế quản lý có đội ngũ cán bộ quản lý,
kinh doanh tơng ứng. Chúng ta cần đẩy mạnh việc đào tạo và đào tạo lại đội
ngũ cán bộ quản lý kinh tế, kinh doanh cho phù hợp với mục tiêu phát triển
kinh tế trong thời kỳ mới. Cần sử dụng bồi dỡng, đãi ngộ đúng đắn với đội
ngũ cán bộ nhằm nâng cao nghiệp vụ, bản hình quản kinh doanh của họ. Cơ
cấu đỗi ngũ cán bộ cần chú trọng đảm bảo cán bộ quản lý lẫn cán bộ kinh
doanh cả ở phạm vi vĩ mô lẫn vi mô.
21

trờng thuận lợi cho việc nảy sinh và phát triển nhiều loại tiêu cực xã hội. Đã
xuất hiện khuynh hớng làm giàu bằng bất cứ giá nào, kể cả lừa đảo, gây tội ác
vi phạm pháp luật sẵn sàng chà đạp lên lơng tâm và nhân phẩm, lối sống trụy
lạc, chạy theo những thị hiếu thấp hèn, văn hoá không lành mạnh và những hủ
tục mê tín, dị đoan đang phục hồi và phát triển.
Trong thế hệ trẻ có một bộ phận phai nhạt lý tởng, chạy theo lối sống
thực dụng. Một bộ phận không ít cán bộ, đảng viên có chức có quyền, trong
đó có cả những ngời đã từng đóng góp đáng kể cho cách mạng, cũng bị sa ngã
và thoái hoá, biến chất...
Tóm lại, phát triển kinh tế hàng nhiều thành phần trong nền kinh tế thị trờng mở không phải không có những hạn chế và tiêu cực nhng những thành tựu
đạt đợc đặc biệt là động lực phát triển đợc tạo ra là không thể phủ nhận. Hơn
nữa việc phát triển kinh tế thị trờng ở nớc ta không phải là tự phát và sao chép
cứng nhắc mà là phát triển kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN. Có thể nói
đây không phải là mô hình có sẵn trong lịch sử mà đây là một sự khám phá
22


mới, đợc xem nh sự đột phá về mặt lý luận vốn đang cần đợc bổ sung trong
thời kỳ quá độ hiện nay.
Trong bối cảnh đó việc tăng cờng nghiên cứu, tìm tòi những căn cứ khoa
học và thực tiễn làm cơ sở cho việc xác định những thành phần kinh tế và do
đó là việc hoàn thiện chính sách kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta là việc làm
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn hiện nay.
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất trong việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần ở nớc ta là thiếu hụt trong nhân tố con ngời. Nhân tố con ngời
càng quan trọng bao nhiêu thì sự yếu kém trong nhân tố con ngời càng gây
hậu quả tiêu cực bấy nhiêu. Vì vậy phải đặt con ngời vào vị trí trung tâm của
sự phát triển, con ngời là mục tiêu và ngời vào vị trí trung tâm của sự phát
triển, con ngời là mục tiêu và động lực của phát triển. Cần phải coi con ngời là
vốn tức là coi nh một thứ tài nguyên, nhng là một thứ tài nguyên đặc biệt, một


ớng XHCN của chiến lợc phát triển và mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng văn minh.
Để chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nớc ta hiện nay thì phải
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN là
một tất yếu khách quan. Để thực hiện tốt ta phải không ngừng phát huy nhân
tố con ngời đồng thời áp dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học kỹ thuật
để công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc.
Chắc chắn còn nhiều khó khăn và thử thách trên con đờng đi tới mục tiêu
trên. Song những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới dới sự lãnh đạo của
Đảng hơn 10 năm qua cho chúng ta cơ sở để tin rằng mục tiêu đó nhất định sẽ
thực hiện đợc.

24


Tài liệu tham khảo

1/ Giáo trình KTCT tập I +II xuất bản 1999
2/ Nghị quyết VIII
3/ Nghiên cứu - Trao đổi số 9 - (5/98)
4/ Thơng mại số 10 - 99
5/ Thơng mại số 13 - 96
6/ Thơng mại số 16 - 97
7/ Thơng mại số 12 - 98
8/ Nghiên cứu kinh tế số 258 (11 - 99)
9/ Thông tin - Lý luận số 6 - 2000 (268)
10/ Phát triển kinh tế số 16 - 97
11/ Kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng số 2 (27)
12/ Kinh tế & Phát triển số 12 - 96


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status